Một số ý kiến hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán áp dụng cho công ty dây và cáp điện việt nam (CADIVI) - Pdf 31

B

TR

D

GIÁO D C VÀ ÀO T O

NG

I H C KINH T TP.HCM

NG LI U MAI KHANH

LU N V N TH C S KINH T

TP. H Chí Minh – N m 2000


MỤC LỤC
MỤC LỤC

I

MỞ ĐẦU

1

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN VÀ HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN


10

1.3.3 Mục đích của báo cáo kế toán

11

1.3.4 Yêu cầu đối với báo cáo kế toán

13

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN ÁP DỤNG
21
CHO CÔNG TY DÂY VÀ CÁP ĐIỆN VIỆT NAM

2.1 GIỚI THIỆU CÔNG TY DÂY VÀ CÁP ĐIỆN VIỆT NAM (CADIVI)
VÀ BỘ MÁY KẾ TOÁN CÔNG TY
21
2.1.1 Vài nét về Công ty CADIVI

21

2.1.2 Bộ máy kế toán của CADIVI

23

2.2 THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN ÁP DỤNG
29


38

3.1.2 Phương hướng hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán

38

3.2 MỘT SỐ Ý KIẾN HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN
ÁP DỤNG CHO CÔNG TY CADIVI
39
3.2.1 Hệ thống báo cáo tài chính

39

3.2.2 Hệ thống báo cáo quản trò

44

KẾT LUẬN

57

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

I

PHỤ LỤC

1


Dễ làm, dễ hiểu, dễ kiểm tra, từng bước nâng dần yêu cầu về thông tin
đối với kế toán doanh nghiệp, từng bước hội nhập vào kế toán của các nước
trong khu vực và trên thế giới, góp phần theo kòp trình độ quản lý doanh nghiệp
của các nước trong khu vực và trên thế giới; làm cho sự phát triển của kế toán
đồng hành với sự phát triển kinh tế.

-1-


Luận án này nhằm nêu ra những vấn đề cơ bản về kế toán theo hướng
giải thích các khái niệm và đối chiếu với thông lệ quốc tế. Mục đích cuối cùng
là góp phần vào sự hiểu biết một cách khoa học bản chất của các nghiệp vụ và
quá trình xử lý để từ đó giúp hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán doanh nghiệp
đặc biệt là trong điều kiện quá trình cải cách đang và sẽ tiếp tục diễn ra tại
Việt Nam theo xu hướng hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
II. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay, kế toán là nguồn cung cấp thông tin chủ yếu cho các tác nhân
kinh tế để ra quyết đònh. Muốn vậy, hệ thống kế toán của các nước trên thế
giới nói chung và hệ thống kế toán Việt Nam nói riêng đã không ngừng hoàn
thiện và phát triển, trong đó, hệ thống sẽ đònh hình cho các hoạt động kinh
doanh đang diễn ra trên thò trường. Xuất phát từ thực tiễn đó tôi đã quyết đònh
chọn và thực hiện đề tài: “Một số ý kiến hoàn thiện hệ thống báo cáo
kế toán áp dụng cho Công ty dây và cáp điện Việt Nam (CADIVI)”
nhằm góp phần vào việc phát huy vai trò của doanh nghiệp trong tình hình mới
– nền kinh tế hội nhập.
III. MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Mục đích của đề tài là hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán của công ty
CADIVI song song với quá trình Việt Nam đang xây dựng và hoàn thành các
chuẩn mực kế toán Việt Nam. Với mục đích này, phạm vi nghiên cứu của đề tài
là toàn bộ báo cáo kế toán tại công ty CADIVI trên cơ sở nghiên cứu hệ thống

cho Công ty dây và cáp điện Việt Nam.

-3-


CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN VÀ HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ
TOÁN
1.1 KẾ TOÁN VÀ VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN
1.1.1 Đònh nghóa kế toán
Quá trình nghiên cứu cho ta thấy đònh nghóa về kế toán phụ thuộc vào
điều mà những nhóm người khác nhau trong xã hội đòi hỏi ở kế toán vào một
thời điểm nào đó. Chẳng hạn “Kế toán xã hội chủ nghóa là công việc tính toán,
ghi chép phản ánh bằng con số một cách liên tục, toàn diện và có hệ thống các
loạïi vật tư, tiền vốn và mọi hoạt động kinh tế, qua đó mà giám đốc tình hình
thực hiện kế hoạch Nhà nước, tình hình bảo vệ tài sản xã hội chủ nghóa”. Hay
trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thò trường thì “Kế toán là hoạt động
dòch vụ. Chức năng của nó là cung cấp thông tin đònh lượng về các thực thể
kinh tế. Thông tin chủ yếu là thông tin tài chính nhằm mục đích là có ích cho
việc đề ra các quyết đònh kinh tế”.
Ngoài ra còn có các đònh nghóa khác như:
Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước Việt Nam đã đònh nghóa “Kế toán là
công việc ghi chép, tính toán bằng con số dưới hình thức giá trò, hiện vật và thời
gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trò để phản ánh kiểm tra tình hình
vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh, sử
dụng vốn và kinh phí nhà nước cũng như các tổ chức, các xí nghiệp” [2,16]
Theo Ủy ban thuật ngữ của Viện kế toán công chứng Hoa Kỳ thì “Kế
toán là nghệ thuật ghi chép phân loại và tổng hợp theo cách có ý nghóa và theo
hình thái tiền tệ, các giao dòch và các sự kiện mà ít nhất có một phần đặc tính

tế cho các đối tượng sử dụng để đề ra các quyết đònh. Tùy theo thông tin do kế
toán cung cấp phục vụ cho đối tượng sử dụng nào mà người ta phân biệt kế
toán tài chính và kế toán quản trò.


Kế toán tài chính: đưa ra những thông tin kế toán ngoài việc nó được
sử dụng trong nội bộ quản lý của doanh nghiệp nó chủ yếu cung cấp
thông tin kế toán cho các đối tượng bên ngoài quan tâm đến doanh
nghiệp. Do đó kế toán tài chính được xây dựng trên những cơ sở
chung nhất của tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.



Kế toán quản trò: gắn liền với chức năng cung cấp thông tin hữu ích
phục vụ duy nhất cho nội bộ ban quản trò doanh nghiệp để đề ra các
quyết đònh kinh tế về quản trò doanh nghiệp.

-5-


a/ Những điểm khác nhau giữa kế toán quản trò và kế toán tài chính
Những điểm khác nhau giữa kế toán quản trò và kế toán tài chính được
tóm tắt bằng bảng sau:
Bảng 1-1: Sự khác biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trò

Chức năng cơ bản

Kế toán tài chính

Kế toán quản trò

- Giá trò

- Giá trò, hiện vật

- Công khai

- Mang tính bí mật nội
bộ về việc hoạch đònh và
kiểm soát hướng đến
tương lai

- Tôn trọng các nguyên - Không có những chỉ
Chuẩn mực của thông tin tắc kế toán được thừa dẫn hoặc hạn chế chỉ có
những tiêu chuẩn có ích
nhận chung
Phạm vi báo cáo

- Toàn doanh nghiệp

- Từng bộ phận

Kỳ báo cáo

- Bất cứ khi nào được
- Đònh kỳ trên cơ sở đều cần đến, không nhất
đặn
thiết
trên
cơ sở đều đặn





Đều có khái niệm trách nhiệm và quản lý: kế toán tài chính liên
quan đến khái niệm quản lý trên toàn doanh nghiệp, còn kế toán
quản trò liên quan đến khái niệm quản lý trên từng bộ phận doanh
nghiệp.

1.2 VÀI NÉT VỀ HỆ THỐNG KẾ TOÁN HIỆN HÀNH Ở VIỆT NAM
Từ thực tế thử nghiệm và sau đó áp dụng vào thực tiễn, từ những ý kiến,
những phương án, giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán doanh nghiệp đã được
trao đổi rộng rãi, hệ thống kế toán doanh nghiệp chính thức đã được ban hành
theo Quyết đònh 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 01-11-1995 của Bộ trưởng Bộ tài
chính, áp dụng thống nhất trong cả nước từ 01-01-1996.
Cùng với hệ thống tài khoản kế toán; chế độ chứng từ kế toán và chế độ
sổ kế toán, hệ thống báo cáo tài chính doanh nghiệp đã được ban hành theo
quyết đònh trên. Ở quyết đònh này, lần đầu tiên trong tiến trình lòch sử kế toán
Việt Nam, thuật ngữ “báo cáo tài chính” được sử dụng trong văn bản pháp quy
về kế toán. Có thể nói Quyết đònh 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 01-11-1995 của
Bộ trưởng Bộ tài chính là mốc lòch sử đánh dấu sự phân biệt chính thức kế toán
tài chính và kế toán quản trò nói chung cùng với hệ thống báo cáo tài chính và
hệ thống báo cáo quản trò nói riêng.
Nghiên cứu tiến trình lòch sử của kế toán nói chung và hệ thống báo cáo
kế toán doanh nghiệp nói riêng ở Việt Nam, chúng ta có thể rút ra một số kết
luận sau:
• Trong giai đoạn nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập
trung, quan liêu, bao cấp chưa có sự phân biệt kế toán tài chính và kế
toán quản trò nói chung và hệ thống báo cáo tài chính và hệ thống

-7-

chính sách và các công cụ khác”. Quan điểm này tiếp tục được xác đònh trong
Báo cáo chính trò của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
(khóa VII) tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII: “…tiếp tục phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thò trường có sự quản lý
của Nhà nước theo đònh hướng xã hội chủ nghóa”.
Như vậy, đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là nền kinh tế nhiều thành
phần được vận hành theo cơ chế thò trường có sự quản lý của Nhà nước theo

-8-


đònh hướng xã hội chủ nghóa. Điều này làm thay đổi hẳn môi trường kế toán so
với các giai đoạn trước.
Để hội nhập vào thế giới và khu vực, đòi hỏi Việt Nam phải chuyển biến
về nhiều mặt, trong đó có kế toán nói chung và hệ thống báo cáo kế toán nói
riêng. Chính những thay đổi của môi trường kế toán trên đòi hỏi phải có một sự
cải cách hệ thống kế toán nói chung và hệ thống báo cáo kế toán nói riêng.
Quan điểm đònh hướng đổi mới được nêu ra là:
• Đổi mới chế độ kế toán phải được thực hiện một cách căn bản trên cơ
sở tuân thủ các chuẩn mực và thông lệ kế toán nền kinh tế thò trường,
xóa bỏ các yếu tố của cơ chế kế hoạch hóa tập trung trong kế toán.
• Đổi mới chế độ kế toán phải hướng theo một mô hình kế toán kinh tế
thò trường tiên tiến và phổ biến trên thế giới, có tính tới điều kiện và
khả năng thực tế và yêu cầu quản lý của ta.
• Đổi mới chế độ kế toán phải phù hợp và phục vụ có hiệu quả cho
việc thu nhận các chỉ tiêu của hệ thống tài khoản kế toán quốc gia
(SNA), phải được tiến hành đồng bộ và cùng với việc đổi mới các cơ
chế chính sách liên quan trước hết là cơ chế tài chính doanh nghiệp.
• Đổi mới chế độ kế toán phải theo hướng tin học hóa và hiện đại hóa
công tác kế toán, đồng thời phải đơn giản, dễ làm, dễ kiểm tra, vừa

thông tin cho việc đề ra các quyết đònh của chủ doanh nghiệp, hội đồng quản trò
doanh nghiệp, nhà đầu tư, người cho vay hiện tại, tương lai và các cơ quan tổ
chức chức năng“
Thuật ngữ “Báo cáo tài chính“ lần đầu tiên được sử dụng trong Quyết
đònh số 1141 – TC /QĐ/CĐKT ban hành ngày 01/11/1995 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính. Đây là một bước thay đổi mang ý nghóa quan trọng vì cùng với việc phân
biệt kế toán tài chính và kế toán quản trò trong hệ thống kế toán thì cũng phân
biệt hệ thống báo cáo tài chính, kết quả của kế toán tài chính, và hệ thống báo
cáo quản trò, kết quả của kế toán quản trò.
1.3.2 Đònh nghóa báo cáo kế toán
Khi nền kinh tế còn vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung thì: “
Báo cáo kế toán là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo
các chỉ tiêu kinh tế về tình hình kết quả sản xuất kinh doanh và sử dụng vốn
của một đơn vò kế toán trong một thời kỳ nhất đònh vào một hệ thống biểu mẫu
báo cáo đã quy đònh “
Vậy báo cáo kế toán là một trong các phương pháp của kế toán được sử
dụng để thực hiện các chức năng của nó – chức năng phản ánh và kiểm tra đối
tượng kế toán trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
Báo cáo tài chính được đònh nghóa dưới nhiều hình thức khác nhau:


“Báo cáo tài chính được dùng để mô tả hoạt động và tình trạng tài
chính của các loại hình tổ chức khác nhau“.

- 10 -




“Các báo cáo tài chính chuyển đến ban quản trò và những người bên

nghiệp thì đó là hệ thống báo cáo quản trò, còn nếu cung cấp cho cả các đối
tượng sử dụng bên ngoài doanh nghiệp thì đó là hệ thống báo cáo tài chính.
1.3.3 Mục đích của báo cáo kế toán
Đối tượng sử dụng báo cáo kế toán và nhu cầu thông tin của họ sẽ quyết
đònh mục đích của báo cáo kế toán, do đó khi nền kinh tế vận hành theo cơ chế
kế hoạch hóa tập trung, không có sự phân biệt giữa kế toán tài chính và kế toán
quản trò thì cũng không có sự phân biệt về mục đích báo cáo của hai hệ thống
này. Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thò trường thì sự phân biệt này được
thể hiện rõ và mục đích của báo cáo tài chính được xác đònh trong

- 11 -


QĐ1141/TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc
ban hành “Chế độ kế toán doanh nghiệp”
“Tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản,
công nợ, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp trong một kỳ hạch toán. Cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính
chủ yếu cho việc đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp,
đánh giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã qua và
những dự đoán trong tương lai. Thông tin của báo cáo tài chính là căn cứ quan
trọng cho việc đề ra các quyết đònh về quản lý, điều hành hoạt động sản xuất,
kinh doanh, hoặc đầu tư vào doanh nghiệp của các chủ doanh nghiệp, chủ sở
hữu, các nhà đầu tư, các chủ nợ hiện tại và tương lai của doanh nghiệp.”
Ngoài ra mục đích lập báo cáo tài chính còn được xác đònh trong “Khuôn
mẫu cho việc lập và trình bày các báo cáo tài chính” sẽ đáp ứng nhu cầu của
người sử dụng thông tin trong việc:
• Dự đoán khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra tiền và các
khoản tương đương tiền trong tương lai.
• Dự đoán nhu cầu vay trong tương lai.



Cơ sở dồn tích

Để đáp ứng được các mục đích của mình, các báo cáo tài chính được lập
trên cơ sở kế toán dồn tích. Theo cơ sở này, ảnh hưởng của các nghiệp vụ, các
sự kiện được hạch toán khi chúng phát sinh (mà không phải vào thời điểm thực
tế thu tiền hoặc chi tiền) và chúng được ghi chép trong các báo biểu kế toán và
được thể hiện trong các báo cáo tài chính của kỳ mà chúng phát sinh. Các báo
cáo tài chính được lập trên cơ sở kế toán dồn tích không chỉ thông báo cho
người sử dụng các nghiệp vụ đã qua có liên quan đến việc thu chi tiền tệ mà
còn thông báo cho người sử dụng các thông tin về các nghóa vụ doanh nghiệp
phải thanh toán và các nguồn tiền doanh nghiệp sẽ thu trong tương lai. Vì thế
các báo cáo tài chính đó cung cấp những thông tin về các nghiệp vụ quá khứ và
các sự kiện khác rất hữu ích để người sử dụng các thông tin đó đưa ra các quyết
đònh hợp lý.


Tính liên tục của hoạt động kinh doanh

Các báo cáo tài chính được lập theo giả đònh doanh nghiệp đang hoạt
động và sẽ tiếp tục hoạt động trong một tương lai có thể dự kiến trước. Vì thế,
người ta giả đònh rằng doanh nghiệp không có ý đònh mà cũng không cần thiết
phải từ bỏ hoặc thu hẹp quy mô hoạt động của mình một cách nghiêm trọng.
Nếu thực tế diễn ra trái với giả đònh trên đây thì báo cáo tài chính có thể phải

- 13 -


được lập theo một giả đònh khác và như vậy giả đònh đó sẽ được trình bày cụ

Các thông tin về tình hình tài chính và tình hình kinh doanh đã qua
thường được sử dụng như những căn cứ để dự đoán tình hình tài chính tương lai.
Tuy nhiên, khả năng dự đoán từ các thông tin lấy trong các báo cáo tài chính sẽ
được tăng cường thông qua cách trình bày các sự kiện nghiệp vụ đã qua. Ví dụ,
dự đoán giá trò của báo cáo thu sẽ có giá trò xác thực hơn nếu như các khoản
mục bất thường, khoản mục đặc biệt, khoản mục không đònh kỳ của thu nhập
hoặc chi phí được trình bày riêng biệt.

- 14 -




Trọng yếu

Tính thích hợp của các thông tin còn chòu ảnh hưởng bởi bản chất và tính
trọng yếu của thông tin đó. Trong một số trường hợp, chỉ cần bản chất của các
thông tin cũng đủ để xác đònh tính phù hợp của những thông tin đó. Ví dụ, khi
báo cáo về một bộ phận mới có thể sẽ có ảnh hưởng tới việc đánh giá các rủi ro
và các thuận lợi mà doanh nghiệp sẽ gặp trong tương lai bất kể tính trọng yếu
của những kết quả mà bộ phận mới sẽ đạt trong kỳ báo cáo. Trong những
trường hợp khác cả bản chất và tính trọng yếu đều rất quan trọng, ví dụ, giá trò
hàng tồn kho hiện có của đơn vò được phân theo chủng loại chính phù hợp với
hoạt động kinh doanh.
Các thông tin được coi là trọng yếu nếu không có hoặc xác đònh sai
những thông tin đó có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyết đònh kinh tế của
người sử dụng thông tin. Mức độ trọng yếu lại tùy thuộc vào mức độ của hạng
mục hoặc mức độ của các sai lầm mà trong hoàn cảnh cá biệt nào đó đã bò bỏ
sót hoặc xác đònh sai. Vì vậy, khái niệm trọng yếu đưa ra một ngưỡng hơn là
một đònh tính mà thông tin phải chứa đựng nếu nó là hữu ích.

trình bày chưa xác thực với tình hình thực tế, ví dụ thông tin không khách quan
vô tư hoặc do những khó khăn tiềm tàng trong việc xác đònh các nghiệp vụ, sự
kiện khác mà lẽ ra những thông tin đó phải được xác đònh một cách chuẩn xuất
phát từ những nghiệp vụ, những sự kiện thực tế. Trong một số trường hợp việc
tính toán ảnh hưởng tài chính của các chỉ tiêu có thể không thật chắc chắn đến
nỗi mà thường doanh nghiệp không dám công nhận chúng trong báo cáo tài
chính của mình, ví dụ, mặc dù hầu hết các doanh nghiệp trong quá trình kinh
doanh đều có cố gắng xây dựng uy tín nhưng thật khó tính toán khi xác đònh chỉ
tiêu này một cách đáng tin cậy. Trong những trường hợp khác, có thể sẽ là thích
hợp khi hạch toán các khoản mục và trình bày các rủi ro sai lầm xung quanh
việc hạch toán và đánh giá chúng.


Nội dung hơn hình thức

Nếu thông tin được trình bày một cách trung thực về những nghiệp vụ và
sự kiện khác mà chúng phải trình bày, điều cần thiết ở đây là những thông tin
đó được tính toán và trình bày phù hợp với bản chất kinh tế và hình thái sở hữu
chứ không đơn thuần chỉ là hình thức pháp lý của chúng. Hình thái của các giao
dòch hoặc các sự kiện khác không phải lúc nào cũng nhất quán với hình thức
pháp lý hoặc hình thức cơ cấu của chúng. Ví dụ, một doanh nghiệp có thể
nhượng bán một tài sản cho doanh nghiệp khác theo phương thức nào đó để lập
thành những chứng từ chuyển giao quyền sở hữu pháp lý cho người mua, nhưng
cũng có thể trong thỏa thuận mua bán sẽ có một điều khoản là doanh nghiệp
tiếp tục được hưởng các lợi ích kinh tế do tài sản này mang lại trong tương lai.
Trong những trường hợp như vậy việc báo cáo bán hàng sẽ không trình bày
được toàn bộ các nghiệp vụ phát sinh (nếu có giao dòch).

- 16 -



Đầy đủ

Để có độ tin cậy, các thông tin trong các báo cáo tài chính phải được
hoàn tất trong phạm vi những vấn đề trọng yếu và chi phí bỏ ra. Một sự bỏ sót
có thể gây ra những thông tin sai lệch dẩn đến những kết luận nhầm lẫn và như
vậy các thông tin không được coi là thích hợp vì chúng không đầy đủ và không
đáng tin cậy.


Có thể so sánh được

Người sử dụng phải có khả năng so sánh các thông tin trong các báo cáo
tài chính của kỳ này với kỳ trước để xác đònh xu hướng biến động về tình hình
tài chính và kinh doanh của doanh nghiệp. Người sử dụng cũng phải so sánh các

- 17 -


báo cáo tài chính của các doanh nghiệp khác nhau để đánh giá mối tương quan
về tình hình tài chính và tình hình kinh doanh và các thay đổi về tình hình tài
chính giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, việc xác đònh tính toán và trình bày các
ảnh hưởng tài chính của các giao dòch và các sự kiện khác như vậy phải được
tiến hành một cách nhất quán giữa kỳ này với các kỳ khác trong phạm vi một
doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp với nhau.
Một ngụ ý quan trọng của tính chất đònh tính về tính có thể so sánh được
là người sử dụng phải được thông báo về các chính sách kế toán mà doanh
nghiệp áp dụng để lập các báo cáo tài chính cũng như mọi thay đổi về các
chính sách này và ảnh hưởng của những thay đổi đó. Người sử dụng cần có thể
xác đònh sự khác biệt giữa các chính sách kế toán đối với các giao dòch và các



Cân đối giữa lợi ích và chi phí

Cân đối giữa lợi ích và chi phí là một hạn chế hơn là tính chất đònh tính.
Lợi ích từ các thông tin phải cao hơn những chi phí bỏ ra để có được thông tin
đó. Tuy nhiên, việc đánh giá lợi ích và chi phí chủ yếu là một quá trình xét
đoán.
Hơn nữa các chi phí không cần thiết là phải tính cho những người sử
dụng dù họ có thể hưởng lợi ích từ những thông tin mà họ thu được. Các lợi ích
cũng có thể người sử dụng thông tin được hưởng nhiều hơn là những người cung
cấp thông tin, ví dụ, việc cung cấp thông tin bổ sung cho những người cho vay
có thể làm giảm bớt các chi phí đi vay của doanh nghiệp.Vì vậy, sẽ rất là khó
khăn khi người ta kiểm tra tính toán cân đối giữa lợi ích và chi phí trong mọi
trường hợp cá biệt. Hơn nữa, những người soạn thảo các chuẩn mực nói riêng
cũng như những người lập và báo cáo tài chính phải nhận thức được hạn chế
này.


Cân đối giữa các tính chất đònh tính

Trên thực tế việc cân đối hoặc sự cân bằng giữa các tính chất đònh tính
thường là rất cần thiết. Nói chung thì việc đạt được sự cân đối hợp lý giữa các
tính chất đònh tính nhằm để đáp ứng mục đích của các báo cáo tài chính luôn
luôn là mục tiêu của người lập và người sử dụng các báo cáo tài chính. Tầm
quan trọng tương đối của các tính chất đònh tính trong những trường hợp khác
nhau đó là xét đoán chuyên môn.
b/ Yêu cầu đối với báo cáo quản trò
Nhìn chung yêu cầu đối với những thông tin trên báo cáo quản trò cũng
giống như những yêu cầu đối với những thông tin trên báo cáo tài chính nhưng

mang tính đa dạng và linh hoạt cao để giúp cho nhà quản trò ở các cấp độ quản
lý khác nhau trong doanh nghiệp đạt được hiệu quả cao nhất trong việc thực
hiện các chức năng quản lý của mình.

- 20 -


CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CỦA HỆ THỐNG BÁO CÁO
KẾ TOÁN ÁP DỤNG CHO CÔNG TY
DÂY VÀ CÁP ĐIỆN VIỆT NAM
2.1 GIỚI THIỆU CÔNG TY DÂY VÀ CÁP ĐIỆN VIỆT NAM (CADIVI)
VÀ BỘ MÁY KẾ TOÁN CÔNG TY
2.1.1 Vài nét về Công ty CADIVI
a/ Lòch sử hình thành Công ty CADIVI
Công ty Dây và Cáp Điện Việt Nam - CADIVI thành lập ngày 16-101975 theo Quyết đònh số 220/TC LK của Tổng cục trưởng Tổng cục Cơ Khí
Luyện Kim và Điện Tử với tên gọi lúc bấy giờ là Công Ty Dây Đồng Miền
Nam, trên cơ sở thống nhất quản lý các xí nghiệp thuộc ngành dây và cáp điện
của 10 doanh nghiệp tư nhân trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh và Khu Công
nghiệp Biên Hòa-Đồng Nai được hình thành trong chế độ cũ trước ngày miền
Nam hoàn toàn giải phóng - 30/4/1975, sau đó lần lượt được đổi tên:
• Công ty Luyện Kim Màu - Quyết đònh số 237/CP ngày 3-12-1976 của
Thủ tướng Chính Phủ.
• Xí nghiệp Liên Hiệp Cán Kéo Dây Đồng và Nhôm - Quyết đònh số 210
ngày 29-9-1982 của Bộ Trưởng Bộ Cơ Khí Luyện Kim.
• Xí nghiệp Liên Hiệp Dây và Cáp Điện - CADIVI - Quyết đònh số
207/CL-TC ngày 6-11-1989 của Bộ Trưởng Bộ Cơ Khí Luyện Kim.
• Công ty Dây và Cáp Điện Việt Nam - CADIVI - Quyết đònh số
238/CL-TC CBĐT ngày 23-03-1995 của Bộ Trưởng Bộ Công Nghiệp

Công ty Dây và Cáp điện Việt Nam thực hiện chế độ quản lý hai cấp:
cấp công ty và cấp các xí nghiệp phụ thuộc, trực thuộc. Công ty là cấp quản lý
tập trung thống nhất, các xí nghiệp thành viên tùy theo đặc điểm mà được công
ty phân quyền hạn và một số mặt quản lý nhất đònh. Hầu hết các xí nghiệp đều
hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế nội bộ trừ Xí nghiệp Khí Cụ Điện
2 hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế độc lập.
Ở công ty: giúp việc cho giám đốc có các phó giám đốc (phụ trách kinh
doanh, kỹ thuật) và các phòng chuyên môn (kế hoạch vật tư, tổ chức hành

- 22 -


Trích đoạn Thực tráng cụa heơ thông báo cáo quạn trị trong CAD Nhaơn xét rút ra từ thực tráng cụa Cođng ty Phương hướng hoàn thieơn heơ thông báo cáo kê toán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status