Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đối với tổng công ty 90 do ủy ban nhân dân thành phố hồ chí minh quản lý - Pdf 31

B

TR

GIÁO D C VÀ ÀO T O

NG

I H C KINH T TP.HCM

TR N QU C THÀNH

LU N V N TH C S KINH T

TP. H Chí Minh – N m 2001


1

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TỔNG CÔNG TY,
TẬP ĐOÀN KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
1.1. KHÁI QUÁT VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.1.1. Khái niệm về tập đoàn kinh tế.
Tập đoàn kinh tế là một pháp nhân bao gồm nhiều công ty khác nhau có mối
quan hệ sở hữu và khế ước với nhau, hoạt động trong cùng một ngành nghề hay
nhiều ngành khác nhau, trên phạm vi một nước hoặc nhiều nước. Tập đoàn kinh tế
thường do công ty mẹ lãnh đạo và các công ty con chòu sự thanh kiểm soát của công
ty mẹ thông qua quyền biểu quyết do sở hữu một tỷ lệ khống chế cổ phần trong tổng
số cổ phần đang lưu hành của công ty con.
Thuật ngữ tiếng Anh trong giao dòch và báo chí dùng để hiểu và diễn tả tập

♦ Sáp nhập:
Là quá trình gộp lại với nhau để tiện việc quản lý, là một hình thức giao
dòch trong đó một doanh nghiệp nhận được toàn bộ tài sản và các khoản nợ của một
doanh nghiệp khác với một giá phải trả nhất đònh. Doanh nghiệp bán không còn tồn
tại với tư cách pháp nhân riêng rẽ mà sử dụng pháp nhân của doanh nghiệp mua để
hoạt động. Doanh nghiệp mua phải trả cho chủ sở hữu doanh nghiệp bán giá mua
bằng tiền mặt hoặc chứng khoán của chính doanh nghiệp mua.
Hình thức này thường xảy ra giữa bên bán là doanh nghiệp nhỏ hơn, yếu
thế hơn trong cạnh tranh thò trường và việc sáp nhập vào doanh nghiệp mua sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho cả đôi bên.
Công ty
A
Công ty A hoặc B

Công ty
B
Hình 1-1: Mô hình sáp nhập
♦ Hợp nhất:
Là sự sáp nhập hai hay nhiều doanh nghiệp có sức mạnh tương đương
nhau để hình thành một doanh nghiệp mới nhằm tăng khả năng tạo ra lợi nhuận do
giảm được chi phí quản lý, tăng hiệu năng trong sản xuất nhờ lợi thế sản xuất quy
mô lớn, xóa bỏ cạnh tranh đối đầu nhau để cùng đa dạng hóa sản phẩm cạnh tranh
với đối thủ còn lại. Theo cách này, các doanh nghiệp hợp nhất không còn tồn tại với
tư cách pháp nhân của nó nữa mà doanh nghiệp mới thành lập sẽ hoạt động với tư
cách pháp nhân hoàn toàn mới để thực hiện những hoạt động của các doanh nghiệp
hợp nhất.
Công ty
A
Công ty C
Công ty

bán trực tiếp từ doanh nghiệp bán. Với hình thức này, doanh nghiệp mua không cần
thiết phải đánh giá các khoản nợ của doanh nghiệp bán, vì họ không có trách nhiệm
gì đối với các khoản nợ ấy. Nhiều trường hợp, do không còn tài sản để hoạt dộng,
doanh nghiệp bán phải tự giải tán, sau khi đã phân phối số tiền (hoặc số cổ phiếu)
nhận được từ doanh nghiệp mua cho cổ đông của nó.
1.1.2.2. Phân loại dựa vào phương thức liên kết.
♦ Liên kết theo hàng dọc:
Là trường hợp các doanh nghiệp mua lại các doanh nghiệp khác trong cùng
một lónh vực hoạt động, nhưng sản xuất ra sản phẩm ở các công đoạn khác nhau.
Quan hệ giữa các thành viên chủ yếu là theo quy trình công nghệ và cung ứng sản
phẩm cho nhau. Sự liên kết dọc thường dẫn đến phát triển ngành nghề theo chiều
sâu. Liên kết dọc còn tạo điều kiện để các tập đoàn củng cố vò thế cạnh tranh của
hoạt động chính, quản trò chất lượng tốt hơn, bảo vệ được quyền sở hữu công nghiệp
hữu hiệu hơn.


4

Ví dụ: sự kết hợp của các công ty khai thác dầu, lọc dầu và phân phối sản
phẩm trong ngành công nghiệp dầu mỏ. Hay việc hợp nhất hai tập đoàn khổng lồ
trong lónh vực truyền thông của Mỹ là công ty America Online – công ty dòch vụ
mạng và Time Warner – Công ty báo chí truyền thông. Trong đó, America Online
chi 162 tỷ USD để mua lại Time Warner. Việc hợp nhất cho phép mỗi loại hình sẽ
tận dụng được mũi nhọn và thò phần của loại hình kia để đưa đến kết quả tăng trưởng
lợi nhuận nhờ vào khách hàng rộng khắp, nội dung thông tin phong phú, hấp dẫn
cộng với các phương thức truyền tải thông tin cực tốt.
♦ Liên kết theo hàng ngang:
Là sự kết hợp của những doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành
sản xuất kinh doanh và thường xảy ra trong những ngành có mức cạnh tranh cao và
xu hướng chung là những doanh nghiệp có ưu thế sẽ nắm vai trò chủ đạo. Các nhà



5

sản xuất phát triển, sự hoạt động sản xuất phối hợp đem lại hiệu ứng cộng hưởng
khiến hiệu quả sản xuất toàn bộ lớn hơn hiệu quả riêng rẽ từng công ty đem lại.
Điều này đúng với liên kết theo hàng ngang, hàng dọc và cả liên kết ngành:
• Trong những ngành kinh doanh mà thò trường sản phẩm do các doanh
nghiệp sản xuất ra đã gần như được thỏa mãn thì việc mua lại hay sáp nhập theo
hàng ngang sẽ làm cho thế và lực của công ty sau khi hợp nhất mạnh hơn trong cạnh
tranh. Sức mạnh được tạo ra bởi sự khống chế giá cả thò trường và sự hợp lý hóa sản
lượng cung ứng. Sự kết hợp này tạo nên những bước phát triển mạnh mẽ về kỹ thuật
và phương thức phục vụ khách hàng, đồng thời mang lại cho các công ty nhiều lợi ích
nhờ tiết kiệm chi phí nghiên cứu, phát triển và chi phí khác.
• Sự kết hợp theo hàng dọc trước hết tạo điều kiện để hợp lý hóa quy
trình quản lý công nghệ, giảm chi phí sản xuất đặc biệt là chi phí quản lý công ty.
Ngoài ra, nhu cầu về hợp lý hóa cung ứng hàng hóa, nguyên vật liệu cũng được đảm
bảo, làm giảm chi phí do giảm nguyên liệu và thành phẩm tồn kho.
• Đối với các công ty hoạt động đa ngành, mục tiêu của việc liên kết là
điều chỉnh sự cân đối trên danh mục vốn đầu tư của họ. Bằng cách tham gia vào một
số lónh vực kinh doanh mới, các công ty mong muốn có thêm những hoạt động tiềm
năng, hoạt động sinh lợi cao, cắt giảm bớt những ngành nghề hiệu quả kém. Những
trường hợp mua lại doanh nghiệp đang hoạt động ổn đònh hoặc đang dẫn đầu ngành
là cách tốt nhất để tranh thủ thời gian chiếm lónh thò trường và tạo ra lợi nhuận.
Trong nhiều trường hợp khác, các doanh nghiệp áp dụng phương thức bỏ ra
một lượng vốn tương đối nhỏ để tiếp nhận những doanh nghiệp đang ở trong tình
trạng kinh doanh thua lỗ. Sau đó, tái sử dụng nhân tài, tận dụng thò trường, tin tức …
cộng ưu thế quản lý của mình, công ty mua tiến hành cải tạo triệt để công ty vừa tiếp
quản để kích nó hoạt động tốt lên, tiến tới giảm lỗ, tăng lợi nhuận và mở rộng kinh
doanh. Ví dụ về mua lại thành công công ty khác theo hình thức này là tập đoàn

liên doanh liên kết. Sự liên kết bằng cách kết hợp giữa khoa học, công nghệ hiện đại
với những nguồn lực tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn vốn lao động dồi dào
và rẻ mạt ở các nước khác nhau, nhất là ở các nước thế giới thứ ba, hình thành nên
mối liên kết hàng dọc. Còn giữa các công ty hoạt động cùng một lónh vực ở nhiều
nước khác nhau thì sự kết hợp này là do kết hợp thương quyền khai thác trên lãnh
thổ của mỗi nước và do chia xẻ thò trường để cùng tồn tại và tăng trưởng.
Quá trình sáp nhập, hợp nhất, mua lại giữa các công ty của các nước
khác nhau cũng theo xu thế toàn cầu hóa mà hình thành. Ví dụ Thomspon (Pháp)
mua lại cơ sở sản xuất TV của General Electrics (Mỹ), công ty Sanyo (Nhật) mua lại
công ty Warwick Electronics (Mỹ), hãng xe Renault (Pháp) mua lại Samsung Motors
(Hàn Quốc), hãng xe Ford (Mỹ) mua lại Nissan Motors (Nhật) và sắp tới General
Motors (Mỹ) mua lại Daewoo Motors (Hàn Quốc) của Daewoo phá sản với khoản nợ
155 triệu USD và 10.6 tỷ USD trái phiếu…
1.1.4. Một số mô hình tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới:
1.1.4.1. Tập đoàn theo cơ cấu ngành nghề:
• Các công ty đơn ngành: chuyên môn hoạt động chú trọng vào một ngành
kinh doanh duy nhất. Ví dụ: công ty chuyên doanh phần mềm khổng lồ Microsoft
Software của Bill Gates, công ty chuyên doanh ngành khách sạn của Mỹ Holiday
Inns, công ty chuyên doanh thăm dò dầu khí của Nhật Japex, các tập đoàn chuyên
xây dựng như Shimizu, Hazama, Kumagai (Nhật Bản) và Daedong (Hàn Quốc), các
hãng sản xuất ảnh và vật tư ngành ảnh như Kodak (Mỹ) và Fuji (Nhật Bản).
• Các công ty đa ngành: chuyên tham gia vào những lónh vực kinh doanh
khác nhau và thường khá phổ biến hiện nay trên khắp thế giới. Các tập đoàn kiểu
này hình thành do nhu cầu đa dạng hóa hoạt động và hội nhập để tồn tại, phát triển
trong điều kiện kinh tế cạnh tranh gay gắt. Ví dụ: các tập đoàn kinh tế lớn Hyundai,
Daewoo, Samsung (điện tử, xe hơi, xây dựng …) của Hàn Quốc hay Matsushita (điện
tử, giáo dục…), Mitsubishi (xây dựng, ôtô, công nghiệp nặng …) của Nhật Bản.
1.1.4.2. Tập đoàn theo cơ chế quản lý tài chính:
• Các tập đoàn kinh tế trong đó các công ty mẹ là những nhà tài phiệt nắm
giữ ít nhất một thành viên là ngân hàng lớn cung ứng tài chính cho các công ty con.

có 70 xí nghiệp phụ thuộc tạo thành bộ phận cơ sở của tập đoàn này, trong đó có 17
xí nghiệp làm nhiệm vụ sản xuất và tiêu thụ, một xí nghiệp làm nhiệm vụ xuất nhập
khẩu và 52 xí nghiệp còn lại làm nhiệm vụ là công ty con chuyên tiêu thụ sản phẩm
của tập đoàn Matsushita (tương tự có tập đoàn xe hơi Honđa).
• Các tập đoàn kinh tế trong đó công ty mẹ là công ty sản xuất một hoặc
một số ngành nghề chủ đạo và phát triển ngành nghề theo hướng tạo ra công ty vệ
tinh thực hiện một số chức năng hỗ trợ cho ngành nghề chủ đạo. Các công ty con phụ
thuộc hoàn toàn vào công ty mẹ về quyền sở hữu tư liệu sản xuất và do công ty mẹ
quản lý hoàn toàn về hoạt động sản xuất kinh doanh. Thông thường kiểu mẫu này có
các tập đoàn kinh tế đơn ngành như Sony, Toyota (Nhật), Ford Motor Company
(Mỹ), Thompson (Pháp).
• Ngoài ra, nhu cầu liên kết để tăng trưởng còn tạo nên những liên minh,
phối hợp hành động chung gọi là Alliance, Cartel (không phải là tập đoàn kinh tế).
Trong đó các công ty thành viên tham gia liên minh với tính cách độc lập về cả hoạt
động sản xuất kinh doanh lẫn về quyền sở hữu tư liệu sản xuất. Các công ty thành
viên thường có những doanh nghiệp hoạt động cùng ngành, chỉ quan hệ kết ước với
nhau về giá cả, thò trường và quy mô sản xuất. Quy mô của các liên minh kiểu này
ngày nay mở rộng không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn liên kết giữa nhiều


8

quốc gia trên thế giới. Ví dụ: tổ chức các nước dầu mỏ OPEC thành lập năm 1970
hay liên minh British Airways và American Airlines tạo nên Oneworld …
1.2. MÔ HÌNH TỔNG CÔNG TY NHÀ NƯỚC
1.2.1. Khái niệm về Tổng công ty nhà nước:
DNNN có nhiều mô hình khác nhau, tùy theo mô hình kinh doanh, chức năng
nhiệm vụ, mức độ liên kết kinh doanh, mức độ độc lập hoạt động… mà có tên gọi
phù hợp như DNNN độc lập quy mô lớn, TCT nhà nước, DNNN có quy mô vừa và
nhỏ không tổ chức HĐQT. TCT là một mô hình mới của Việt nam có nguồn gốc học

năng quản lý kinh doanh khỏi chức năng quản lý nhà nước của các ngành, các cấp;
như TCT Thương mại Sài Gòn, TCT Nông nghiệp Sài Gòn, TCT Đòa ốc Sài Gòn,
TCT Bến Thành.


9

- Nhu cầu đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế tổ chức các TCT theo luật DNNN
đối với những công ty đã hình thành trước khi có luật DNNN nhằm làm cho các TCT
này thực sự hoạt động theo một cơ cấu tổ chức và cơ chế tổ chức của một doanh
nghiệp; như TCT Xây dựng Sài Gòn.
Mô hình TCT nhà nước là một mô hình tổ chức kinh doanh mới, Thành phố
Hồ Chí Minh lại là đòa phương đầu tiên trên cả nước thành lập và trực tiếp quản lý
các TCT nhà nước, các TCT vừa ra đời lại chòu ảnh hưởng của khủng hoảng tài
chính, tiền tệ khu vực, nên gặp không ít khó khăn trong việc tổ chức các hoạt động
quản lý và điều hành kinh doanh của mình. Từ đó, việc đánh giá một cách đầy đủ về
mô hình TCT trở nên phức tạp hơn.
1.2.3. Mục đích thành lập các TCT nhà nước:
Việc thành lập các TCT nhà nước ở nước ta nhằm những mục đích sau:
- Tạo điều kiện thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, hình thành các
đơn vò chủ lực của nền kinh tế.
- Tạo ra những tổ chức kinh doanh chuyên ngành hoặc đa ngành có tầm vóc
quốc gia tiến tới có tầm vóc quốc tế.
- Nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh trên thò trường trong nước và ngoài
nước của các doanh nghiệp đầu đàn.
- Thực hiện chủ trương xóa bỏ dần bộ chủ quản, cấp hành chính chủ quản
đối với DNNN và sự phân biệt doanh nghiệp TW, doanh nghiệp đòa phương.
- Tăng cường quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế.
- Tạo ra những phương tiện kinh tế tập trung để nhà nước chủ động hơn

và các thành viên được hình thành trên cơ sở những văn bản pháp quy của Nhà nước,
trong đó quan hệ về vốn chỉ dựa trên quy đònh về phân cấp quản lý vốn. Quan hệ
giữa tập đoàn và các thành viên ở các tập đoàn kinh tế trên thế giới chủ yếu dựa
trên cơ sở tham gia vốn với tỷ lệ chi phối và hợp đồng thống trò để thành lập tập
đoàn.
- Về cơ cấu tổ chức: các TCT nhà nước hiện nay có 2 cấp; cấp thứ I – TCT
và cấp thứ II – doanh nghiệp thành viên. Các đơn vò trực thuộc thành viên là những
bộ phận của doanh nghiệp thành viên, không phải là doanh nghiệp hạch toán độc
lập. Các tập đoàn kinh tế ở các nước thường có cơ cấu nhiều cấp (2,3,4 cấp hoặc
nhiều hơn), ở tất cả các cấp đều có thể có doanh nghiệp hạch toán độc lập và doanh
nghiệp hạch toán phụ thuộc, thông qua các quan hệ chi phối về vốn theo kiểu lồng
vào nhau mà cấp tập đoàn chi phối đến tất cả các cấp khác.
- Về tính đa dạng của hình thức tổ chức và quản lý: mô hình TCT nhà nước
của nước ta là một hình thức doanh nghiệp theo luật đònh được thể hiện tại Luật
DNNN. Ngoài ra, chúng ta còn được tổ chức và quản lý khá chặt chẽ bằng nhiều văn
bản pháp quy khác như Nghò đònh 39 CP, Nghò đònh 59 CP của Chính phủ,… Trong
khi đó đối với các nước, tập đoàn kinh tế là một hình thức tổ chức sản xuất kinh
doanh, nhưng không phải là một hình thức doanh nghiệp theo luật đònh, nghóa là
không có luật về tập đoàn. Cho nên tính đa dạng của hình thức tổ chức và quản lý
tập đoàn rất cao.
Từ những phân tích trên cho thấy rằng, thực chất mô hình TCT nhà nước ở
nước ta là những tập đoàn kinh tế sơ khai, quy mô nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp, mô
hình tổ chức và cơ chế quản lý chưa hoàn chỉnh. Vì vậy, xét về dài hạn, quá trình
hoàn thiện mô hình TCT nhà nước là quá trình từng bước xích lại gần mô hình phổ
biến về tập đoàn kinh tế của các nước có tính đến những đặc điểm về thực trạng
DNNN và chủ trương cải cách DNNN của nước ta qua các giai đoạn.
1.2.5. Về cơ chế tài chính của mô hình TCT:
Theo Luật DNNN , TCT cũng là một DNNN nhưng có các đơn vò thành
viên. Các đơn vò thành viên này có thể là đơn vò hạch toán độc lập, đơn vò hạch toán
phụ thuộc và cũng có thể là đơn vò hành chánh sự nghiệp.

và hoạt động của doanh nghiệp thành viên.
- Tổng công ty được huy động vốn dưới mọi hình thức theo pháp luật quy
đònh như vay vốn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước; phát hành trái phiếu, vay khác để phục vụ nhu cầu hoạt động
kinh doanh. Việc huy động vốn phải tuân theo pháp luật hiện hành và không được
làm thay đổi hình thức sở hữu Nhà nước của TCT. TCT được vay vốn và quỹ nhàn
rỗi của các doanh nghiệp thành viên cũng như cho các doanh nghiệp thành viên vay
lại với lãi suất nội bộ. Việc vay, trả theo các quy đònh của pháp luật và điều lệ tổ
chức hoạt động của TCT. HĐQT quyết đònh mức lãi suất nội bộ. Các doanh nghiệp
thành viên được huy động vốn theo sự phân cấp, ủy quyền của TCT. Hạn mức một
lần vay do giám đốc quyết đònh và tổng dư nợ không vượt quá mức vốn điều lệ của
doanh nghiệp thành viên đó. TCT được bảo lãnh cho các doanh nghiệp thành viên
vay vốn trong nước theo quy đònh của pháp luật hiện hành.
- Các đơn vò thành viên hạch toán độc lập, ngoài việc chấp hành các chế
độ tài chính khác như các pháp nhân bình thường của một DNNN còn phải tham gia
vào việc trang trải chi phí quản lý của TCT, tham gia vào việc hình thành các quỹ


12

tập trung ở TCT như : Quỹ dự phòng tài chính, Quỹ đầu tư phát triển, Qũy nghiên
cứu khoa học và đào tạo, Quỹ phúc, khen thưởng.
- Các đơn vò sự nghiệp trong TCT hoạt động theo chế độ Nhà nước hiện
hành và Quy chế tổ chức và hoạt động của đơn vò được HĐQT phê chuẩn. Cơ chế tài
chính của các đơn vò này là lấy thu bù chi. Nguồn thu từ nguồn kinh phí sự nghiệp
kinh tế, đào tạo, nghiên cứu khoa học, y tế, giáo dục và các hoạt động đào tạo, dòch
vụ ký với các đơn vò trong và ngoài TCT. Các đơn vò này được hưởng quỹ phúc lợi và
khen thưởng theo các quy đònh hiện hành đối với đơn vò lấy thu bù chi.
1.3. VAI TRÒ CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ
1.3.1. Đối với các nước phát triển trên thế giới:

đoàn Nguyễn Cao Thăng với nhà thuốc Âu dược, sữa … với số vốn khoảng 62 triệu
USD… Các tập đoàn kinh tế ở miền Nam Việt nam đã hình thành và phát triển gắn
liền với nguồn viện trợ của Mỹ, nó phát triển phụ thuộc chứ không chủ động như các


13

tập đoàn kinh tế ở các nước khác trên thế giới, tuy nó cũng có những đóng góp
nhất đònh trong việc phát triển nền kinh tế. miền Bắc, Nhà nước cũng đã thành lập
một số TCT như: TCT Xăng dầu (1956), TCT muối (1957), TCT lắp máy (1960),
TCT Bảo hiểm (1964)… Những TCT này cũng có những đóng góp to lớn cho nền
kinh tế.
Sau 30/04/1975, Nhà nước đã chú trọng hình thành các công ty, liên hiệp xí
nghiệp có quy mô lớn để giữ vững và phát triển vai trò chủ đạo của doanh nghiệp
nhà nước, nhưng thực sự đến ngày 7/3/1994 Chính phủ mới chính thức ban hành
quyết đònh số 91/TTg về “Thí điểm thành lập các tập đoàn kinh doanh”, cũng như
quyết đònh số 90/TTg về “Tiếp tục sắp xếp DNNN”.
Theo tài liệu thống kê của Ban đổi mới Quản lý doanh nghiệp trung ương thì
tại thời điểm tháng 2 năm 2000 nước ta có 93 TCT trong đó có 1392 doanh nghiệp
thành viên, chiếm 24% so với tổng số DNNN; thu hút 1.037.000 người lao độmg,
chiếm 61% trong tổng số lao động tại các DNNN; vốn là 76.812 tỷ đồng, chiếm 66%
trong tổng số vốn tại các DNNN; nộp ngân sách được 23.487.361 triệu đồng.
Qua thực tiễn hoạt động của các TCT cho thấy vai trò của nó rất lớn, rất quan
trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển. Theo xu thế toàn cầu hóa,
nhà nước ta đang từng bước xây dựng và chuyển dần các TCT trở thành các tập đoàn
kinh tế với phạm vi hoạt động cả ở các nước khác trên thế giới, đảm bảo hoạt động
hiệu quả kinh tế cao và đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn kinh tế quốc tế.
Đánh giá vai trò to lớn của TCT đối với nền kinh tế, Nghò quyết Hội nghò
TW4 (Đại hội VIII) đã xác đònh: “Tổng kết mô hình TCT nhà nước, trên cơ sở đó có
phương án xây dựng các TCT thực sự trở thành các tập đoàn kinh tế mạnh, có hiệu

1

TCT Thương mại Sài
(SATRA)
TCT Nông nghiệp Sài Gòn (SAI)

2
3

Doanh nghiệp Liên
thành viên
doanh
Gòn
24
9
28

4

19

6

12

6

5

TCT Xây dựng Sài Gòn


151

58

4

7

Góp
vốn

16

Thành lập
02/11/199
5
30/12/199
6
31/12/199
6
20/02/199
7
23/12/199
7
26/12/199
7
30/03/199
9


hiện khá rõ, nhưng tính chất chuyên môn hóa và phối hợp ở các TCT chưa được tổ
chức thống nhất mang tính chiến lược. Vì vậy, ưu thế phối hợp của một đơn vò kinh
doanh lớn chưa được khai thác và phát huy.
Biểu 2-2: NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CỦA CÁC TCT
NGÀNH CẤP I

TCT TCT TCT TCT TCT
TMSG NNSG XDSG VLXD ĐOSG
1. Nông nghiệp và lâm nghiệp
x
x
2. Thủy sản
x
3. Công nghiệp khai thác mỏ
x
4. Công nghiệp chế biến
x
x
x
x
x
5. Xây dựng
x
x
x
x
6. Thương nghiệp và sửa chữa
x
x
x

kinh doanh phân tán, trái với mục đích tích tụ và tập trung khi thành lập TCT, đồng
thời làm cho việc phối hợp kinh doanh giữa các thành viên của TCT trở nên khó
khăn hơn.
Từ thực tiễn đó, trên giác độ Thành phố cần sắp xếp lại các thành viên giữa
các TCT. Trong phạm vi từng TCT cần xác đònh ngành hàng, mặt hàng chủ lực của
từng TCT, cần tiến hành phân nhóm doanh nghiệp theo ngành kinh doanh, thực hiện
chuyên môn hóa cho các thành viên nhằm tránh cạnh tranh lẫn nhau trên thương
trường, tạo cho các doanh nghiệp thành viên tập trung nguồn lực kinh doanh chuyên
sâu vào một số mặt hàng có lợi thế cạnh tranh.
2.1.3. Về thò trường.
Nhìn chung, các TCT có phạm vi hoạt động khá rộng ở trong và ngoài nước.
Có TCT đã có quan hệ với hàng trăm doanh nghiệp ở ngoài nước và hàng ngàn
doanh nghiệp ở trong nước.
Biểu 2-3: MỨC ĐỘ MỞ RỘNG QUAN HỆ KINH DOANH CỦA CÁC TCT
TCT TCT TCT TCT TCT
TMSG NNSG XDSG VLXD ĐOSG
1. Trong nước (doanh nghiệp)
- Trên đòa bàn Thành phố
- Các tỉnh Nam bộ
- Các tỉnh miền Trung
- Các tỉnh miền Bắc
2. Thế giới (nước)
Số nước có quan hệ
- Bắc Mỹ
- Nam Mỹ
- EU
- Đông u
- c, New Zealand

TCT


1

07*

13
12
66*
- Châu Á
7
8
65*
Trong đo: ASEAN
* Số doanh nghiệp
Nguồn: Điều tra của Viện Kinh tế TP
Tuy nhiên, thò trường nước ngoài chính của các TCT là Châu Á chiếm khoảng
70 - 80% kim ngạch xuất khẩu của các TCT, trong đó chủ yếu là Đông Nam Á. Thò
trường EU và Bắc Mỹ chiếm tỷ trọng còn thấp khoảng 12 – 14% kim ngạch xuất,
nhập khẩu của các TCT. Thò trường EU đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm, để thâm
nhập mạnh vào thò trường này đòi hỏi các TCT và thành viên phải đổi mới thiết bò


17

và công nghệ thích ứng. Thò trường Nga có nhiều tiềm năng nhưng trước mắt gặp
nhiều khó khăn do quan hệ tài chính, ngân hàng giữa hai nước chưa được khai thông.
Thò trường trong nước của các TCT nói chung trải dài trên các vùng của đất
nước, nhưng tập trung chủ yếu ở thò trường Thành phố và các tỉnh Nam bộ. Thò
trường trong nước chòu sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đặc biệt là với các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và DNNN TW. Khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng

năng lực cũng như tài chánh để tiến hành nghiên cứu thò trường một cách có hệ
thống. Các TCT chưa giúp các doanh nghiệp thành viên nhiều trong việc tìm kiếm
khách hàng, thò trường tiêu thụ và những vấn đề kinh doanh có ý nghóa chiến lược.


18

Biểu 2-4: BÁO CÁO ẢNH HƯỞNG CỦA KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH,
TIỀN TỆ KHU VỰC

1. Không thực hiện LD đã cam kết
2. Thu hẹp thò trường trong nước
3. Giảm khối lượng sản xuất kinh
doanh
4. Thu hẹp thò trường ngoài nước
5. Lao động mất việc làm
Nguồn: Điều tra của Viện kinh tế

TCT TCT TCT TCT TCT
TMSG NNSG XDSG VLXD ĐOSG
x
x
x
x
x
x
x

TCT
BT

tạo trong thời bao cấp và chưa có điều kiện để bổ sung đầy đủ những kiến thức về
kinh tế thò trường, cho nên các cán bộ quản lý TCT nhìn chung còn thiếu kiến thức
và kinh nghiệm về quản lý TCT trên các lónh vực như: kiến thức về mô hình tổ chức
các TCT, xây dựng chiến lược TCT, nghiên cứu thò trường ở trong và ngoài nước, dự
báo tình hình, xây dựng các dự án đầu tư có hiệu quả và đặc biệt là những kiến thức


19

và kinh nghiệm hoạt động trên thò trường tài chính,… Do đó chất lượng hoạt động
quản lý có những hạn chế nhất đònh.
2.1.5. Về nguồn vốn hoạt động
Vốn của các TCT bao gồm vốn của các doanh nghiệp thành viên và vốn của
TCT, trong đó vốn của các doanh nghiệp thành viên là chủ yếu, phần vốn riêng do
TCT trực tiếp quản lý nói chung chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ.
Biểu 2-5: BÁO CÁO VỐN CỦA CÁC TCT NHÀ NƯỚC NĂM 1997
Đơn vò: triệu đồng
TCT
TCT
TCT
TCT
TCT
TCT
TCT
TMSG NNSG XDSG VLXD ĐOSG
BT
DLSG
2.720,250 548.408 410.816 891.587 842.259 1.716.931 741.000
Tổng vốn HĐ
772.764 184.415 103.065 184.291 195.714 795.029

5.8
5.0
5.1
- Vốn tự bổ sung
59.6
57.1
66.9
73.5
71.8
48.6
- Vốn vay & khác
100
100
100
100
100
100
100
C/c h.t.vốn (%)
68.6
85
80
84
85.6
- Vốn cố đònh
31.5
15
20
16
14.4


15%
20%

Vốn lưu động chiếm tỷ trọng rất nhỏ khoảng 15 – 20% tổng vốn hoạt động,
cho nên các TCT đều trong tình trạng thiếu vốn lưu động. Ví dụ: theo Báo cáo của
Chi cục Tài chính Doanh nghiệp TP, vốn lưu động của TCT XDSG trong năm 1998
chỉ đáp ứng 10 – 17% nhu cầu. Trong khi đó nhiều TCT có nhiều hạng mục công
trình có thể chuyển đổi thành vốn lưu động hoặc vốn để đầu tư đổi mới công nghệ
thiết bò, ví dụ: TCT TMSG có hơn 500 hạng mục bất động sản, trong đó có thể
chuyển đổi một phần thành vốn lưu động. Tuy nhiên, việc chuyển đổi cơ cấu vốn
này hiện đang gặp một số khó khăn về thủ tục hành chính, tình hình thò trường đòa
ốc…
Do máy móc thiết bò cũ kỹ, nhà xưởng xuống cấp nên nhu cầu về đổi mới
thiết bò, nâng cấp nhà xưởng cũng rất lớn. Nhưng nguồn tín dụng dài hạn có nhiều
hạn chế nên nhu cầu này vẫn chưa đáp ứng đủ được. Theo điều tra của viện kinh tế
TP, nhu cầu bổ sung vốn cho năm 1999 của các TCT chiếm khoảng 4.2% tổng vốn
hoạt động và 10.4% vốn nhà nước của các TCT:
Biểu 2-6: NHU CẦU BỔ SUNG VỐN CỦA CÁC TCT NĂM 1999
Đơn vò: triệu đồng
TCT
TCT
TCT
TCT
TCT
TCT
TMSG* NNSG XDSG VLXD* ĐOSG
BT
98.558
55.949

11.600
8.400
58.269
24.173
- Cho vốn lưu động
* Nhu cầu năm 1998
Nguồn: Điều tra của viện kinh tế TP.
Những khó khăn trên càng thể hiện rõ trong một số ngành ở một số TCT. ở
các TCT XDSG và TCT ĐOSG, do đặc điểm của ngành xây dựng đòi hỏi vốn ứng
trước rất lớn, vốn này thường bò chiếm dụng trong các công trình khi chưa được quyết
toán. Do đó, đa số các thành viên thường phải vay vốn ngân hàng hoặc chiếm dụng
vốn ứng trước của khách hàng. Cho nên hoặc là phải chòu thêm lãi suất ngân hàng
trong điều kiện tỷ suất lợi nhận của các TCT còn thấp hoặc làm phức tạp thêm cho
quá trình quản lý tài chính.
Ngoài ra, trong những năm qua các TCT gặp nhiều khó khăn trong việc điều
phối vốn của các doanh nghiệp thành viên để tiến hành hoạt động kinh doanh trên
phạm vi toàn TCT. Tình trạng công nợ khó đòi, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ vẫn còn


21

tồn tại ở một số thành viên của các TCT, càng tăng thêm khó khăn trong việc
quản lý tài chính trên giác độ toàn TCT. Những khó khăn trên có thể từng bước khắc
phục khi các TCT nắm trong tay nguồn vốn lớn. Nguồn vốn này có thể được hình
thành bằng cách: thứ nhất, đưa các doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập lên
hạch toán phụ thuộc TCT; thứ hai, một số doanh nghiệp thành viên sẽ được cổ phần
hóa và nguồn vốn thu được từ việc bán cổ phiếu sẽ được tập trung cho TCT. việc
thành lập công ty tài chính và việc thực hiện đầy đủ các chức năng của chúng cũng
tạo điều kiện thuận lợi cho các TCT thực hiện vai trò điều phối vốn của mình.
2.2.

502
495
537
- Tổng công ty XDSG
934
728
746
823
- Tổng công ty VLXD
603
717
791
991
- Tổng công ty ĐOSG
1.801
1.538
1.726
1.820
- Tổng Cty Bến Thành
13.298
13.138 13.786 14.674
Tổng số
Nguồn: - Chi cục Tài chính doanh nghiệp TP.HCM
- Báo cáo của các TCT

Tốc độ tăng (%)
1997

1998


-22,1

2,5

10,4

25.6

18,9

10,3

25,3

-20.4

-14,6

12,2

5,5

-7.1

-1,2

4,9

6,4


mua của các TCT bò thu hẹp. Kinh doanh vàng bạc bò giảm sút do giá cả
thò trường không ổn đònh. Khách du lòch nước ngoài giảm, các khách sạn
nói chung chỉ sử dụng khoảng 50% công suất, một số khách sạn liên tục
thua lỗ.
- Hoạt động kinh doanh và cho thuê nhà đang gặp khó khăn về vốn, về
nghiên cứu nhu cầu thò trường, …
- Do công tác điều tra nghiên cứu thò trường, công tác tiếp thò còn yếu nên
một số thành viên không nắm bắt kòp thời nhu cầu và thò hiếu của người
tiêu dùng.
Trên lónh vực sản xuất công nghiệp:
- Giá cả một số nguyên liệu tăng mạnh, như giá hạt điều; nên các đơn vò
không tận dụng được năng lực sản xuất. Ví dụ: Xưởng chế biến hạt điều
của TCT Bến Thành chỉ hoạt động 50% công suất.
- Giá gia công nhiều loại sản phẩm giảm, lợi thế ngành dệt may của nước ta
đang giảm dần.
- Một số sản phẩm sản xuất trong nước đang gặp khó khăn về tiêu thụ, như :
sắt thép.
Riêng hai TCT ĐOSG và TCT NNSG trong năm qua đạt được sự tăng trưởng
khá cao về doanh thu. TCT ĐOSG doanh thu năm 1997 tăng 25,6%; năm 1998 tăng
18,9%; năm 1999 tăng 10,3 %; năm 2000 tăng 25,3%. TCT NNSG doanh thu năm
1997 giảm 13,6%; năm 1998 tăng 12,5% ; năm 1999 tăng 8,2 %; năm 2000 tăng
8,8%. Các chương trình xây dựng nhà ở để giải tỏa các kênh rạch, giải tỏa các khu
dân cư trong tổng thể chỉnh trang đô thò,… đã góp phần cho TCT ĐOSG đạt được tốc
độ tăng trưởng cao. TCT NNSG đã chú trọng nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu
kỹ thuật mới, một số nông sản tăng giá, … đã góp phần làm tăng doanh thu của TCT.


23

TCT XDSG và TCT ĐOSG là 2 TCT có doanh thu có xu hướng liên tục tăng

84,9
85,6
85,3
85,2
- Tổng công ty TMSG
39,4
25,2
24,4
26,2
- Tổng công ty NNSG
19,5
13,4
11,2
11,9
- Tổng công ty XDSG
42,6
35,1
50,4
35,3
- Tổng công ty VLXD
55,6
68,0
81,0
71,2
- Tổng công ty ĐOSG
25,0
16,9
18,0
19,2
- Tổng cty Bến Thành

17

-31,3

-16,5

6,3

17,3

24,7

-17,7

43,6

-0,3

-0,3

66,5

22,3

19,1

-0,1

-0,1


Ngoài TCT NN SG có tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn tương đối ổn đònh, các TCT
còn lại chỉ tiêu này đều giảm. Đặc biệt tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn hoạt động
năm 1999,2000 của TCT Đòa ốc Sài Gòn giảm mạnh, là do TCT mới sáp nhập 03
đơn vò có vốn hoạt động lớn nhưng có tỉ suất lợi nhuận trên vốn hoạt động rất thấp.
Biểu 2-9: BC TỶ SUẤT LI NHUẬN/VỐN HOẠT ĐỘNG
1997
- Tổng công ty TMSG
- Tổng công ty NNSG
- Tổng công ty XDSG
- Tổng công ty VLXD
- Tổng công ty ĐOSG
- Tổng công ty Bến Thành

1998
3,1
4,6
3,3
3,9
8,1
1,0

3,4
5,1
3,2
4,3
8,9
1,1

Đơn vò tính: %
1999

Các khoản nợ của các TCT bao gồm nợ ngân hàng, nợ ngân sách và các
khoản nợ khác,… trong đó chủ yếu là nợ ngân hàng. Hầu hết các TCT có tỷ lệ nợ/vốn
nhà nước khá lớn, đặc biệt là TCT Đòa ốc Sài Gòn và TCT Vật liệu xây dựng.


Trích đoạn Tỷ suất lợi nhuận trên vốn. Cơ chế tài chính hiện hành đối với TCT cũng cịn một số nhược điểm sau: Nguyên nhân về cơ chế tổ chức quản lý: Nguyên nhân về cơ chế tài chính: Tổ chức bộ máy cao nhất của TCT: HĐQT và TGĐ.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status