PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX đã để lại dấu
ấn hết sức đậm nét trong lịch sử phát triển nền văn hoá, văn học của dân tộc. Giai
đoạn này không chỉ xuất nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, những nhà chính trị quân
sự tài ba, những nhà bác học lớn, mà nó còn thể hiện một bước phát triển mới về tư
duy khoa học.
Trong lĩnh vực văn học giai đoạn này đã đạt được những thành tựu quan
trọng với nhiều những tác phẩm lớn như: Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ
ngâm, Cung oán ngâm khúc.. và một số truyện nôm nổi tiếng như Sơ kính tân trang,
Hoa tiên…thể hiện một tư duy văn học mới. Đặc biệt là tác phẩm Hoàng lê nhất
thống chí tuy chưa đạt đến mức độ hoàn chỉnh của một tiểu thuyết chương hồi
nhưng dù sao nó cũng đánh dấu cho sự phát triển của tư duy văn học khác với tư
duy sử học.
Về mặt sử học cũng có rất nhiều biến đổi. Thời kỳ này xuất hiện một cách
rầm rộ các tác phẩm khảo sử, không chỉ về chất lượng mà đặc biệt có những biểu
hiện mới về phương pháp khảo cứu lẫn tư tưởng chi phối công việc biên khảo.
Thêm nữa vấn đề văn sử triết tiếp tục bất phân nhưng đã có những bước tiến (so
với các nhà khảo chứng trước đó.) Lịch triều hiến chương loại chí là một trong
những tác phẩm được Phan Huy Chú biên khảo sưu tầm, có nội dung rộng lớn, bao
quát nhiều mặt trong xã hội, đồng thời nó cũng thể hiện được một bước phát triển
trong tư duy nghiên cứu khoa học.
Những bước tiến về tư duy ấy được thể hiện như thế nào trong tác phẩm? Vì
sao Phan Huy Chú lại có được những bước tiến ấy, Cái gì đã tác động đến ông?
Đặc biệt với tư cách là nhà sử học nhà sưu tầm, biên khảo ông đã có những đóng
1
góp như thế nào đối với nền văn học Việt Nam? Nghiên cứu đề tài này không chỉ
giúp cho chúng ta tìm hiểu được một giai đoạn phát triển mới về tư duy khoa học
mà còn cho chúng ta thấy được những giá trị văn học của dân tộc mà nhà trước
thuật Phan Huy Chú đã làm được. Hơn nữa còn cung cấp cho người đọc một vốn tư
liệu vô cùng phong phú, nhiều mặt đặc biệt là đối với những người nghiên cứu văn
Nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Phan Huy Chú, năm 1983 sở văn hoá
thông tin Hà Sơn Bình đã xuất bản cuốn Phan Huy Chú và dòng văn Phan Huy. Đây
là cuốn sách tập chung những bài viết của các giáo sư, các nhà nghiên cứu, của các
cơ quan khoa học về nhiều vấn đề khác nhau xoay quanh con người, gia đình dòng
họ và những giá trị của tác phẩm. Cuốn sách tập hợp những bài viết, những bài
tham luận ở nhiều mặt khác nhau do vậy nó chưa có tính thống nhất, đi sâu vào một
vấn đề cụ thể.
Vũ Tiến Quỳnh trong tác phẩm phê bình và bình luận văn học của các nhà
văn nhà nghiên cứu việt nam (Nhà xuất bản văn nghệ – TP. Hồ Chí Minh.1989) đã
có bài viết về Phan Huy Chú, trong bài này tác giả đã khẳng định được giá trị của
văn tịch chí đồng thời cũng đánh giá được những cái ông làm được so với người đi
trước.
Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt nam văn học sử yếu đã có những nhận
xét chung đánh giá về cuốn lịch triều hiến chương loại chí, ngoài ra ông còn giới
thiệu những tác phẩm của Phan Huy Chú và trích lời tựa của lịch triều hiến chương
loại chí . Nhìn chung thì ông đã khái quát qua những nét chính cơ bản về tác phẩm
và tác giả song nó mang tính sơ luợc chứ chưa đi sâu vào vấn đề cụ thể.
Trong cuốn Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học (nhà xuất bản văn
hoá thông tin năm 2002) Phương Lựu đã trích dẫn những quan niệm viết văn, chép
3
sử của nhiều tác gia từ trung đại đến hiện đại trong đó có trích dẫn những quan
niệm về văn cũng như chép sử của Phan Huy Chú.
Cuốn Văn học việt nam dưới góc nhìn văn hoá của Trần Nho Thìn (xuất bản
năm 2003) có bài viết: Một vài vấn đề đặt ra xung quanh việc phân loại thư tịch của
Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú. Tác giả đã phân tích đánh giá việc phân loại thư
tịch của hai tác giả trên để đưa ra nhận xét về quan niệm văn của thời xưa cũng như
tư duy phân loại. Bài viết chủ yếu nghiêng về nghiên cứu thể loại văn học nhiều
hơn .
Nhìn chung còn rất nhiều những cuốn sách, những bài tham luận, nghiên cứu
viết về những vấn đề khác nhau có liên quan đến tác giả tác phẩm hay nghiên cứu
XVIII nửa đầu thế kỷ XIX.
Chương II. Bộ phận sưu tầm biên khảo văn học trong lịch triều hiến chương
loại chí
Chương III. Sáng tác thơ văn của Phan Huy Chú
5
CHƯƠNG I. TRƯỚC TÁC CỦA PHAN HUY CHÚ TRONG ĐỜI
SỐNG VĂN HÓA NỬA CUỐI THẾ KỶ XVIII NỬA ĐẦU THẾ KỶ
XIX.
I.1.1 Phan Huy Chú và ảnh hưởng của truyền thống gia đình đến sự
nghiệp trước tác của ông.
1.1.Vài nét về tác giả.
Khi nói đến giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu 19 đến dòng họ Phan chúng ta
không thể không nói đến một người đã làm dạng danh dòng họ của mình đồng thời
cũng làm dạng danh cho nền văn hóa dân tộc, đó là Phan Huy Chú. Ông sinh vào
mùa đông năm Nhâm Dần 1782, lúc đầu tên là Hạo sau đổi thành Chú tự là Lâm
Khanh hiệu Mai Phong. Ông có nguồn gốc ở Nghệ An, sau di cư đến Sài Sơn, còn
gọi là làng thày thuộc phủ Quốc Oai, Hà Tây nay thuộc Hà Nội.
Phan Huy Chú sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống khoa cử,
cho nên ông có đủ điều kiện để học tập và nhờ vào sự giáo dục rèn luyện nghiêm
túc của gia đình đặc biệt là sớm được tắm mình trong kho tàng sách vở mà gia đình
bao đời lưu giữ được nên ngay từ nhỏ đã nổi tiếng khắp vùng Quốc Oai, Sơn Tây là
người thông minh học giỏi. Cha ông đã có những vần thơ miêu tả nét thanh tú của
ông:
“Mặt đẹp mày thanh khác trẻ thường,
Phúc ấm đúc nên hòn ngọc báu
Giống dòng bồi mãi nếp thư hương”
Là một người tài năng, giỏi dang, nhưng hai lần đi thi ông chỉ đỗ tú tài, hơn
nữa ông là người làng Thầy nên người ta gọi ông là kép Thầy. Ở trong lịch sử triều
đại phong kiến thì thường những người đỗ cao mới được ra làm quan nhưng với
hiện tượng Phan Huy Chú thì khác .Tuy không đỗ cao nhưng thực học thực tài của
7
đây, rất có thể đây chỉ là những nhận định trên cơ sở những yếu tố xã hội . Trong
xã hội phong kiến thì thi cử đã trở thành phương thức, cách thức để hay nói đúng
hơn là một tiêu chuẩn cơ bản để xác định tài năng và con đường quan lại của các
nhà nho. Nhưng trên thực tế thì thi cử không phải là phương thức xác định một
cách chuẩn xác nhất và đầy đủ nhất tài năng thực thụ của họ, ở đây chúng ta không
kể đến những trường hợp mua quan bán tước. Trong Kiến văn tiểu lục Lê Quý Đôn
có viết: “ Đặt ra khoa cử tuy có thi từ phú sách luận …tóm lại chỉ là dùng lời nói
xuông ứng đối lại thực ra thì đến khi thi thố ra việc làm vẫn không phải những điều
ấy, vả lại căn cứ vào văn chương mấy bài thi nơi trường ốc… làm gì mà có thể xét
hết nhân tài” [ trang 93 Kiến văn tiểu lục]. Như vậy có nghĩa là văn chương khoa
cử “ không phải là cái có thể phản ánh được trung thực những năng lực học thuật,
năng lực kinh bang tế thế và hoạt động thực tiễn của các nhà nho “. Mà Phan Huy
Chú là một trong những trường như vậy.
Mặt khác như chúng ta đã biết Phan Huy Chú sinh ra trong thời kỳ đầy biến
động của lịch sử dân tộc. Và chính sự biến đổi này đã ảnh hưởng sâu sắc đến gia
đình Phan Huy Chú. Như chúng ta đã biết, ông nội của Phan Huy Chú sau khi làm
quan cho Lê Chiêu Thống đã cáo quan về quê thì cha là Phan Huy Ích và chú là
Phan Huy Sảng lại theo Tây Sơn và phục vụ cho chính quyền Tây Sơn. Trong khi
đó 2 chú là Phan Huy Thự và Phan Huy Tân vẫn giữa thái độ phò Lê Chống Tây
Sơn. Như vậy chúng ta có thể thấy ngay trong một gia đình trí thức nhưng cũng đã
có những tư tưởng khác nhau, những xu hướng khác nhau. Còn Phan Huy Chú lớn
lên trong bối cảnh không mấy thuận lợi đó là lúc triều Tây Sơn suy sụp, triều
Nguyễn lên thay đang tìm mọi cách để trả thù chính quyền cũ và những người từng
tham gia ủng hộ chính quyền ấy, cha ông cùng người bạn thân thiết của mình ( Ngô
Thì Nhậm - bác của Phan Huy Chú )đã bị đánh đòn ở Văn miếu. Giá như không
có sự thay đổi này chắc hẳn Phan Huy Chú sẽ thuận lợi hơn trong con đường tiến
thân của mình. Có lẽ đó chỉ là một trong những lý do mà triều Nguyễn đã không
trọng dụng ông. Ngoài ra chúng ta có thể tìm hiểu thêm một khía cạnh khác nữa
8
và trong thời kỳ ông sống việc biên soạn sách vở còn nhiều sai sót và nhầm lẫn,
không được rõ ràng cho nên việc chấn chỉnh lại cả người làm sử cho đến tư liệu.
Ông đã nêu lên một thực tế rằng: Duy điển lễ của các triều từ trước chưa có sách
sẳn. Trong quốc sử biên chép công việc hàng năm về điển lễ còn sơ lược nhiều.
Huống chi từ năm Bính Ngọ (1786) có việc binh đao đến giờ sách cũ tan nát, chỉ
còn được một ít của các cố gia thế tộc cất dấu đi. Các sách nát, vở cũ còn lại biên
chép lẫn lộn sai lẫn chưa có đầu mối. Có bàn về điển cố các triều thì lờ mờ không
bằng cứ vào đâu. Vậy thì chép lấy những điều mắt thấy tai nghe chia ra từng loại để
làm một quyển sách có khuôn phép, há chẳng phải là nhiệm vụ của người học giả
ư?” Như vậy có nghĩa là ông cũng tự coi mình là người phải có trách nhiệm với
nền văn sử học nước nhà .Và chính tư tưởng, cách nhìn mới này đã ngấm trong tư
tưởng của ông, để khi đi vào thực tế của quá trình trước tác, ông đã vận dụng một
cách tối đa tài năng, trí tuệ và sức lực của mình để đọc, lựa chọn, sắp xếp biên soạn
tư liệu từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau để tạo nên một tác phẩm mang tên ông, và
cũng được coi là bộ bách khoa của dân tộc đó là tác phẩm lịch triều hiến chương
loại chí.
1.2 Gia đình và dòng họ
Có thể nói rằng để có được những thành công mà Phan Huy Chú thì gia đình
và dòng họ là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc sống, tài nămg của ông. Sinh ra
và lớn lên trong một gia đình mà cả bên nội, bên ngoại đều có truyền thống khoa
bảng và những người nổi tiếng ở góc độ di truyền học chúng ta có thể hiểu rằng
ông là sự hun đúc, kết tinh những tinh túy của hai dòng máu, tạo nên một Phan Huy
Chú tài năng hơn người.
10
Dòng họ Phan theo Phan gia công phả có nguồn gốc từ Gia Thiện Thạch
Châu, huyện Thạch Hà, Tỉnh Hà Tĩnh. Sau phân nhánh chuyển ra Thụy Khê Sài
Sơn mà sự di chuyển này có mối liên hệ với hai người cô ruột của Phan Huy Cận
( ông nội Phan Huy Chú). Hai bà là Phan Thị Nẫm và Phan Thị Lĩnh là cung tần
của các chúa Trịnh. Bà Nẫm từng xuất tiền ra sửa chữa chùa Hoa Phát ở xã Sài Khê
(Sài Sơn) còn bà Lĩnh được Khang Vương( Trịnh Căn ) rất sủng ái và bà từng theo
coi là nhà sử học kiêm toán học của thế kỷ thứ 18. Ở đây chúng ta có thể nói thêm
rằng ông nội, cha và bác cùng đỗ tiến sĩ và ra làm quan dưới thời vua Lê – chúa
Trịnh “ tam phụ tử huynh đệ đồng triều “ . Ngoài ra chúng ta còn thấy một số tên
tuổi như Phan Huy Sảng, Phan Huy Thự …đều theo con đường khoa cử, có người
thì ra làm quan có người thì dạy học, làm thơ văn… đa số những người ra làm
quan, họ đều trở thành những sứ thần mang trọng trách lớn làm dạng danh cho dân
tộc.
Không chỉ bên nội mới có truyền thống khoa cử mà hơn nữa Phan Huy chú
cũng được thừa hưởng những yếu tố cơ bản bên ngoại. Gia đình bên ngoại cũng là
một trong những gia đình dòng dõi, nổi danh, nhiều người làm quan và đổ đạt. Mẹ
ông là bà Ngô Thị Thục, con gái của Ngô Thì Sĩ (ông ngoại ), bác là Ngô Thì
Nhậm, và cậu là Ngô Thì Vị. Có lẽ khi nghe thấy những tên tuổi của dòng họ Ngô
này ắt hẳn chúng ta không thể không tự hào thay cho Phan Huy Chú. Họ không chỉ
là những nhà ngoại giao, nhà chính trị,quân sự tài ba mà còn là những nhà thơ, nhà
văn nổi tiếng. Họ đã có rất nhiều đóng góp cho chính quyền đương thời và văn hóa
nước nhà. Chúng ta có thể ngầm hiểu với nhau rằng sự kết tinh của hai dòng họ đã
làm nên một “thiên tài” Phan Huy Chú, một nhà bác học lỗi lạc với tác phẩm lịch
triều hiến chương loại chí được coi bộ bách khoa toàn thư của dân tộc.
Trong khuôn khổ gia tộc Phan Huy Chú thực sự đã được thừa hưởng tất cả
những gì tốt đẹp nhất của gia đình và dòng họ mình. Có lẽ ít có người nào lại có
12
được thuận lợi như ông khi mà cả gia đình có đến chín lần đổ đàu ở các kì thi. Có
một bài thơ với nhan đề Thứ nam Thực sinh hi phú ( tức là bài phú mừng sinh con
trai thứ là Thực) trong Dụ am ngâm lục Phan Huy Ích có viết rằng:
Văn phái dư lan cụ cửu nguyên
( Dòng văn để lại đủ cả cửu nguyên)
Với lời chú như sau “ phụ thân tôi thi hương , thi hội hai lần đỗ đầu
( lưỡng nguyên ) Bố vợ tôi (Ngô Thì Sĩ ) thi hội, thi đình hai lần đỗ đầu ( lưỡng
nguyên) Tôi thi hương, thi hội, thi ứng chế ba lần đều đỗ đầu ( tam nguyên). Bác Hy
Doãn ( Ngô Thì Nhậm) và chú Nhã Hiên ( Phan Huy Ôn) đều đỗ đầu thi hương. Tất
số…Do vậy mà chính trong mỗi tác giả cũng đã có sự kết hợp, đan xe về mặt tư
duy. Tuy nhiên không phải thời kỳ nào sự đan xen ấy cũng tồn tại đậm nét, mà ở
từng giai đoạn cụ thể, ở mỗi người nó có sự ảnh hưởng khác nhau.
Khi mà giai đoạn cuối thế kỷ thứ 18 đầu 19 các lĩnh vực như triết học, sử
học chính trị học, kinh tế học đều từng bước phát triển theo hướng riêng thì đây lại
là một trong những điều kiện quan trọng để khối văn sử triết đi vào một giai đoạn
mới, hơn nữa nó cũng có sự tác động lớn tới văn học giai đoạn này, mà đặc biệt là
chính những người sáng tác trong các lĩnh vực ấy cũng có những bước chuyển biến
về tư duy. Về mặt triết học thì có thể thấy rằng trước đây văn học là nơi để chuyên
chở những tư tưởng triết học. Nhưng thời kì này văn học không còn là nơi phù hợp
để các nhà triết học thể hiện quan điểm của mình, các nhà triết học đã tìm ra cho
mình một lối đi riêng, họ không còn bày tỏ tư tưởng mang màu sắc triết học trong
14
thơ ca như trước nữa. Văn chương thơ phú với niêm luật quy định chặt chẽ đã hạn
chế ý tưởng triết học của tư duy lý tính cao, đòi hỏi lập luận, biện bác. Do vậy, triết
học thực sự đã dần dần tách ra khỏi văn học tìm đến với phương thức thể hiện trực
tiếp hơn của nó. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta đánh đồng hay không
khẳng định sự tồn tại của yếu tố triết học trong thơ văn, hay nói đúng hơn là thơ
triết lý không còn tồn tại, mà ngược lại trên thực tế nó vẫn còn tồn tại rất lâu, tuy
nhiên lúc này nó đã có sự khác trước. Sự khác biệt này được thể hiện trong duy
sáng tác của các nhà văn nhà thơ. Và ít nhiều ảnh hưởng đến quan niệm truyền
thống về thơ văn của các học giả trong giai đoạn này.
Trong lĩnh vực sử học cũng vậy, nó cũng có những bước chuyển biến mới.
Như chúng ta đã biết các tác phẩm sử học của nước ta đã có từ rất sớm thể hiện tư
duy biên soạn sử học ở nước ta nhưng dường như ở trong nó có sự chứa đựng
phương thức tư duy nguyên hợp giữa văn sử triết bất phân như thơ vịnh sử, bình sử
và các tác phẩm sử biên niên hay kỷ truyện như Đại việt sử ký, Đại việt sử ký toàn
thư, Khâm định việt sử thông giám cương mục, Đại nam thực lục...Nhưng cùng với
thời gian và những bước tiến của xã hội các nhà biên soạn lịch sử đã nhận ra rằng
họ cần phải khảo sử với tư cách là lĩnh vực khoa học, mức độ duy lý cao, trong đó
chương với các môn loại khác. Đến Phan Huy Chú thì sự nhận thức trong việc tách
biệt này rõ nét hơn, ông đã có những quan niệm riêng khi khi viết lời tựa cho tác
phẩm Quế đường thi tập của Lê Quý Đôn.[ phần này chúng tôi xin được trình bày
kỹ ở phần sau]
Có thể nói trong giai đoạn cuối thể kỷ 18 đầu 19 cùng với sự phát triển của
các lĩnh vực khác nhau theo những hướng đi riêng thì văn học đã có những thành
tựu nổi bật đặc biệt là trong tư duy đã có những phát triển mới, văn học phần nào
được trở về với vị trí độc lập của nó, tuy chưa thực sự tách biệt như quan niệm của
chúng ta hiện nay nhưng về cơ bản nó cũng đã có những yếu tố riêng biệt mang
16
tính đặc trưng riêng về thể loại của mình. Văn học trung đại gồm hai loại hình
chính đó là văn xuôi và văn vần nhưng yếu tố văn sử bất phân thể hiện rõ nét ở văn
xuôi hơn. Bởi vì văn vần mang yếu tố trữ tình nên phần nào hạn chế được sự xâm
lấn của sử và triết. Nói như vậy không có nghĩa là không có yếu tố triết và sử. Còn
trong văn xôi thì do yếu tố của thể loại nên nó dể có sự đan xen của triết và sử.
Nhưng cũng chính sự đan xen ấy lại là vấn đề cơ bản để chúng ta tìm hiểu phân
tích và mổ xẻ tác phẩm để tìm ra những mặt khác nhau. Xét cụ thể một số tác
phẩm trong giai đoạn này chúng ta sẽ thấy rõ hơn.
Với tác phẩm Hoàng lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái trên cơ bản nó
vẫn là một tác phẩm có thể nói là nằm trong khối văn - sử bất phân vì chính bản
thân nó có yếu tố của văn học lại vừa có những yếu tố sử học. Ngay trong ý tưởng
sáng tác phẩm này, chính tác giả đã có ý định muốn viết giống như tiểu thuyết
chương hồi. Trước Hoàng Lê thống nhất chí ở việt Nam đã có một số tác phẩm xuôi
có giá trị như Việt điện u linh, Lĩnh nam trích quái là những tác phẩm sưu tập soạn
thảo mang dấu vết của thần thoại, cổ tích, truyền thuyết nhưng đằng sau nó là
những vấn đề của cuộc sống đương thời. Tiếp đến là tác phẩm như thượng kinh ký
sự của Lê hữu Trác hay Vũ Trung Tùy bút của Phạm Đình Hổ, tang thương ngẫu
lục của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án là những tiếng nói tố cáo, phản án về xã hội.
Đến truyền kỳ mạn lục được coi là “ thiên cổ kỳ bút’có thể nói tác phẩm này có sức
mạnh làm lay chuyển nền móng đạo đức cả một thời đại. Tuy nhiên phải đến
trọng đánh dấu sự phân biệt giữa tư duy sử học và tư duy văn học trong một giai
đoạn lịch sử.
Hay như Truyện Kiều của Nguyễn Du là đỉnh cao của văn học giai đoạn này,
tác phẩm thuộc về thể loại truyện thơ với hơn 3000 câu thơ Nguyễn Du đã miêu tả
được đầy đủ nhất toàn vẹn nhất số phận của nhân vật chính Thúy Kiều trong suốt
15 năm lưu lạc nơi xứ người với bao nhiêu khổ ải, đọa đầy. Và bằng bút pháp miêu
tả cảnh sắc thiên nhiên cũng như miêu tả tâm lý nhân vật, cùng ngôn từ có thần, tác
18
giả đã làm nên một kiệt tác văn học của thế kỷ thứ 19. Mặc dù trong truyện Kiều
không thiếu những câu thơ mang tính triết lý nhưng đấy chỉ là cái lý cho Nguyễn
Du thể hiện một cách trọn vẹn hơn cho tư tưởng của mình. Ngoài ra chúng ta còn
thấy nổi lên rất nhiều những tác phẩm văn học khác cũng gặt hái được nhiều thành
công như Chinh Phụ ngâm, Cung oán ngâm, và đặc biệt là truyện thơ nôm nổi tiếng
như Hoa tiên, Sơ kính tân trang… Tất cả chúng đã góp phần tạo nên một diện mạo
văn học mới trong giai đoạn này.
Nói tóm lại dưới sự ảnh hưởng sâu sắc của gia đình và sự tác động mạnh mẽ
của đời sống văn hóa xã hội đương thời, Phan Huy chú đã chịu ảnh hưởng sâu sắc
những tư tưởng mới không chỉ về mặt chính trị mà cả về văn hóa , cùng với đó là
sự tác động không nhỏ của gia đình đã giúp ông ngày một trưởng thành và gặt hái
được thành công trên bước đường nghệ thuật của mình. Con đường dù có hơi
chông gai và thời gian kéo dài nhưng bằng sự kiên trì, lòng miệt mài đã khiến ông
có một hướng đi đúng. Có phải chăng đó là sự bù đắp cho sự kém may mắn trên
con đường quan lộ của mình? Nhưng phải nói rằng hơn tất cả đó là sự tiếp nhận
một cách linh hoạt và đầy sáng tạo trong tư duy của Phan Huy Chú trước những
biến đổi, những xu hướng và trào lưu mới của xã hội, cùng với một trí tuệ và tầm
nhìn xa rộng đã đưa tư tưởng của ông vượt lên thời đại mà ông đang sống. Thực tế
đã chứng minh, với tác phẩm lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú thực sự
đã trở thành một nhà khoa học nổi tíếng của đất Việt và hơn thế nữa tiếng tăm của
ông không dừng lại trong nước mà còn được những nhà nghiên cứu nước ngoài biết
đến. Với tác phẩm nổi tiếng này đã đưa tên tuổi của ông sống mãi cùng thời gian.
dụng thể loại chí để soạn ra tác phẩm nổi tiếng lịch triều hiến chương loại chí, được
coi là bộ bách khoa toàn thư của dân tộc. Tuy các nhà sử học của chúng ta có sử
dụng những thể loại có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng điều khác biệt là những
20
nhà soạn sử của chúng ta không bắt trước nguyên vẹn, mà vượt lên là họ đã kế thừa
và có sự sáng tạo cao, không dập khuôn theo những gì đã có, mà hoàn toàn là dựa
trên đặc điểm của dân tộc mình để biên soạn sử của dân tộc mình. Đây chính là ý
thức và tư tưởng của hầu hết các nhà nho chân chính. Trần Văn Giáp có đánh giá
và nhận xét về sự biên soạn tác phẩm “ Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan
Huy Chú rằng : “ Tác giả sách này tuy chép sách theo lối chí của Trung quốc
nhưng không dập theo đúng hẳn một bộ sử một triều đại nào. Nó có sáng tạo tính
của nó, theo đúng hoàn cảnh và điều kiện riêng của sử việt nam.” [Lời giới thiệu,
Vân đài loại ngữ, tập 1, bản dịch, NXB văn hóa, Hà Nội 1962, trang 41.]
Như vậy có thể nói rằng Chí là một thể loại có xuất phát từ Trung Quốc
nhưng được các nhà soạn sử Việt Nam sử dụng nhờ những ưu điểm của nó, đó là
tính khái quát cao, chứa được nội dung xã hội rộng lớn, nhiều mặt. Nên đã được
không ít các nhà biên soạn, khảo cứu sử dụng thể loại này trong công việc soạn
thuật, ghi chép sử của mình. Phan Huy Chú cũng như một số nhà biên chép lịch sử
cũng như trước thuật trước đó đã thấy được những mặt ưu điểm này trong việc biên
soạn trước thuật của mình nên họ đã không ngần ngại khi coi thể loại này là một
“phương thức” để “trở” tất cả những nội dung rộng lớn mà họ muốn trình bày. Nội
dung mang tính chất là bộ bách khoa toàn thư của dân tộc. Trên thực tế có nhiều
thể loại và dạng thức khác nhau để chở nội dung rộng lớn nhưng nhìn chung thì thể
chí vẫn là có ưu thế hơn. Chính vì thế mà Phan Huy Chú đã lựa chọn thể loại này.
3.2 Kết cấu nội dung của lịch triều hiến chương loại chí.
Lịch triều hiến chương loại chí là bộ sách sử Việt Nam, đây là công trình
nghiên cứu xuất sắc của nhà sử học Phan Huy Chú, nó có tính chất tổng hợp mọi
mặt của xã hội nước ta từ thượng cổ đến hết đời Lê. Nó được coi là bộ bách khoa
toàn thư của dân tộc, tính bách khoa ấy không chỉ được thể hiện qua thể loại mà
còn được thể thể hiện qua kết cấu và nội dung của tác phẩm.
lễ nghi đón tiếp sứ thần các nước.
Đó là 10 chí theo sự phân loại và sắp xếp của Phan Huy Chú với 10 loại cụ
thể. Theo ông cách sắp xếp thứ tự như vậy đều có dụng ý của mình, khi đưa Dư địa
chí lên đầu là có mục đích muốn khẳng định ý thức tự lập tự cường , lãnh thổ chủ
quyền của dân tộc trong lời dẫn các chí tác giả có nói:” Từ khi có trời đất thì có núi
sông. Đất nào thuộc phận sao nào đều đã chia sẵn, bờ cõi mỗi nước đều đã phân
biệt. Nước nào có địa phận của nước ấy”.Với những lời lẽ như trên, Phan Huy Chú
khẳng đã định rằng nước Việt Nam có quốc thổ rõ ràng, có ranh giới rành rọt,
không một nước nào có thể phủ nhận quyền độc lập tự chủ ấy. Với Dư địa chí ông
đã ghi chép tương đối đầy đủ về vị trí, duyên cách các trấn, các phủ huyện, ghi
chép núi sông, ghi chép về việc mở mang đất đai, những giống lúa mới, những sản
vật vv… Đặc biệt là ông đã mô tả chi tiết về quần đảo Hoàng Sa một bộ phận
khăng khít của lãnh thổ Việt Nam, như vậy đồng nghĩa với việc ông khẳng định nó
thuộc về chủ quyền của Việt Nam. Điều đó như khẳng định thêm tinh thần yêu
nước , tinh thần vì dân tộc rất cao của Phan Huy Chú. Nhân tài là một trong những
yếu tố quan trọng đối với một quốc gia cho nên tiếp theo Phan Huy Chú đã xếp
Nhân vật chí chí này được phân bố trong 7 quyển và chia làm 5 mục lớn: Dòng
tiếp nối các vua chúa; Bậc tể phụ hiền đức có công lớn; Tướng có tiếng và tài giỏi;
Nhà nho có đức nghiệp; Bề tôi tiết nghĩa. Theo Phan Huy Chú thì: “Có nước phải
lấy người làm gốc.” Trong phần này tác giả sắp xếp theo thứ tự, trước tiên giới
thiệu các nhân vật như vua chúa những dòng họ lần lượt cai trị từ thượng cổ cho
đến hết triều Lê tiếp đến chép đến bề tôi tài giỏi , có đức độ, có sự nghiệp đáng nêu
gương cho đời sau. Trong những phần cụ thể ông có những lời xét và ghi chú rất cụ
thể kỹ lưỡng. Những nhân vật có tài văn học ông cũng chép lại những tác phẩm của
23
họ, điều đó cho thấy ông là người có vốn kiến thức sâu rộng, biết kết hợp nhiều
nguồn tư liệu khác nhau để tạo nên một nhân vật chí phong phú, đồng thời cũng thể
hiện được những ưu điểm trong việc sử dụng tư liệu của ông. Khi chép về tiểu
chuyện các bậc vua chúa, các danh nhân, những người có công lao xây dựng các
triều đại, những tướng lĩnh có danh, những trí thức có đức nghiệp, tác giả còn thể
chấm bài thi canh phòng trường thi… tất cả đều có những “luật” dành cho những
người vi phạm. Hơn nữa ông còn cung cấp cho chúng ta một bản liệt kê đầy đủ các
khoa thi với với số lượng và danh sách những người đỗ đại khoa từ đầu cho đến
cuối Cảnh Hưng. Nói tóm lại nó là một tài liệu quí báu, là công cụ hữu ích cho
những nhà nghiên cứu cũng như những người có quan tâm đến nền giáo dục nước
nhà. Bang giao chí cũng là một trong những chí được coi là quan trọng ngay từ
những dòng đầu của chí này ông khẳng định: “trong việc trị nước, hòa hiếu với
nước láng riềng là việc lớn, mà nhữgn khi ứng thù lại rất quan hệ, không thể xem
thường, cho nên nghĩa tu hiếu chép ở kinh xuân thu đạo giao lânchép ở hiền truyện,
chính là đem lòng tin thực mà kết giao, người có quyền trị nước phải nên cẩn thận.
Nước Việt ta có cả cõi đất phía nam mà thông hiếu với Trung hoa, tuy nuôi dân
dựng nước, có quy mô riêng, nhưng ở trong thì xưng đế, mà đối ngoài thì xưng
vương, vẫn chịu phong hiệu, xét lý thế thực phải như thế. Cho nên lễ sách phong, lễ
cống sính, việc bang giao các đời đều xem là quan trọng…” chính vì thế mà Phan
Huy Chú tìm khắp điển cũ, chép theo sách tàn chia làm 4 mục đó là điển sách
phong; lễ cống sính; nghi thức tiếp đãi; và việc biên cương. Ở mỗi phần ông đều
chép cẩn thận theo từng đời , đây là một trong những tài liệu quan trọng đối với
người nghiên cứu cũng như công việc liên quan đến ngoại giao. Và một số chí như
hình luật chí, quốc dụng chí…Nói chung đều được Phan Huy Chú chép rất cẩn thận
và tỉ mỉ, đều dựa vào những tư liệu còn lại từ các đời trước.
Như ở trên đã trình bày thì mười chí trong công trình nghiên cứu này là mười
lĩnh vực khoa học riêng, nếu chia theo từng ngành khoa học cụ thể trong tác phẩm
25