“DẠY KỸ NĂNG LÀM VĂN –MỘT GIẢI PHÁP QUAN TRỌNG
GIÚP HỌC SINH LỚP 12 THI ĐẠI HỌC ĐẠT KẾT QUẢ CAO.”
- Người viết: Nguyễn Văn Lự
- Giáo viên Ngữ văn, trường THPT Vĩnh Yên, TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
- Đối tượng học sinh bồi dưỡng: lớp 12.
- Số tiết bồi dưỡng phần kỹ năng làm văn: 24 trong 80 ca
A. ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO THAM LUẬN
Báo cáo tham luận gồm bốn phần:
I.
Vài nét về công tác ôn thi đại học, cao đẳng (ÔTĐH,CĐ) Ngữ văn Lớp 12.
II.
Những giải pháp giúp học sinh lớp 12 ÔTĐH, CĐ môn Ngữ văn hiệu quả.
III. Những kết quả triển khai chuyên đề tại trường THPT Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc.
IV. Một vài kiến nghị.
B. NỘI DUNG
I. VÀI NÉT VỀ CÔNG TÁC ÔN THI ĐẠI HỌC MÔN NGỮ VĂN LỚP 12.
1. Phương pháp dạy kỹ năng làm văn chưa được quan tâm đúng mức
- Hiện nay, phương pháp dạy Ngữ văn ở trường phổ thông, phần lớn các thầy, cô
giáo tập trung giảng bình tác phẩm, đoạn trích theo cách áp đặt cảm nhận của mình hoặc
theo tài liệu giảng dạy của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GDĐT). Chúng ta ít chú trọng
dạy học sinh (HS) hình thành các kĩ năng khám phá, tìm hiểu và cảm nhận chủ động
theo năng lực và mục đích đọc văn của người học. Học sinh hiểu theo kiến giải của thầy,
theo tài liệu nên dễ quên, không để lại trong tâm tưởng những rung cảm hay ấn tượng từ
hình tượng văn học trong tác phẩm. Giờ học văn và viết văn trở nên nhàm chán và nặng
nề trong tâm trí học trò là câu chuyện không ai muốn nhắc lại.
- Trong phân môn Làm văn, giáo viên bộ môn quan tâm dạy lý thuyết kiểu bài, ra đề
học sinh làm. Các giờ thực hành, luyện tập kỹ năng viết đoạn, phân tích đề, lập dàn bài,
nhất là giờ trả bài chưa được thực hành nghiêm túc và hiệu quả. Học sinh làm theo, viết
theo những gì đã học, đã có trong tài liệu mà chưa dám bày tỏ hiểu biết mới theo chủ
Nhà giáo Ngữ văn của các trường THPT vẫn mạnh ai nấy dạy theo chủ nghĩa kinh
nghiệm. Những đơn vị có đông học sinh thi Văn ĐH, CĐ (huyện Vĩnh Tường, Lập
Thạch, Xuân Hòa...); các lớp ôn thi cũng chưa thống nhất được chương trình và trọng
tâm kiến thức. Việc bố trí thêm giờ cho các môn thi ĐH, CĐ, tăng thời gian học ôn có
thể mang lại những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, vấn đề phương pháp học và làm bài
vẫn là vấn đề mấu chốt quyết định điểm của bài thi văn. Học thêm và học nhiều nhưng
việc học sinh viết bài thường xuyên lại chưa được chú trọng nên chất lượng bài làm
thấp, nhất là các đối tượng HS không thuộc trường trọng điểm có đầu vào cao...
- Nội dung ôn thi trọng tâm trong các bài học chính khóa và đọc thêm không thay
đổi. Đến 2014, đề bài vẫn xoay quanh chừng ấy tác phẩm, chừng ấy tác giả văn học.
Sự đổi mới hoàn toàn của đề thi năm 2013 đặt ra vấn đề có tính sống còn. Không có sự
lặp lại đề thi và không thể dùng văn mẫu làm bài. Đề thi ĐH, CĐ đòi hỏi người thi
hiểu và bày tỏ sự cảm thụ của mình về vấn đề đặt ra. Nếu không hiểu tác phẩm và
không chắc về kỹ năng, thí sinh không thể làm bài nhưng hiểu tác phẩm mà kỹ năng
yếu làm bài chắc chắn kém hiệu quả..
- Thực tế một số Trường THPT phân công giáo viên dạy từ lớp 10 đến hết lớp 12,
phải ba năm sau họ mới có dịp dạy ôn thi ĐH, CĐ (trừ các thầy cô giáo có lớp ở
ngoài), thành thử, những bài học kinh nghiệm không thể được thực thi. Mặt khác, văn
chương chưa dễ thống nhất được ngay cách hiểu và cũng chưa nhất trí được ngay cách
dạy. Những khó khăn và tồn tại như thế làm công việc dạy ôn thi ĐH, CĐ Ngữ văn
càng nan giải.
Trong ba năm gần đây, tôi đã thay đổi cách dạy ôn thi ĐH, CĐ và bước đầu thấy
hiệu quả. Bên cạnh việc trang bị tri thức đọc hiểu văn bản văn học, tác giả văn học,
đảm bảo những kiến thức cơ bản cần thiết, tôi dành nhiều thời gian ôn tập, thực hành
kỹ năng làm văn cho học sinh. Trong tham luận này tôi xin trao đổi thêm ý tưởng
“DẠY KỸ NĂNG LÀM VĂN – MỘT GIẢI PHÁP QUAN TRỌNG GIÚP HỌC SINH LỚP 12 THI
ĐẠI HỌC ĐẠT KẾT QUẢ CAO”.
2
- Xây dựng những câu hỏi tìm ý (Vấn đề này là gì, cái gì, ai? Vấn đề đúng hay
chưa, tại sao, có thể hiểu thế nào, ...)
- Hướng dẫn HS cách ghép vào từng đề bài, nhất thiết phải đặt các câu hỏi tìm ý
và tìm ý nào chính, ý trọng tâm để dành thời gian và tri thức cho ý đó. Yêu cầu HS
nhất thiết làm dàn ý sơ lược rồi hãy viết.
c. Ôn tập các kỹ năng hành văn, lập luận, dùng từ, tạo dựng câu...
- Ôn tập các kỹ năng viết câu, dùng từ hợp phong cách, đúng nghĩa, đúng chính
tả. (mỗi lỗi chính tả, dùng từ, các em sẽ được viết lại 200 lần và tôi nhân đôi nếu
không viết). Các kỹ năng dựng đoạn theo từng cách trình bày được dạy lồng ghép khi
viết bài giúp HS hiểu và lựa chọn. Các lớp từ và loại từ bình giá, từ dùng liên kết
cũng theo cách vừa học bài vừa luyện tập nhận biết để vận dụng.
- Trong bài kiểm tra viết, tôi cố gắng sửa những lỗi phát hiện và khi trả bài phân tích
HS để cả lớp nhận biết cùng tránh.
3
d. Ôn tập các kỹ năng lập luận theo kiểu bài NLXH, NLVH.
- Mỗi kiểu bài NLXH, NLVH có những đặc điểm riêng, tạm gọi là dạng bài. Bài
phân tích đoạn thơ, đoạn văn khác bài phân tích cả bài thơ, cả tác phẩm văn xuôi; bài
cảm nhận văn học khác bài bày tỏ ý kiến văn học; bài phân tích khác bình luận văn
chương. Mỗi bài có cách tiếp cận và kiến giải theo những thao tác lập luận chủ yếu
so sánh, phân tích, bình luận, phản bác hay thuyết minh...
- Từng bước, thầy cô giáo giúp HS phân biệt sự khác nhau đó nhằm chọn được
những kỹ năng trình bày phù hợp giải quyết vấn đề đặt ra. Khi nào cần giảng giải, khi
nào phân tích, bình luận...Điều quan trọng là HS chọn cách dùng ngôn ngữ linh hoạt
trong khi bàn giảng vấn đề sao cho thuyết phục.
e. Ôn tập cách viết mở bài, kết bài. (Kỹ năng viết mở bài, kết bài: phụ lục 9)
- Ôn tập cách viết mở bài, kết bài đã học qua việc xây dựng các thiết kế mẫu cho đối
tượng HS trung bình. Các em chỉ cần thuộc, khi viết bài, chỉ cần thay đổi chủ thể là
có trách nhiệm; tình yêu Tổ quốc; tình yêu thương con người, giữ gìn bản sắc văn
hoá dân tộc,… các hiện tượng đời sống như nghiện Internet; sống vô cảm; bạo lực
giữa các đối tượng học sinh với học sinh; lối sống buông thả,…, các vấn đề xã hội
4
trong văn học như lẽ sống, lòng tốt, đạo làm người,... Phần NLXH tuy thao tác giải
thích rất quan trọng, nhưng cảm thấy từ ngữ đó có thể nêu được khái niệm mà không
thể nào giải thích được thì nên nêu nội dung chung, tránh giải thích sai. Bởi vì khi đã
giải thích sai, thì mọi việc lập luận hoặc mô tả sau đó đều đi sai hướng.
Các dạng đề bài NLXH nên quy chiếu về dạng bài cơ bản: vấn đề tư tưởng (nhận
thức, lý tưởng, quan điểm nhìn nhận, thái độ...); vấn đề đạo lí (đạo đức, tình người,
quan hệ con người với nhau, cách xử sự...) ; hiện tượng đời sống thuộc lĩnh vực
nào... Mỗi dạng bài cần chỉ ra cách nhận biết và phân tích, bình luận.
c. Kiểu bài NLVH
- Kiểu bài về bài thơ, đoạn thơ (nêu cảm nhận, phân tích, bình luận...)
- Kiểu bài về về tác phẩm văn xuôi, về nhân vật, về nhận định ...(nêu cảm nhận,
phân tích, bình luận...)
- Kiểu bài về so sánh văn học, nhóm tác phẩm, một tác phẩm...(nêu cảm nhận,
phân tích, bình luận, nêu ý kiến,...)
Đây là câu có số điểm nhiều nhất, nhưng rất nhiều học sinh thường chỉ tập trung
vào chương trình 12 và bỏ hẳn chương trình 11, hoặc chỉ học văn xuôi và hoàn toàn
bỏ phần thơ. Những HS có năng khiếu cảm thụ văn học và có kỹ thuật hành văn tốt,
cần học thuộc những tư liệu văn học, nắm vững các chi tiết, hình ảnh để giải quyết
trên cơ sở biết khái quát và tổng hợp vấn đề.
Các dạng đề bài NLVH nên quy chiếu về dạng bài cơ bản. Bài NLVH về thơ cần
chú trọng ngôn ngữ, các biện pháp nghệ thuật để làm rõ ý thơ, chủ đề... Bàn về nhân
vật văn xuôi chú ý đến chi tiết, cử chỉ, hành động để thấy những vẻ đẹp của nhân
vật...
Chúng tôi soạn những gợi ý và đưa ra dàn ý mẫu như những công thức. Học sinh sau
đưa dẫn chứng trong NLXH và NLVH, phân chia thời gian hợp lí...
Sự thành thục kỹ năng làm văn và chủ động xử lí đề thi Ngữ văn thật sự quan
trọng không kém kiến thức hiểu biết về tác phẩm và xã hội. Tôi đã rất vui khi hết giờ
thi, nhận được tin của học trò “em làm xong cả 3 câu nhưng không biết có đúng
không”. Tôi muốn học trò đề nào cũng làm được, cứ theo cách thầy dạy, tự tin, bình
tĩnh, nỗ lực và sáng tạo, thành công sẽ đến.
5. Lập bảng tổng hợp theo dõi đề thi ĐH, CĐ các năm của Bộ Giáo dục và
Đào tạo
Tôi sưu tầm đề thi các năm gần đây của Bộ nhằm theo dõi và đi sâu hơn các trọng
tâm ôn tập về kiến thức và kỹ năng.( Tổng hợp đề thi các năm: phụ lục 8)
III. NHỮNG KẾT QUẢ TRIỂN KHAI CHUYÊN ĐỀ TẠI NHÀ TRƯỜNG
1. Năm học 2011-2012, nhóm học sinh tôi dạy phụ đạo 9 em 12 A6 của trường, có 1
học sinh đạt 8,5 điểm, số còn lại đạt từ 5,5 điểm trở lên, không có điểm dưới 5.
2. Năm học 2012-2013, lớp 12 A6, khối C, do tôi phụ trách, điểm bình quân đạt
5,87. Một số học sinh nắm vững cách làm bài, các kỹ năng làm văn nên điểm bài thi cao
hơn điểm tổng kết môn cuối năm. Các em tự tin và chủ động làm bài hiệu quả. (Phụ lục
5).
3. Năm 2013-2014, lớp 12 A7, khối D, tôi cùng dạy ghép, điểm thi Khảo sát theo đề
của Sở lần 1 và 2 điểm bình quân đạt yêu cầu (Phụ lục 4)
IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ
1.Đối với cơ quan quản lí:
- Tổ chức Hội thảo cấp Sở thường xuyên, mỗi năm nên chọn một chủ điểm, một
nội dung.
- Các đơn vị nhà trường chủ động tổ chức hội thảo cấp trường, nhóm trường.
- Có chế độ đãi ngộ thù lao cho cá nhân nghiên cứu, sáng kiến kinh nghiệm thỏa
đáng.
2.Đối với nhà giáo tham gia ôn thi Đại học, Cao đẳng
- Chủ động lập kế hoạch, vận dụng linh hoạt các nghiên cứu, trao đổi kinh
thiĐH
bài
NLX
NLVH
H
1
4
3
1
10
10
2
45
x
1
4
II .CẤU TRÚC THEO CHƯƠNG TRÌNH LỚP 11( Tên bài và số ca dạy).
St Khái Hai
Chữ
Hạnh Chí
Đời Nam Vội Xuân Đây
t quát đứa người. phúc. Phèo thừa Cao vàng Diệu thôn.
trẻ
.
.
.
1
2
2
1
Giải
đi
sớm
x
Một
thời.
.
Vĩnh
biệt
cửu..
1
Hầu
trời
x
Tiến
g mẹ
đẻ..
Tràn Tương
g
tư
giang
1
x
Vi
Nhữn
g
đứa ..
2
Rừng
xànu
2
Chiếc
thuyền.
.
1
Một
Nguyễ
người.. n Đình
Chiểu..
0,5
x
Mấy Thôn
ý
g
nghĩ.. điêp..
x
x
Nghệ
nghĩa..
x
Tổng
số ca
16
Ai
đã..
Nhì
n
về..
Hồn
Trươn
g
VChồn
g
APhủ
Vợ
nhặt
2
x
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
11
Tên tác phẩm
Khái quát VH
(TK XX- 45)
Hai đứa trẻ
Chữ người tử tù
Hạnh phúc của một
Chí Phèo
Đời thừa
Tác gia Nam Cao
Hầu trời
Vội vàng
Tác gia Xuân Diệu
Đây thôn Vĩ Dạ
12
Tràng giang
2đ
2009
3đ
5đ
2đ
2010
3đ
5đ
2đ
2011
3đ
C
5đ
3aD
3aC
2đ
2012
3đ
2009
3đ
2đ
C
3bD
3bD
3aD
5đ
3b C
2đ
2010
3đ
5đ
2đ
2011
3đ
5đ
14
15
16
17
18
19
20
21
22
12
Tố Hữu
Tiếng hát con tàu
Đất nước-NKĐ
Sóng
Đàn ghi ta Lor ca
Con đường trở ...
Người lái đò SĐà
Tác gia Nguyễn Tuân
Ai đã đặt tên...
Nhìn về vốn VH...
Hồn Trương Ba...
Vợ chông APhủ
Vợ nhặt
Những đứa con...
Rừng Xà nu
Một người Hà Nội
Chiếc thuyền...
CĐb
3bC
3bD
Câu NLXH – ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
STT
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Khối C
Người đánh mất niềm
tin... mất nhiều thứ quý
giá hơn
Thói đạo đức giả....
Biết tự hào... nhưng biết
xấu hổ còn quan trọng
hơn
Kẻ cơ hội nôn nóng tạo
Năm 2013
Không ca tụng trí tuệ mà
ca tụng sự khôn khéo...
biết thủ thế giữ mình, gỡ
được tình thế khó khăn.
Người Việt Nam ... Tính
thụ động... đi theo con
đường vẽ sẵn.
Khi có lỗi, người tử tế
thì sẵn sàng nhận lỗi, kẻ
ti tiện chỉ tìm cách đổ lỗi.
10
11
Phụ lục 9: KỸ NĂNG VIẾT MỞ BÀI, KẾT BÀI
PHẦN I. VIẾT MỞ BÀI
1.Trong phần đặt vấn đề cần đạt 2 yêu cầu:
- Nêu được vấn đề ngắn gọn nhất, hấp dẫn và gây hứng thú cho người đọc, người nghe.
- Nêu lên hướng giải quyết, phạm vi giải quyết vấn đề, tầm quan trọng, ý nghĩa của vấn đề
để chuẩn bị tư tưởng cho người đọc theo dõi phần nội dung.
Mục đích của mở bài là giới thiệu về vấn đề mà ḿình sẽ viết, thực chất là trả lời câu hỏi: Ở bài
viết này, ḿình định viết về điều gì?
2. Cấu trúc của một mở bài
Cấu trúc của một mở bài gồm 2 nội dung chính và 1 nội dung phụ :
Ý chính :
+ Dẫn dắt vấn đề: Nêu một vài vấn đề liên quan đến vấn đề cần bàn, chuẩn bị tư tưởng dẫn người
Cách 2: Dẫn theo tư liệu tác giả
Nêu tên tác giả + vị trí tác giả trong nền văn học hoặc phong cách + đề tài tiêu biểu, tác
phẩm tiêu biểu + nêu vấn đề
Cách 3: Đoạn dẫn theo lối so sánh (hai vấn đề tương tự).
12
Tìm 1 vấn đề tương tự (đề tài, chủ đề, hình ảnh , tác phẩm...) làm cầu nối so sánh với vấn đề
của đề bài để tạo đoạn dẫn + nêu vấn đề.
Cách 4. Đoạn dẫn theo lối so sánh (hai vấn đề đối lập)
Tìm 1 vấn đề đối lập tạo thế bắc cầu để giới thiệu vấn đề cần bàn + nêu vấn đề
Cách 5:
Đoạn dẫn dựa vào lời đánh giá ấn tượng của một tác giả nào đó.
Lấy 1 đánh giá của một tác giả uy tín có nội dung trùng với vấn đề đã xác định được làm
điểm tựa để phát triển tiếp + nêu vấn đề.
Cách 6:
. Đoạn dẫn dựa vào xuất xứ và những thông tin khác về tác phẩm
Lấy các thông tin liên quan đến vấn đề sau khi chọn lọc các chi tiết quan trọng hấp dẫn bố
trí thành đoạn dẫn + nêu vấn đề.
PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP KẾT BÀI
Kết bài rất quan trọng đối với bài văn nghị luận, là phần kết thúc vấn đề đặt ra ở mở bài
và đã giải quyết ở phần thân bài. Tuy nhiên vì nhiêu lí do khác nhau, kết bài thường là phần phần
cuối cùng, gần hết giờ nên làm rất vội.
Giống như phần mở bài, phần này chỉ nêu ý khái quát, không trình bày lan man, dài dòng hoặc
lặp lại sự giảng giải, minh họa, nhận xét một cách chi tiết như ở phần thân bài. Phần kết bài có
nhiệm vụ tổng kết, đánh giá chung vấn đề đã nghị luận. Kết thúc vấn đề hay sẽ tạo được “âm
vang”, “dư ba” cho bài văn.
Các kiểu kết bài:
1-Tổng kết, tóm lược những ý chính đã trình bày ở phần thân bài:
Đây là cách kết bài thông thường nhất vì dễ làm nhất
nội dung bàn luận.
- Ý 2: Phân tích, bình luận làm rõ các biểu hiện trong từng khía cạnh
chính của vấn đề.
Vấn đề này có những biểu hiện nào là chủ yếu? Thể hiện trong lĩnh vực nào?
Hiểu vấn đề trong mối quan hệ chung và riêng ra sao. Có thể hiểu vấn đề theo
quan điểm nào, tầng lớp giai cấp nào của cuộc sống hiện nay. Tại sao hiểu như
thế? Mối quan hệ giữa các ý như thế nào.
Xem xét vấn đề trên những bình diện đúng/ sai, tốt /xấu, tích cực/ tiêu cực,
đẹp /xấu .. Có thể chỉ ra nguyên nhân, dẫn chứng, cơ sở thực tiễn để minh họa.
Không phân tích cụ thể ví dụ tránh lan man. Khẳng định ý đúng, bác bỏ ý sai,
phê phán hoặc đồng tình..
- Ý 3: Nêu ý nghiã và tác dụng của vấn đề
- Vấn đề bàn luận có quan hệ như thế nào đến nhận thức và tầm hồn tình cảm
của con người, nhất là tuổi trẻ học đường.
- Nêu vài biểu hiện của những tác động đa chiều khái quát, điển hình và toàn
diện của vấn đề.
Không nêu quá nhiều biểu hiện tác động tiêu cực hoặc tích cực, cần cân đối
hài hòa.
c+ Kết bài: ( khoảng 5 câu)
- Tổng kết các nội dung chính đã bàn ở trên ( lược ghi các ý chính)
- Có thể liên hệ suy nghĩ, nhận thức của bản thân trong tình hình cụ thể của
mình.
2 . Xây dựng dàn bài nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống
Xây dựng dàn ý sơ lược 3 phần
a+ Mở bài : Ngắn gọn khoảng 5 câu
- Dẫn luận xuất xứ vấn đề: Nguồn gốc hay hoàn cảnh không gian vấn đề được
nêu lên.
- Nêu vấn đề bàn luận: Vấn đề gì, thuộc lĩnh vực nào của hiện tượng đời sống .
b+ Thân bài: 3 ý lớn
- Ý 1: Giảng giải các từ ngữ, khái niệm, các vấn đề.
1 . Xây dựng dàn bài câu hỏi tái hiện kiến thức
a+ Mở bài : Ngắn gọn khoảng 5 câu
- Dẫn luận xuất xứ vấn đề tác giả, tác phẩm và vị trí TP.
- Nêu vấn đề: Vấn đề gì, chi tiết nghệ thuật hay nội dung nào.
b+ Thân bài: 3 ý lớn
- Ý 1: Ghi chính xác các chi tiết (câu chữ, dấu câu...); hoặc đặc điểm,
nội dung đề hỏi.
- Ý 2: Phân tích, bình luận làm rõ các biểu hiện trong từng khía cạnh
chính của vấn đề. Gắn với nhan đề hay nhân vật, hoàn cảnh để nhận xét ý nghĩa
hoặc đánh giá thành công hạn chế.
-Ý 3: Nêu ý nghiã và tác dụng của vấn đề khi tìm hiểu tác phẩm hay tác
giả...
c+ Kết bài: ( khoảng 5 câu)
- Có thể liên hệ suy nghĩ, cảm xúc của bản thân khi nhận thức vấn đề.
2 . Xây dựng dàn bài nghị luận văn học: tác phẩm thơ
a+ Mở bài : Ngắn gọn khoảng 5 câu
- Dẫn luận xuất xứ vấn đề tác giả, tác phẩm và vị trí TP, nội dung và nghê thuật
khái quát..
- Nêu vấn đề: Vấn đề gì gây ấn tượng nhất đề bài nêu ra. Dựa phần dẫn hay
nhận định của đề.
b+ Thân bài: 3 ý lớn
- Ý 1: Xác lập không gian nghệ thuật, xuất xứ hay vị trí đoạn thơ, bài
thơ.
15
- Ý 2: Phân tích, bình luận làm rõ các biểu hiện trong từng khía cạnh
chính của vấn đề. Tùy gợi ý của đề, chọn cách phân tích, bình luận theo trình tự
từng câu hay theo khổ thơ, ý thơ, theo diễn biến tâm trạng nhân vật trữ tình...
16
17