Hoàn Thiện Hệ Thống Báo Cáo Kế Toán Quản Trị Tại Công Ty Cổ Phần May10- Garco10 - Pdf 76

1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
----------ooOOoo-----------
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
ĐỀ TÀI:
CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN, KIỂM TOÁN VÀ PHÂN TÍCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Quý Liên
Hà nội , Năm 2009

1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp là rất lớn, Để
tồn tại và thích ứng với nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải
tìm mọi cách đối phó trước khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
khác. Kế toán quản trị là một trong những công cụ hỗ trợ trong những bước
đi của doanh nghiệp, có vai trò hết sức lớn trong việc cung cấp những
thông tin nền tảng, giúp nhà quản trị doanh nghiệp có những căn cứ khoa
học cho việc xây dựng kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định sản xuất kinh
doanh một cách chính xác và toàn diện. Hệ thống báo cáo quản trị là sản
phẩm cuối cùng của quá trình kế toán số liệu, cung cấp các thông tin cần
thiết cho doanh nghiệp.
Công ty May 10 là một doanh nghiệp nhà nước chuyên sản xuất,
kinh doanh may mặc thuộc Tổng công ty Dệt may Việt nam. Ra đời từ
những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp đến nay đã có hơn nửa
thế kỷ tồn tại và phát triển. Do nhu cầu thông tin về kế toán quản trị nên
Công ty cổ phần May10 cũng đã xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản
trị, tuy nhiên hệ thống này mới đáp ứng được những phần cơ bản về yêu
cầu cung cấp thông tin nên hệ thống báo cáo chưa hoàn chỉnh. Bên cạnh
đó, quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty ngày càng được mở

Phần II: Trên cơ sở lý luận đã xác lập, đi vào phân tích và đánh giá
thực trạng hệ thống báo cáo quản trị tại Công ty cổ phần May10
Phần III: Sau khi đánh giá thực trạng ở phần này sẽ đưa ra các giải
pháp nhằm hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại công ty
Để thực hiện bài luận văn của mình, em đã nghiên cứu các tài liệu
liên quan đến đề tài mình lựa chọn, đồng thời, kết hợp với quá trình thực tế
tại công ty, sử dụng phương pháp quan sát và phỏng vấn để thu thập những
thông tin tại công ty. Sau đó, sử dụng phương pháp so sánh đánh giá giữa
cơ sở lý luận với thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại công ty để
đưa ra các giải pháp thích hợp hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị
của công ty.
Khóa luận được thực hiện gồm 50 trang, 6 phụ lục, một số danh
mục, bảng biểu và hình vẽ. Ngoài lời mở đầu và kết luận, khóa luận tốt
nghiệp bao gồm các chương như sau:
 Chương 1: Lý luận chung về báo cáo kế toán quản trị
 Chương 2: Thực trạng vận dụng báo cáo kế toán quản trị tại Công
ty cổ phần May10
 Chương 3: Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị tại Công
ty cổ phần May10
4
Chương 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.1. Tổng quan về kế toán quản trị và báo cáo kế toán quản trị
1.1.1. Khái niệm
Có rất nhiều loại hình tổ chức khác nhau như các tổ chức kinh tế, các
tổ chức chính trị, xã hội. Đối với mỗi loại tổ chức đó lại có những mục tiêu
hoạt động khác nhau. Tuy nhiên chung qui lại các tổ chức đều phải có mục
tiêu hoạt động và các nhà quản lý của các tổ chức đều cần thông tin để điều
hành và kiểm soát hoạt động của tổ chức.
Theo luật kế toán Việt Nam, kế toán quản trị được định nghĩa là việc

xác định mục tiêu của tổ chức và xây dựng những phương thức để đạt được
mục tiêu đó. Dự toán ngân sách trong kế toán quản trị là một công cụ để kế
toán viên giúp ban quản trị trong quá trình lập kế hoạch và kiểm soát việc
thực hiện kế hoạch. Vì vậy, kế toán quản trị phải trên cơ sở đã ghi chép,
tính toán, phân tích chi phí, doanh thu, lợi nhuận, kết quả từng loại hoạt
động, từng sản phẩm, từng ngành hàng,…lập các bảng dự toán chi phí,
doanh thu, lợi nhuận, dự toán vốn …, để cung cấp thông tin trong việc phác
họa dự kiến tương lai nhằm mục đích phát triển doanh nghiệp.
6
1.1.2.2. Vai trò của báo cáo kế toán quản trị đối với việc kiểm soát
Để giúp các nhà quản trị thực hiện chức năng kiểm soát, kế toán
quản trị sẽ cung cấp các báo cáo thực hiện, rồi so sánh những số liệu thực
hiện so với kế hoạch hoặc dự toán, liệt kê tất cả các sự khác biệt và đánh
giá việc thực hiện. Các báo cáo này có tác dụng như một hệ thống thông tin
phản hồi để nhà quản trị biết được kế hoạch đang thực hiện như thế nào,
đồng thời nhận diện các vấn đề hạn chế cần có sự điều chỉnh, thay đổi
nhằm hướng hoạt động của tổ chức về mụch tiêu xác định.
1.1.2.3. Vai trò của báo cáo kế toán quản trị đối với việc ra quyết định
Chức năng ra quyết định đòi hỏi nhà quản trị phải có sự chọn lựa
thích hợp trong nhiều phương án khác nhau được đưa ra. Các quyết định
trong một tổ chức có thể là quyết định chiến lược ảnh hưởng lâu dài đến tổ
chức. Tất cả các quyết định đều có nền tản từ thông tin, và phần lớn thông
tin đều do kế toán quản trị cung cấp nhằm phục vụ chức năng ra quyết định
của nhà quản trị. Vì vậy, kế toán quản trị phải cung cấp thông tin linh hoạt
kịp thời và mang tính hệ thống, trên cơ sở đó phân tích các phương án thiết
lập để lựa chọn phương án tối ưu nhất cho việc ra quyết định. Các thông tin
cũng có thể diễn đạt dưới dạng mô hình toán học, đồ thị, biểu đồ, … để nhà
quản trị có thể xử lý nhanh chóng.
1.1.3. Tác dụng của báo cáo kế toán quản trị
1

tài chính và dòng thông tin này giúp cho nhà quản trị hoàn thành các chức
năng lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định. Vai trò
thông tin đối với nhà quản trị có thể biểu hiện qua những vấn đề cơ bản
sau:
2
TS. Phan Đức Dũng( 2008), Kế toán quản trị, Nhà xuất bản thống kê, T29
8
- Khi lập kế hoạch, nhà quản trị phải dựa chủ yếu vào tài liệu kế toán
từ khâu dự thảo
- Khi kiểm tra, nhà quản trị sử dụng những thông tin thực tế, thông
tin chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch, những thông tin kết hợp giữa thực
tế với dự báo đề điều chỉnh, đảm bảo tiến độ kế hoạch
- Khi tổ chức và điều hành, nhà quản trị cần và sử dụng một lượng
rất lớn thông tin kế toán, đặc biệt là những thông tin phát sinh hàng ngày để
kịp thời điều hành, tổ chức hoạt động như thông tin về giá thành ước tính,
thông tin về giá bán, thông tin lợi nhuận từ các phương án sản xuất kinh
doanh.
- Khi ra quyết định, thông tin kế toán thường là nhân tố chính trong
việc ra quyết định của nhà quản trị. Điều này được thể hiện rõ qua bản chất
của thông tin kế toán. Nó là thông tin mang tính chính xác cao, kịp thời,
hữu ích nhất so với thông tin từ những lĩnh vực, chuyên ngành khác.
1.3. Hệ thống báo cáo kế toán quản trị trong doanh nghiệp
Kế toán quản trị có vai trò rất lớn trong mỗi tổ chức kinh tế, là công
cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản lý từ bước hoạch định, kiểm soát để từ
đó có những quyết định đúng đắn về hoạt động sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp.
Hệ thống báo cáo kế toán quản trị được xây dựng và lập theo yêu cầu
quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp. Vì vậy, hệ thống báo cáo quản trị ở
từng đơn vị doanh nghiệp cũng không hoàn toàn giống nhau. Có nhiều cách
thức phân loại báo cáo kế toán quản trị nhưng chung qui lại, hệ thống báo

nội bộ doanh nghiệp những thông tin một các có hệ thống về toàn bộ kế
hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Dự toán sản xuất kinh doanh cung cấp những mục tiêu xác định để
làm căn cứ đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đó trong sự tác động lẫn
nhau giữa chúng.
Trên cơ sở dự toán sản xuất kinh doanh, giúp nhà quản trị các cấp
trong doanh nghiệp phát hiện ra những khâu sản xuất kinh doanh trì trệ,
còn tiềm ẩn cần được huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Dự toán sản xuất kinh doanh là một sự kết hợp chặt chẽ toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bằng các kế hoạch của từng bộ
phận khác nhau. Nhờ vậy, dự toán sản xuất kinh doanh đảm bảo cho các kế
hoạch của từng bộ phận phù hợp với các mục tiêu chung của cả doanh
nghiệp.
1.3.1.2. Căn cứ để lập dự toán sản xuất kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp
Để lập dự toán sản xuất kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp có tính
khả thi cao, khi lập dự toán, doanh nghiệp phải dựa vào những căn cứ sau:
- Dựa vào kế hoạch sản xuất, kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp:
Hệ thống kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm của doanh nghiệp
là hệ thống các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật- tài chính dựa trên cơ sở khai thác
mọi tiềm lực, mọi khả năng và dung các biện pháp xác thực và tỉ mỉ để
nhằm khai thác được đầy đủ nhất, có hiệu quả nhất năng lực sản xuất tối đa
của doanh nghiệp. Vì vậy, khi lập dự toán sản xuất, kinh doanh hàng năm
của doanh nghiệp phải lấy kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm để làm
căn cứ. Trong quá trình thực hiện dự toán sản xuất kinh doanh hàng năm,
11
kế toán quản trị phải thu thập những thông tin để phục vụ cho quản trị
doanh nghiệp điều hành và ra các quyết định kịp thời tổ chức thực hiện tốt
mọi nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Dựa vào các bản dự toán sản xuất, kinh doanh hàng năm của các
kỳ kinh doanh trước

đặc biệt quang trọng để lập các dự toán sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Vì vậy, khi lập dự toán sản xuất kinh doanh hàng năm, ngoài
những căn cứ đã được trình bày ở trên thì kế toán quản trị còn phải chỉ ra
những điều kiện về kinh tế của kỳ kinh doanh tới sẽ có biến động như thế
nào, như các yếu tố giá cả của các yếu tố đầu vào, vốn, giá bán các sản
phẩm trong tương lai, mức sống của dân cư, các điều kiện về qui trình công
nghệ, trình độ kỹ thuật của người lao động, năng lực sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp…
Việc phân tích đầy đủ và sâu sắc những điều kiện cụ thể về kinh tế-
kỹ thuật- tài chính sẽ giúp cho việc lập dự toán sản xuất kinh doanh hàng
năm của doanh nghiệp có thể đạt được tính khả thi cao và sẽ giúp khai thác
tốt mọi năng lực, tiềm năng của doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh của.
1.3.1.3. Hệ thống báo cáo dự toán
Hệ thống báo cáo dự toán sản xuất kinh doanh hàng năm của doanh
nghiệp thông thường có những báo cáo dự toán sau đây:
13
a). Dự toán tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp (Dự toán doanh thu)
4
Dự toán tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp là bản dự toán cần lập
đầu tiên và là căn cứ để xác định các dự toán khác. Ngoài ra còn dự kiến số
tiền thu được từ quá trình tiêu thụ, bán hàng và cung cấp dịch vụ. Dự toán
doanh thu có thể phân theo khu vực, theo lĩnh vực kinh doanh,…
Dự toán tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được lập dựa trên mức
tiêu thụ ước tính với đơn giá bán kế hoạch. Để ước tính được mức tiêu thụ
và đơn giá bán kế hoạch thường căn cứ vào các yếu tố: Khối lượng tiêu thụ
sản phẩm thực tế của các kỳ kinh doanh trước, chính sách giá cả trong
tương lai của doanh nghiệp, các đơn đặt hàng mà doanh nghiệp chưa thực
hiện, các yếu tố khác…
Dự toán tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được lập bằng cách

nguyên vật liệu trực tiếp dự trữ cuối kỳ.
Căn cứ vào nhu cầu sản xuất sản phẩm trong kỳ, số lượng nguyên vật
liệu trực tiếp dự trữ cuối kỳ để lập dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Trước tiên, cần dự toán Số lượng sản phẩm cần sản xuất trong kỳ sau
đó dựa vào Định mức nguyên vật liệu để tính Khối lượng nguyên vật liệu
trực tiếp cần dùng cho sản xuất trong kỳ bằng cách nhân hai chỉ tiêu trên
với nhau. Sau đó căn cứ vào nguyên vật liệu trực tiếp dự trữ cuối kỳ và
nguyên vật liệu trực tiếp dự trữ đầu kỳ để tính ra Nguyên vật liệu cần mua
trong kỳ bằng cách lấy Khối lượng nguyên vật liệu trực tiếp cần dùng trong
kỳ cộng với Khối lượng nguyên vật liệu trực tiếp dự trữ cuối kỳ trừ đi Khối
lượng nguyên vật liệu trực tiếp dự trữ đầu kỳ.
6
Mẫu dựa toán được trình bày dựa theo PGS.TS.Nguyễn Năng Phúc(2008)Sách kế toán quản trị doanh
nghiệp- NXB tài chính, Trang 164
15
d). Dự toán chi phí nhân công trực tiếp của doanh nghiệp
7
Thông qua lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp, quản trị doanh
nghiệp có thể chủ động trong việc sử dụng lao động sống một cách có hiệu
quả nhất, tránh tình trạng thiếu hoặc thừa lao động, gây khó khăn cho quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, dự toán chi phí
nhân công trực tiếp cũng là cơ sở để lập dự toán tiền mặt trong năm của
doanh nghiệp.
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp có thể được lập dựa vào tổng
mức thời gian lao động đã hao phí theo giờ công và đơn giá tiền lương cho
một giờ công hao phí hoặc có thể căn cứ vào khối lượng sản phẩm hay
công việc đã dự toán trong kỳ với chi phí tiền lương cho một đơn vị sản
phẩm hay công việc.
Có hai cách lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Cách 1: Dự toán ch phí nhân công trực tiếp trong kỳ được tính bằng

9
Mục đích lập dự toán nhằm xác định tổng chi phí dự kiến về chi phí
bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp, là các khoản chi phí ước tính sẽ
phát sinh trong kỳ dự toán trong lĩnh vực ngoài sản xuất. Dự toán chi phí
bán hàng là dự toán các khoản chi phí phát sinh ở khâu tiêu thụ sản phẩm
8
Mẫu dựa toán được trình bày dựa theo PGS.TS.Nguyễn Năng Phúc(2008)Sách kế toán quản trị doanh
nghiệp- NXB tài chính, Trang 168
9
Mẫu dựa toán được trình bày dựa theo PGS.TS.Nguyễn Năng Phúc(2008)Sách kế toán quản trị doanh
nghiệp- NXB tài chính, Trang 169
17
hàng hóa, còn dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp là dự toán các khoản
chi phí phát sinh trong quá trình quản lý doanh nghiệp. Có thể lập dự toán
hai loại chi phí này căn cứ vào tính chất tác động của chi phí theo kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Căn cứ để lập dự toán thường được dựa vào đó là dự toán doanh thu
(các khoản chi phí phát sinh kèm theo doanh thu), các bản dự thảo nhỏ hơn
và các bản dự thảo cá nhân về chi phí do những người có trách nhiệm ở bộ
phận bán hàng và quản lý lập.
Để lập dự toán, trước tiên là xác định chi phí bán hàng và chi phí
quản lý khả biến bằng cách lấy số lượng sản phẩm tiêu thụ dự kiến nhân
với chi phí bán hàng và quản lý cho một đơn vị sản phẩm, sau đó cộng với
chi phí bán hàng và chi phí quản lý bất biến để tính tổng chi phí bán hàng
và quản lý dự kiến.
g). Dự toán thành phẩm tồn kho cuối kỳ
10
Lập dự toán thành phẩm tồn kho cuối kỳ cũng có ý nghĩa rất lớn đối
với quản trị doanh nghiệp. Thông qua lập dự toán thành phẩm tồn kho cuối
kỳ, quản trị doanh nghiệp sẽ cân nhắc kỹ lưỡng số lượng thành phẩm dự trữ

hình lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp vào cuối kỳ kế hoạch nếu mọi kế
hoạch kinh doanh diễn ra đúng dự kiến. Việc lập dự toán này sẽ giúp doanh
nghiệp tách được số dư tiền mặt với nhu cầu sử dụng tiền để từ đó nhà quản
lý có thể sử dụng số tiền mặt dư ra để đầu tư ngắn hạn. Mặt khác, báo cáo
dự toán tiền cũng sẽ giúp cho việc tính toán để đảm bảo thấy trước sự thiếu
hụt về tiền cho hoạt động kinh doanh và cho các khoản mua sắm lớn, từ đó
có kế hoạch vay mượn tiền được lập ra nhằm đảm bảo chắc chắn rằng các
11
Mẫu dựa toán được trình bày dựa theo PGS.TS.Nguyễn Năng Phúc(2008)Sách kế toán quản trị doanh
nghiệp- NXB tài chính, Trang 172
12
Mẫu dự toán được trình bày dựa theo Sách kế toán quản trị doanh nghiệp- Nhà xuất bản tài chính năm
2008, Trang 174
19
khoản vay sẽ có sẵn để đáo ứng sự thiếu hụt về tiền. Ngoài ra qua dự toán
này cũng giúp cho việc lập kế hoạch trả nợ, trả lãi vay, trả cổ tức.
Dựa vào dự toán doanh thu (lượng tiền dự kiến thu được), dự toán
chi phí và yêu cầu mức dự trữ tiền tối thiểu.
Các chỉ tiêu được lấy từ các dự toán chi tiết như dự toán doanh thu
(các khoản sẽ thu được), dự toán chi phí (các khoản chi sẽ được chi ra
không bao gồm cả các khoản chi không bằng tiền như chi phí khấu hao tài
sản cố định, chi phí phân bổ công cụ dụng cụ). Thực chất của khoản thu chi
bao gồm các khoản thực thu và thực chi bằng tiền. Trên cơ sở tổng hợp
doanh thu và chi phí tính toán phần cân đối thu chi( nếu bội chi, quản lý
doanh nghiệp cần lập dự toán vay thêm tiền mặt ở ngân hàng hoặc các đơn
vị tổ chức hoặc cá nhân khác, nếu bội thu, quản trị doanh nghiệp cần lập dự
toán để thanh toán các khoản nợ vay hoặc đầu tư vào các hoạt động tài
chính ngắn hạn…).
j). Dự toán bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp
13

loại chi phí được sử dụng trong quá trình sản xuất trong kỳ, căn cứ vào giá
trị sản phẩm dở dang đầu kỳ, giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ để lập báo
cáo.
1.3.2.3. Phiếu tính giá thành công việc
16
Đối với các công ty sản xuất, có nhiều xí nghiệp, nhiều loại sản
phẩm, nhiều dây chuyền sản xuất, nhiều đợt sản xuất thì phiếu tính giá
thành công việc sẽ ghi lại những thông tin cụ thể từng lô sản xuất những
14
Mẫu báo cáo theo Phụ lục 03, 04- Thông tu 53/2006/ TT-BTC ngày 12/02/2006 Bộ tài chính
15
Mẫu báo cáo theo Phụ lục 05a, 05b - Thông tu 53/2006/ TT-BTC ngày 12/02/2006 Bộ tài chính
16
Mẫu báo cáo theo Phụ lục 01 - Thông tu 53/2006/ TT-BTC ngày 12/02/2006 Bộ tài chính
21
loại chi phí, số lượng sản xuất, số lượng sản phẩm hoàn thành, ngày hoàn
thành của đợt sản xuất đó.
Căn cứ vào định mức nguyên vật liệu, giá thành nhân công để sản
xuất sản phẩm, định mức các loại chi phí sản xuất chung để tính các loại
chi phí cho từng loại sản phẩm sản xuất.
Phiếu tính giá thành công việc là cơ sở ghi lại những thông tin bổ ích
để các kế toán tổng hợp lại thành các báo cáo, từ đó các nhà quản trị sẽ sử
dụng thông tin đó để đánh giá và ra được các quyết định cụ thể.
1.3.2.4. Báo cáo tình hình sử dụng lao động và năng suất lao động
17
Báo cáo tình hình sử dụng lao động của doanh nghiệp được lập dưới
nhiều góc độ khác nhau. Có thể lập báo cáo về tình hình sử dụng lao động,
số lượng lao động, thời gian lao động… hoặc có thể lập báo cáo sử dụng
lao động cho từng bộ phận, từng phân xưởng sản xuất hoặc cho toàn bộ
doanh nghiệp.

làm khan hiếm hàng hóa.
1.3.2.7. Báo cáo dự báo vật tư theo kế hoạch sản xuất, kinh doanh
20
Báo cáo dự báo vật tư theo kế hoạch sản xuất kinh doanh nhằm cung
cấp cho các đơn vị, những người quản lý, chịu trách nhiệm chính những
thông tin cần thiết về nhu cầu sử dụng vật tư, hàng hóa, số liệu về tồn kho,
để xác định số lượng cần bổ sung để nhằm đáp ứng kịp thời cho quá trình
sản xuất kinh doanh, tránh tình trạng không đáp ứng đủ nhu cầu cần có
trong kỳ, làm ảnh hưởng xấu đến kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Căn cứ để xác định các chỉ tiêu trong báo cáo là kế hoạch kinh
doanh, nhu cầu của các đơn hàng cần sản xuất.
19
Mẫu báo cáo theo Phụ lục 11, 12 - Thông tu 53/2006/ TT-BTC ngày 12/02/2006 Bộ tài chính
20
Mẫu báo cáo theo Phụ lục 16 - Thông tu 53/2006/ TT-BTC ngày 12/02/2006 Bộ tài chính
23
1.3.2.8. Báo cáo bán hàng
21
Báo cáo bán hàng sẽ cung cấp số liệu về tình hình bán buôn, bán lẽ
theo từng sản phẩm của doanh nghiệp. Báo cáo này sẽ cung cấp các dữ liệu
về giá bán, giá vốn, số lượng, doanh thu, chi phí bán hàng và lãi lỗ theo
từng đơn vị sản phẩm theo hình thức bán buôn và bán lẽ của doanh nghiệp.
Để lập được báo cáo bán hàng, nhà quản trị doanh nghiệp căn cứ vào
sổ chi tiết bán hàng, sổ chi tiết chi phí bán hàng của từng loại sản phẩm
theo số kế hoạch và trong quá trình thực hiện. Các hình thức bán bao gồm
bán buôn, bán lẽ. Sau đó tính toán lãi (lỗ) hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.3.2.9. Báo cáo theo dõi chi tiết các khoản nợ phải trả, nợ phải thu
22
Những báo cáo này thường tiềm ẩn tình hình rủi ro trong kinh doanh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status