Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Lý luận về dự án và quản lý dự án đầu tư
1. Khái niệm về dự án và quản lý dự án đầu tư
1.1. Khái niệm dự án
1.1.1. Khái niệm
Có nhiều cách định nghĩa dự án. Tuỳ theo mục đích mà nhấn mạnh một
khía cạnh nào đó. Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án: cách
hiểu “tĩnh” và cách hiểu “động”. Theo cách hiểu thứ nhất “tĩnh” thì dự án là
hình tượng về một tình huống (một trạng thái) mà ta muốn đạt tới. Theo cách
hiểu thứ hai “động” có thể định nghĩa dự án như sau:
Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một
nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực
riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.
Như vậy theo định nghĩa này thì:
- Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu
xác định.
- Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà phải cấu trúc nên
một thực thể mới.
Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau:
Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch
vụ duy nhất.
Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính:
- Nỗ lực tạm thời (hay có thời hạn). Nghĩa là, mọi dự án đầu tư đều có
điểm bắt đầu và điểm kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu của
dự án đã đạt được hoặc khi xác định rõ ràng mục tiêu của dự án không
thể đạt được và dự án bị loại bỏ.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất. Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất là sản
- Môi trường hoạt động “va chạm”. Quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia
nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của một tổ chức. Dự án “cạnh
tranh” lẫn nhau và với các bộ phận chức năng khác về tiền vốn, nhân lực,
thiết bị... Một số trường hợp, các thành viên quản lý dự án thường có hai
thủ trưởng trong cùng một thời gian nên sẽ gặp khó khăn không biết thực
hiện quyết định nào của cấp trên khi hai lệnh mâu thuẫn nhau.
- Tính bất định và độ rủi ro cao. Hầu hết các dự án đòi hỏi lượng tiền vốn,
vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất
định. Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu
tư phát triển thường có độ rủi ro cao.
1.1.2. Chu kỳ của dự án đầu tư
Chu kỳ của hoạt động đầu tư là các giai đoạn mà một dự án phải trải qua
bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt
hoạt động.
Ta có thể minh hoạ chu kỳ của dự án theo sơ đồ sau đây:
Chu kỳ một dự án đầu tư được thể hiện thông qua ba giai đoạn: Giai
đoạn tiền đầu tư (Chuẩn bị đầu tư), giai đoạn đầu tư (Thực hiện đầu tư) và giai
đoạn vận hành các kết quả đầu tư (Sản xuất kinh doanh). Mỗi giai đoạn lại
được chia làm nhiều bước. Chúng ta có thể sơ đồ hoá như sau:
3
Ý đồ
về dự
án đầu
tư
Ý đồ
về dự
án đầu
tư
Chuẩn bị
khả thi
sơ bộ
lựa
chọn
dự án.
Nghiên
cứu
khả thi
( Lập
dự án
BCNC
KT )
Đánh
giá
và
quyết
định
(thẩm
định
dự án)
Đàm
phán
và
kí kết
các
hợp
đồng
Thiết
kế
và
ở
mức
độ
cao
nhất.
Công
suất
giảm
dần và
thanh
lý.
Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến
hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ sung cho
nhau nhằm nâng cao dần mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu và tạo
thuận lợi cho việc tiến hành nghiên cứu ở các bước kế tiếp.
Trên cơ sở chu kỳ một dự án đầu tư chúng ta có thể đưa ra một số nhận
xét cơ bản sau đây:
- Trong 3 giai đoạn trên đây, giai đoạn chuẩn bị đầu tư (tiền đầu tư) tạo
tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở 2 giai đoạn sau, đặc
biệt là đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư. Do đó, đối với giai
đoạn chuẩn bị đầu tư, vấn đề chất lượng, vấn đề chính xác của các kết
quả nghiên cứu, tính toán và dự đoán là quan trọng nhất. Trong quá trình
soạn thảo dự án phải dành đủ thời gian và chi phí theo đòi hỏi của các
nghiên cưú. Tổng chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư chiếm từ 0,5 đến
15% vốn đầu tư của dự án. Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư sẽ tạo tiền
đề cho việc sử dụng tốt 85 đến 99,5% vốn đầu tư của dự án ở giai đoạn
thực hiện đầu tư (đúng tiến độ, không phải phá đi làm lại, tránh được
những chi phí không cần thiết khác ...) Điều này cũng tạo cơ sở cho quá
4
Bảng 1.1. Các bước công việc của một dự án đầu tư.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.2.1. Khái niệm
Phương pháp quản lý dự án lần đầu được áp dụng trong lĩnh vực quân sự
Mỹ vào những năm 1950, đến nay nó nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi vào
các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng và xã hội. Có hai lực lượng cơ bản thúc đẩy
sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp quản lý dự án là:
- Nhu cầu ngày càng tăng những hàng hoá và dịch vụ sản xuất phức tạp,
kỹ nghệ tinh vi, trong khi khách hàng ngày càng khó tính;
- Kiến thức của con người (hiểu biết tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật)
ngày càng tăng.
Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực
và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành
đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã
định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và
điều kiện tốt nhất cho phép.
Quản lý dự án bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu. Đó là việc lập kế hoạch,
điều phối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí
thực hiện và thực hiện giám sát các công việc dự án nhằm đạt được các mục
tiêu xác định.
- Lập kế hoạch. Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định những công
việc cần được hoàn thành, nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là
quá trình phát triển một kế hoạch hành động theo trình tự logic mà có thể
biểu diễn dưới dạng sơ đồ hệ thống.
- Điều phối thực hiện dự án. Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao
gồm: tiền vốn, lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và
quản lý tiến độ thời gian. Giai đoạn này chi tiết hoá thời hạn thực hiện
cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc).
- Giám sát là quá trình theo dõi, kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình
hình hoàn thành, giải quyết những vấn để liên quan và thực hiện báo cáo
Lập kế hoạch
Giám sát
Giám sát
Điều phối thực hiện
Điều phối thực hiện
- Thiết lập mục tiêu.
- Điều tra nguồn lực.
- Xây dựng kế hoạch.
- Thiết lập mục tiêu.
- Điều tra nguồn lực.
- Xây dựng kế hoạch.
- Đo lường kết quả.
- So sánh với mục tiêu.
- Báo cáo.
- Giải quyết các vấn đề.
- Đo lường kết quả.
- So sánh với mục tiêu.
- Báo cáo.
- Giải quyết các vấn đề.
- Điều phối tiến độ thời
gian.
- Phân phối nguồn lực.
- Phối hợp các nỗ lực.
- Khuyến khích và động
viên cán bộ và nhân viên.
- Điều phối tiến độ thời
gian.
- Phân phối nguồn lực.
- Phối hợp các nỗ lực.
- Khuyến khích và động
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
2. Nội dung của quản lý dự án
2.1. Quản lý vĩ mô và vi mô đối với dự án
2.1.1. Quản lý vĩ mô đối với hoạt động dự án
Quản lý vĩ mô hay quản lý nhà nước đối với dự án bao gồm tổng thể các
biện pháp vĩ mô tác động đến các yếu tố của quá trình hình thành, hoạt động và
kết thúc dự án.
Trong quá trình triển khai thực hiện dự án, nhà nước mà đại diện là các
cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế luôn theo dõi chặt chẽ, định hướng và chi
phối hoạt động của dự án nhằm đảm bảo cho dự án đóng góp tích cực vào việc
phát triển kinh tế – xã hội. Những công cụ quản lý vĩ mô chính của nhà nước để
quản lý dự án bao gồm các chính sách, kế hoạch, quy hoạch như chính sách về
tài chính tiền tệ, tỷ giá, lãi suất, chính sách đầu tư, chính sách thuế, hệ thống
luật pháp, những quy định về chế độ kế toán, thống kê, bảo hiểm, tiền lương...
2.1.2. Quản lý vi mô đối với hoạt động dự án
Quản lý dự án ở tầm vi mô là quá trình quản lý các hoạt động cụ thể của
dự án. Nó bao gồm nhiều khâu công việc như lập kế hoạch, điều phối, kiểm
soát... các hoạt động dự án. Quản lý dự án bao gồm hàng loạt vấn đề như: Quản
lý thời gian, chi phí, nguồn vốn đầu tư, rủi ro, quản lý hoạt động mua bán...
Quá trình quản lý được thực hiện trong suốt các giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư,
thực hiện đầu tư đến giai đoạn vận hành kết quả của dự án.Trong từng giai
đoạn, tuy đối tượng quản lý cụ thể có khác nhau nhưng đều phải gắn với 3 mục
tiêu cơ bản của hoạt động quản lý dự án là: thời gian, chi phí và kết quả hoàn
thành.
2.2. Lĩnh vực quản lý dự án
Theo đối tượng quản lý, quản lý dự án gồm 9 lĩnh vực chính cần được
xem xét, nghiên cứu là:
* Quản lý phạm vi.
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
* Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán.
Quản lý hợp đồng và hoạt động mua bán của dự án là quá trình lựa chọn,
thương lượng, quản lý các hợp đồng và điều hành việc mua bán nguyên vật
liệu, trang thiết bị, dịch vụ,... cần thiết cho dự án. Quá trình quản lý này giải
quyết vấn đề: bằng cách nào dự án nhận được hàng hoá và dịch vụ cần thiết của
các tổ chức bên ngoài cung cấp cho dự án, tiến độ cung, chất lượng cung như
thế nào?
* Lập kế hoạch tổng quan.
Lập kế hoạch tổng quan cho dự án là quá trình tổ chức dự án theo một
trình tự logic, xác định những công việc cần làm, nguồn lực thực hiện và thời
gian làm những công việc đó nhằm hoàn thành tốt mục tiêu đã xác định của dự
án. Kế hoạch dự án là việc chi tiết hoá các mục tiêu dự án thành những công
việc cụ thể và hoạch định một chương trình để thực hiện các công việc đó nhằm
đảm bảo các lĩnh vực quản lý khác nhau của dự án đã được kết hợp một cách
chính xác và đầy đủ.
Kế hoạch dự án bao gồm nhiều loại kế hoạch như: kế hoạch tổng thể về
dự án, kế hoạch tiến độ, kế hoạch ngân sách, kế hoạch phân phối nguồn lực...
2.3. Quản lý theo chu kỳ của dự án
Dự án là một thực thể thống nhất, thời gian thực hiện dài và có độ bất
định nhất định nên các tổ chức, đơn vị thường chia dự án thành một số giai
đoạn để quản lý thực hiện. Mỗi giai đoạn được đánh dấu bởi việc thực hiện một
hoặc nhiều công việc. Tổng hợp các giai đoạn này được gọi là chu kỳ dự án.
Chu kỳ dự án xác định điểm bắt đầu, điểm kết thúc và thời hạn thực hiện dự án.
Chu kỳ dự án xác định những công việc nào sẽ được thực hiện trong từng pha
và ai sẽ tham gia thực hiện. Nó cũng chỉ ra những công việc còn lại nào ở giai
đoạn cuối sẽ thuộc và không thuộc phạm vi dự án. Thông qua chu kỳ dự án có
thể nhận thấy một số đặc điểm: Thứ nhất, mức chi phí và yêu cầu nhân lực
thường là thấp khi bắt đầu dự án, tăng cao hơn vào thời kỳ phát triển, nhưng
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
3.1.2. Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án
Mô hình tổ chức “Chủ nhiệm điều hành dự án” là mô hình tổ chức trong
đó chủ đầu tư giao cho ban quản lý điều hành dự án chuyên ngành làm chủ
nhiệm điều hành hoặc thuê tổ chức có năng lực chuyên môn để điều hành dự án
và họ được đại diện toàn quyền trong mọi hoạt động thực hiện dự án. Chủ
nhiệm điều hành dự án là một pháp nhân độc lập, có năng lực, sẽ là người quản
lý, điều hành và chịu trách nhiệm về kết quả đối với toàn bộ quá trình thực hiện
dự án. Mọi quyết định của chủ đầu tư về dự án mà liên quan đến các đơn vị
thực hiện sẽ được triển khai thông qua chủ nhiệm điều hành dự án. Hình thức
này áp dụng cho những dự án quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Chủ đầu tư – Chủ dự án.
Chủ đầu tư – Chủ dự án.
Tổ chức thực
hiện dự án I
Tổ chức thực
hiện dự án I
Tổ chức thực
hiện dự án II
Tổ chức thực
hiện dự án II
Tổ chức thực
hiện dự án III
Tổ chức thực
hiện dự án III
Tổ chức thực
hiện dự án n
Tổ chức thực
hiện dự án n
Tổ chức thực
hiện dự án II
Lập dự toán
Lập dự toán
Khảo sát
Khảo sát
Thiết kế
Thiết kế
...
...
Xây lắp
Xây lắp
Hình 1.5. Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án.
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
3.1.4. Mô hình tự thực hiện
Hình thức tự thực hiện dự án là mô hình quản lý mà chủ đầu tư không
thuê các nhà quản lý dự án chuyên trách làm tư vấn cũng như quản lý dự án.
Chủ đầu tư có đủ năng lực thực hiện, quản lý hoạt động sản xuất, xây dựng,
phù hợp với yêu cầu dự án.
3.2. Căn cứ vào vai trò và trách nhiệm của người lãnh đạo dự án
3.2.1. Tổ chức quản lý dự án theo chức năng
Hình thức tổ chức dự án theo chức năng có đặc điểm là:
Chủ đầu tư - Chủ dự án.
Chủ đầu tư - Chủ dự án.
Thuê tư vấn hoặc tự lập dự án.
Thuê tư vấn hoặc tự lập dự án.
Chọn tổng thầu
(Chủ nhiệm điều hành dự án)
Chọn tổng thầu
chuyên môn và kinh nghiệm của mình.
Nhược điểm:
- Đây là cách quản lý không theo yêu cầu khách hàng.
- Vì dự án được đặt dưới sự quản lý của một bộ phận chức năng nên bộ
phận này thường có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến việc hoàn thành
nhiệm vụ chính khác của nó mà không tập trung cố gắng vào việc giải
quyết thoả đáng các vấn đề của dự án. Các bộ phận chức năng khác có
trách nhiệm tham gia dự án cũng có tình hình tương tự. Trong một vài
trường hợp, dự án không nhận được ưu tiên cần thiết, vì vậy không đủ
phương tiện để hoạt động hoặc bị coi nhẹ.
3.2.2. Tổ chức chuyên trách quản lý dự án
Hình thức tổ chức chuyên trách dự án về thực chất là tạo ra một xí
nghiệp con do một chủ nhiệm dự án quản lý. Mô hình tổ chức này có dạng như
hình 1.7
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Ưu điểm:
- Đây là hình thức tổ chức theo yêu cầu khách hàng nên có thể phản ứng
nhanh trước yêu cầu của thị trường.
- Nhà quản lý dự án có đầy đủ quyền lực đối với dự án.
- Tất cả các thành viên của dự án chịu sự điều hành trực tiếp của chủ
nhiệm dự án (chứ không phải những người đứng đầu các bộ phận chức
năng điều hành).
- Do dự án tách khỏi các phòng chức năng nên đường thông tin được rút
ngắn.
Nhược điểm:
- Thứ nhất, khi công ty hay chủ đầu tư thực hiện đồng thời vài dự án và
phải đảm bảo đủ số cán bộ cho từng dự án thì có thể dẫn đến tình trạng
lãng phí nhân lực.
Giám đốc
chính
Tiếp
thị
Tiếp
thị
Sản
xuất
Sản
xuất
Tài
chính
Tài
chính
Tiếp
thị
Tiếp
thị
Sản
xuất
Sản
xuất
Hình 1.7. Mô hình tổ chức chuyên trách quản lý dự án
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
- Thứ hai, do yêu cầu phải hoàn thành tốt mục tiêu về hoàn thiện, thời
gian, chi phí của dự án nên nhà quản lý dự án có xu hướng thuê chuyên
gia giỏi vì nhu cầu dự phòng hơn là đáp ứng nhu cầu thực.
3.2.3. Tổ chức quản lý dự án dạng ma trận
Loại hình tổ chức dự án dạng ma trận là sự kết hợp 2 loại hình tổ chức
dự án theo chức năng và dạng chuyên trách dự án.
nghệ liên lạc viễn thông được thực hiện nhờ công nghệ vi điện tử.
Sự hình thành của công nghệ thông tin được minh hoạ như ở hình vẽ 1.8.
Liên lạc là công nghệ lâu đời nhất trong số 3 công nghệ kể trên. Các hệ thống
liên lạc bằng điện đã phát triển suốt từ những năm 1840. Công nghệ máy tính
ra đời từ những năm 1940, thoạt đầu vì những mục đích quân sự. Công nghệ vi
điện tử bắt đầu từ những năm 1960 và đã sớm dẫn đến sự hội tụ nhanh chóng
của cả 2 công nghệ lâu đời hơn thành một công nghệ mới mà ngày nay chúng ta
gọi là Công nghệ thông tin.
1.1.2. Quá trình phát triển
Liên lạc
viễn thông.
Liên lạc
viễn thông.
Truyền tin
Truyền tin
Xử lý thông tin
Xử lý thông tin
Quản lý
thông tin.
Quản lý
thông tin.
+ Máy tính.
+ Máy tính.
= Công nghệ thông
tin.
= Công nghệ thông
tin.
Hình 1.8. Sự hình thành công nghệ thông tin.
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Cuộc cách mạng thông tin thứ ba đánh dấu bằng sự ra đời kỹ thuật in, tạo
khả năng chưa từng thấy để thông tin và tri thức truyền bá qua thời gian và
không gian, vượt qua các rào cản ngăn cách giữa các nền văn hoá và văn minh,
tạo ra quá trình toàn cầu hoá mới với tốc độ nhanh gấp nhiều lần, đồng thời góp
phần thúc đẩy nhanh chóng diễn biến của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
nhất. Nhờ cuộc cách mạng thông tin lần thứ ba, thông tin và tri thức của nhân
loại được nhân bản, xử lý, truyền bá rộng khắp và trở thành tài sản chung của
loài người.
Cuộc cách mạng thông tin thứ tư hình thành trên cơ sở các thiết bị truyền
thông bằng điện và điện tử (điện thoại, điện báo, radio, truyền hình) đã thúc đẩy
sự truyền bá rất nhanh chóng mọi loại hình thông tin và tri thức trên quy mô
toàn cầu. Cuộc cách mạng thông tin này gắn liền với cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ hai và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình quốc tế hoá lực lượng sản
xuất và phân công lao động trên quy mô quốc tế.
Cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm: Những thành quả của cuộc cách
mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã thúc
đẩy mạnh mẽ sự xuất hiện cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm với đặc điểm
nổi bật là các hệ thống siêu lộ cao tốc thông tin (super highways), các hạ tầng
cơ sở thông tin quốc gia (NII – National information infrastructure), hạ tầng cơ
sở thông tin khu vực (RII – Regional information infrastructure) và hạ tầng cơ
sở thông tin toàn cầu (GII – Global information infrastructure). Trong đó, biểu
trưng đặc sắc nhất và nổi bật nhất là mạng Internet.
Cuộc cách mạng thông tin lần thứ năm đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình
toàn cầu hóa diễn ra trong tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội, khoa học công
nghệ, chính trị, quân sự..., đồng thời đang tạo ra những thách thức mới đối với
các quan niệm truyền thống về tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội loài
người. Mặc dù chưa có thể dự đoán được hết các tác động của mạng Internet
đối với loài người nhưng trên thực tế, cuộc cách mạng thông tin lần này đang
21
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
định: “Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như công nghệ
thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nền kinh tế quốc dân”.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh: “ứng
dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra sự
chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế... Hình
thành mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc tế”. Để
thể chế hoá về mặt Nhà nước, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 49/CP
ngày 04/8/1993 về “Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những
năm 90”.
Thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, từ những năm 70 công
nghệ thông tin ở nước ta đã được ứng dụng và phát triển, góp phần quan trọng
thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, Đảng và Nhà nước ta nhận định: Công nghệ thông tin Việt
Nam hiện nay vẫn đang ở tình trạng lạc hậu, phát triển chậm, có nguy cơ tụt
hậu xa hơn với nhiều nước trên thế giới và khu vực.Việc ứng dụng công nghệ
thông tin chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá và yêu cầu về hội nhập khu vực và quốc tế, vai trò động lực và tiềm năng
to lớn của công nghệ thông tin chưa được phát huy mạnh mẽ ... , ứng dụng
công nghệ thông tin ở một số nơi còn hình thức, chưa thiết thực và còn lãng
phí.
Nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã
hội về vai trò của công nghệ thông tin chưa đầy đủ; thực hiện chưa triệt để các
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; chưa kết hợp chặt chẽ ứng dụng
công nghệ thông tin với quá trình cơ cấu lại sản xuất, kinh doanh, cải cách hành
chính, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và Nhà nước; chậm ban hành
các chính sách đáp ứng nhu cầu ứng dụng và phát triển công nghệ thông
tin ; ...; chưa coi đầu tư cho xây dựng hạ tầng thông tin là loại đầu tư xây dựng
hạ tầng kinh tế, xã hội.
còn thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của các chuyên gia
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
công nghệ thông tin, lập trình viên trong Tổng Công ty bằng các chương trình
đào tạo thường xuyên.
Trong thời gian tới, Tổng Công ty điện lực Việt Nam sẽ xây dựng và áp
dụng đồng bộ hệ thống tiêu chuẩn công nghệ thông tin trong toàn ngành điện;
sản xuất các sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin không chỉ cho ngành
điện mà hướng tới cung cấp cho thị trường công nghệ thông tin Việt Nam. Kết
hợp với các hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng cho thị trường
viễn thông Việt Nam, Tổng Công ty Điện lực Việt Nam đang xây dựng các
phần mềm quản lý viễn thông công cộng và khai thác các dịch vụ gia tăng trên
Internet.
1.2.2. Vai trò của công nghệ thông tin trong hoạt động của EVN
Nhờ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của mình, EVN đã
thu được một số thành công sau đây:
- Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng suất lao động của đội
ngũ cán bộ công nhân viên. Được đào tạo các kiến thức về công nghệ
thông tin và đồng thời được trang bị các phương tiện làm việc hiện đại đã
giúp cho đội ngũ cán bộ quản lý, kĩ sư của EVN thực hiện công việc của
mình với năng suất và hiệu quả cao hơn trước kia. Họ không còn phải
dành nhiều thời gian cho tính toán và xử lý công việc một cách thủ công
nữa, mà sẽ có nhiều thời gian hơn tập trung vào việc phân tích và xử lý
nghiệp vụ.
- Hình thành nên một mô hình tổ chức quản lý tiên tiến, một môi trường
làm việc hiện đại. Với việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt
động của mình đã giúp cho EVN có được một mô hình tổ chức quản lý
tiến bộ. Một hệ thống thông tin thông suốt được nối từ lãnh đạo cấp cao
của EVN tới các đơn vị trực thuộc. Điều đó giúp cho các cấp lãnh đạo
nhanh chóng nắm bắt tình hình hoạt động của các đơn vị từ đó mà có các