BỘ TÀI CHÍNH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
---------------
NGUYỄN CHIÊU THỤY
TÁC ĐỘNG CỦA VỐN LUÂN CHUYỂN LÊN TỶ
SUẤT SINH LỢI CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
GVHD: TS. BÙI HỮU PHƢỚC
TP. HCM, năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Tác động của quản trị vốn luân chuyển
lên tỷ suất sinh lợi của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”
là đề tài nghiên cứu khoa học do chính tác giả thực hiện. Đề tài này thực hiện thông
qua việc vận dụng kiến thức đã học, nhiều tài liệu tham khảo và sự hướng dẫn tận
tình của người hướng dẫn khoa học. Số liệu và kết quả trong bài luận văn này là
đáng tin cậy, được xử lý trung thực và khách quan.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 5 năm 2015
Người thực hiện luận văn
NGUYỄN CHIÊU THỤY
CHƢƠNG 1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU .................................................................. 2
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................2
1.2. Tình hình nghiên cứu đề tài ...........................................................................4
1.3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ......................................................................5
1.4. Câu hỏi nghiên cứu .......................................................................................5
1.5. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu ......................................................................5
1.6. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................6
1.7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .......................................................6
1.8. Bố cục của nghiên cứu ..................................................................................7
CHƢƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ VỐN LUÂN CHUYỂN, TÁC ĐỘNG CỦA
VỐN LUÂN CHUYỂN ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI ...................................................... 8
2.1. Cơ sở lý luận về vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lợi .....................................8
2.1.1. Lý luận chung về vốn luân chuyển ..........................................................8
2.1.2. Lý luận chung về tỷ suất sinh lợi ........................................................... 16
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến tỷ
suất sinh lợi 19
2.2.1. Một số mô hình nghiên cứu trên thế giới ............................................... 19
2.2.2. Một số mô hình nghiên cứu trong nước ................................................. 24
CHƢƠNG 3. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU .................................................................... 29
3.1. Mô hình nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu ................................................ 29
3.1.1. Mô hình nghiên cứu .............................................................................. 29
3.1.2. Giả thuyết nghiên cứu ........................................................................... 30
iii
................................................................................................................. 71
PHỤ LỤC 1 ....................................................................................................... 71
PHỤ LỤC 2 ....................................................................................................... 79
PHỤ LỤC 3 ....................................................................................................... 81
iv
PHỤ LỤC 4 ....................................................................................................... 83
PHỤ LỤC 5 ....................................................................................................... 85
PHỤ LỤC 6 ....................................................................................................... 87
PHỤ LỤC 7 ....................................................................................................... 89
PHỤ LỤC 8 ....................................................................................................... 91
PHỤ LỤC 9 ....................................................................................................... 93
PHỤ LỤC 10 ..................................................................................................... 97
PHỤ LỤC 11 ..................................................................................................... 97
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
Từ viết
Tiếng Anh
tắt
HNX
7
HOSE Ho Chi Minh Stock Exchange
Tỷ lệ tăng trưởng tổng sản phẩm
quốc nội
Phương pháp ước lượng moment
tổng quát
Sở Giao Dịch Chứng khoán Hà Nội
Ha Noi Stock Exchange
Sở Giao Dịch Chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh
8
ICP
Inventory conversion period
Kỳ luân chuyển hàng tồn kho
9
OLS
ROA
Return on assets
Tỷ suất sinh lợi trên tài sản
14
ROE
Return on equity
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu
15
ROS
Return on sales
Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu
16 SGROW Sales growth
Tốc độ tăng trưởng doanh thu
17
SIZE
Sự bất ổn của kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng đặt áp
lực rất lớn lên vai các nhà quản trị buộc họ không ngừng cạnh tranh với nhau trong
việc tối đa hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa rủi ro. Đặc biệt trong tình hình kinh tế
hiện nay, tiền mặt trở thành một nguồn khó để vay mượn hơn, tiền mặt trong mỗi
công ty đều gắn chặt trong các thành phần của vốn luân chuyển. Vì thế vốn luân
chuyển luôn được xem như là nguồn sống của một công ty và việc quản trị vốn luân
chuyển được coi như một phần không thể thiếu của quản trị tài chính.
Mục đích chính của bài nghiên cứu này là tìm hiểu tác động của quản trị vốn
luân chuyển lên tỷ suất sinh lợi của các công ty niêm yết trên thị trường chứng
khoán Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là
hồi quy các mô hình bằng Pool OLS, REM, FEM và GMM với dữ liệu bảng gồm
193 công ty. Kết quả cho thấy việc quản trị vốn luân chuyển có tác động lên tỷ suất
sinh lợi của các công ty, cụ thể là kỳ thu tiền bình quân (RCP), kỳ trả tiền bình
quân (PDP), kỳ luân chuyển hành tồn kho (ICP) và chỉ tiêu gộp của ba chi tiên này
là chu kỳ chu chuyển tiền (CCC) có tác động ngược chiều với tỷ suất sinh lợi được
đại điện bởi lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA). Ngoài ra bài nghiên cứu còn đưa
vào bốn biến kiểm soát là quy mô công ty (SIZE) và tỷ lệ nợ (DR) tác động ngược
chiều với ROA; tốc độ tăng trưởng doanh thu (SGROW) tác động cùng chiều với
ROA và tỷ lệ tăng trưởng GDP (GDPGR) tuy có mối quan hệ cùng chiều với ROA
nhưng lại không có ý nghĩa thống kê.
Kết quả nghiên cứu của tác giả cũng khá phù hợp với các nghiên cứu của các
quốc gia khác cho thấy các công ty tại Việt Nam muốn gia tăng lợi nhuận bằng
cách rút ngắn chu kỳ chu chuyển tiền kết hợp với giảm kỳ thu tiền bình quân, kỳ trả
tiền bình quân và kỳ luân chuyển hàng tồn kho.
Từ khóa: Vốn luân chuyển, chu kỳ chu chuyển tiền, tỷ suất sinh lợi, Việt Nam.
1
lợi của các công ty ra sao? Đây là câu hỏi khó cho các công ty hiện nay và đặc biệt
là các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán (luôn bị soi xét bởi các nhà đầu tư).
Thị trường chứng khoán Việt Nam sau hơn 10 năm chính thức đi vào hoạt động
đã trở thành kênh dẫn vốn đầu tư cho nền kinh tế. Theo số liệu của Ủy ban Chứng
khoán Nhà nước, thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2014 có diễn biến rất khả
quan xét về các phương diện tốc độ tăng chỉ số, mức độ ổn định, khối lượng giao
dịch và phản ánh khá rõ nét những chuyển biến tích cực trong nền kinh tế. Huy
động vốn qua thị trường chứng khoán tiếp tục duy trì ở mức cao mức vốn hóa thị
trường tính đến ngày 8 12 2014 đạt khoảng 1.156 nghìn tỷ đồng, tăng 21,77
với năm 2013 và tương đương 32,24
GDP. Tổng giá trị huy động vốn qua TTCK
năm 2014 ước đạt 237 nghìn tỷ đồng, tăng 6
góp 27,1
so
so với cùng kỳ năm 2013 và đóng
tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó tổng giá trị huy động qua phát
hành Trái phiếu Chính phủ ước đạt 214 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 90
tổng giá
trị vốn huy động và gần tương đương với mức huy động vốn kỷ lục trong năm
2013.
Tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp niêm yết trong 9 tháng đầu
định hướng chung đó TTCK củng cố và hoàn thiện hoạt động đảm bảo sự phát triển
bền vững và lành mạnh. Hay nói cách khác thị trường cần đạt chuẩn mực chung của
một TTCK hiệu quả với độ tin cậy của số liệu thông tin trên thị trường; thị trường
3
có tính thanh khoản cao góp phần hình thành giá cả hợp lý, năng lực các công ty
chứng khoán đảm bảo sự tín nhiệm. Đây là một kết quả khả quan trong bối cảnh thị
trường nhiều biến động, tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của các công ty
niêm yết và tâm lý nhà đầu tư trên thị trường.
Tóm lại, vốn luân chuyển có vai trò quan trọng đối với khả năng sinh lợi của công
ty. Việc tìm hiểu rõ lý thuyết về tác động của vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi
của công ty giúp cho nhà quản lý có những giải pháp làm tăng giá trị cho cổ đông đặc
biệt trong thị trường mới nổi như hiện nay.
Với mục đích tìm hiểu và nghiên cứu các yếu tố của vốn luân chuyển tác động
lên tỷ suất sinh lợi của các công ty như thế nào, tác giả đã chọn đề tài “Tác động
của vốn luân chuyển lên tỷ suất sinh lợi của các công ty niêm yết trên thị
trƣờng chứng khoán Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.
1.2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu cho thấy quản trị vốn luân
chuyển hiệu quả tác động trực tiếp lên khả năng sinh lợi của các công ty như các
nghiên cứu của Ebrahim Mansoori and Joriah Muhammad (2012), Iluta Arbidane
and Svetlana Ignatjeva (2012), Garcia-Teruel, J.P. & Martinez-Solano, P. (2007),
Lazaridis, I. & Tryfonidis, D. (2006)…..
Ở Việt Nam quản trị vốn luân chuyển là một chủ đề không quá mới, các công
trình nghiên cứu của Ths.Từ Thị Kim Thoa (2014), Bùi Thị Nhung (2013), Trần
Ngọc Hân (2012)….Kết quả cũng cho thấy việc quản trị vốn luân chuyển hiệu quả
bằng cách rút ngắn kỳ thu tiền, kỳ lưu kho và kỳ thanh toán cho người bán sẽ gia
tăng khả năng sinh lợi cho các công ty.
1.5. Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung phân tích tác động của vốn luân chuyển đến tỷ suất sinh lợi
của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam được thực hiện trên
cơ sở nghiên cứu dữ liệu từ báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam. Song nghiên cứu chỉ giới hạn trong khoảng thời
gian từ năm 2008 đến năm 2014.
5
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vốn luân chuyển, tỷ suất sinh lợi và mức
độ tác động của vốn luân chuyển đến tỷ suất sinh lợi của các công ty niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam.
1.6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Dựa trên những lý thuyết kinh điển về vốn luân chuyển, tỷ suất sinh lợi và
các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến tỷ suất
sinh lợi, tác giả dựa theo mô hình nghiên cứu của Garcia Teruel & Martinez Solano
(2007) để phân tích tác động của vốn luân chuyển đến tỷ suất sinh lợi của các công
ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu xuyên suốt luận văn là phương pháp định tính kết
hợp với phương pháp định lượng. Với phương pháp định tính, tác giả thu thập, thống
kê các chỉ tiêu tài chính của các công ty cổ phần phi tài chính trên hai sàn HNX và
HOSE. Tổng hợp, mô tả số liệu so sánh các dữ liệu trong mẫu nhằm loại bỏ các giá trị
không phù hợp yêu cầu nghiên cứu. Phân tích và đánh giá mức độ ảnh hưởng từ kết
quả nghiên cứu so kỳ vọng và lý thuyết, đưa ra lý giải kết quả nghiên cứu. Đề xuất giải
pháp cho các công ty cổ phần đưa ra các quyết định đúng đắn về quản trị vốn luân
chuyển nhằm gia tăng tỷ suất sinh lợi cho các công ty .
Với phương pháp định lượng, tác giả thu thập dữ liệu bảng gồm 193 công ty
CHƢƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ VỐN LUÂN
CHUYỂN, TÁC ĐỘNG CỦA VỐN LUÂN CHUYỂN
ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI
2.1. Cơ sở lý luận về vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lợi
2.1.1. Lý luận chung về vốn luân chuyển
2.1.1.1. Khái niệm vốn luân chuyển
Vốn luân chuyển được định nghĩa là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ
ngắn hạn. Theo nghĩa rộng, vốn luân chuyển là giá trị ứng trước của toàn bộ tài sản
lưu động, những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty. Trong mỗi chu
kỳ kinh doanh tài sản lưu động chuyển hóa qua tất cả các dạng tồn tại từ tiền đến
tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái ban đầu là tiền.
Vốn luân chuyển đo lường sức khỏe tài chính của một công ty và nó đóng
một vai trò rất quan trọng trong việc tối đa hóa lợi nhuận của công ty. Với sự
chuyển hóa nhanh của vốn luân chuyển, các hoạt động quản trị vốn luân chuyển
chiếm gần như phần lớn thời gian và tâm trí của các nhà quản trị tài chính để cân
bằng các thành phần của vốn luân chuyển nhằm đáp ứng những nghĩa vụ ngắn hạn
trong công ty. Nhiệm vụ đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho vốn luân chuyển là yếu tố
thúc đẩy sự chuyển hóa nhanh chóng giữa các hình thái tồn tại cơ bản của tài sản
lưu động để liên tục sản sinh ra ngân quỹ.
2.1.1.2. Đặc điểm vốn luân chuyển
Trong quá trình tái sản xuất, vốn luân chuyển luôn chuyển hóa từ hình thái
này sang hình thái khác. Do sự chuyển hóa không ngừng nên vốn luân chuyển
thường xuyên có các bộ phận tồn tại cùng một lúc dưới các hình thái khác nhau
trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông như những vật tư dự trữ, nguyên nhiên vật
liệu, vật bao bì, công cụ, dụng cụ, sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ, thành
phẩm trong kho, vốn trong thanh toán, vốn bằng tiền.
8
9
+ Vốn công cụ và dụng cụ.
- Vốn luân chuyển nằm trong quá trình trực tiếp sản xuất, bao gồm:
+ Vốn sản phẩm dở dang trong quá trình chế tạo hoặc đang nằm trên các địa
điểm làm việc đợi chế biến tiếp.
+ Vốn về chi phí trả trước là những chi phí chi ra trong kỳ nhưng chưa tính
vào giá thành trong kỳ mà sẽ tính dần vào giá thành các kỳ sau.
- Vốn luân chuyển nằm trong quá trình lưu thông, bao gồm:
+ Vốn thành phẩm.
+ Vốn hàng hóa mua ngoài.
+ Vốn hàng hóa gởi bán nhưng chưa xác định tiêu thụ.
+ Vốn bằng tiền bao gồm tiền tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
+ Vốn thanh toán là những khoản phải thu phát sinh trong quá trình mua, bán
hàng hóa hoặc thanh toán nội bộ.
2.1.1.4. Vai trò của vốn luân chuyển
Để tiến hành sản xuất, ngoài tài sản cố định như máy móc, thiết bị, nhà
xưởng... công ty phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng hóa, nguyên
vật liệu... phục vụ cho quá trình sản xuất. Như vậy vốn luân chuyển là điều kiện
đầu tiên để công ty đi vào hoạt động hay nói cách khác vốn luân chuyển là điều
kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra vốn luân chuyển còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của công ty
được tiến hành thường xuyên, liên tục. Vốn luân chuyển còn là công cụ phản ánh
đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của công ty.
Vốn luân chuyển còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của
công ty. Trong nền kinh tế thị trường công ty hoàn toàn tự chủ trong việc sử dụng
vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của công ty phải huy động một lượng vốn nhất
định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa. Vốn luân chuyển còn giúp
cho công ty chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho công ty.
Hàng tồn kho đối với các công ty có vai trò như một tấm đệm an toàn giữa
các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sản xuất kinh doanh như dự trữ - sản xuất –
11
và tiêu thụ sản phẩm khi mà giữa các giai đoạn này các hoạt động không phải lúc
nào cũng diễn ra đồng bộ. Ngoài ra hàng tồn kho còn giúp công ty bảo vệ trước
những biến động cũng như sự không chắc chắn về nhu cầu đối với các sản phẩm
của công ty.
Dự trữ hàng tồn kho phải chịu nhiều chi phí như: chi phí lưu kho, chi phí tài
chính, chi phí đặt hàng, chi phí cơ hội và các chi phí khác. Vấn đề là tồn kho như
thế nào là hợp lý, vừa giảm được chi phí vừa đảm bảo khả năng đáp ứng nhu cầu
khách hàng. Do đó rất khó để xác định mức tồn kho bao nhiêu là hợp lý vì tùy đặc
điểm ngành nghề, tùy chiến lược kinh doanh mà mỗi công ty có mức tồn kho riêng.
Đối với các công ty bán hàng hoá liên quan với tỷ lệ hàng lỗi thời cao (ví dụ nh ư
hàng công nghệ cao hoặc các hàng hoá liên quan đến xu hướng thời trang) thì
không nên thiết lập một mức hàng tồn kho cao do công ty có thể bị thiệt hại đáng
kể về hàng tồn kho khi hàng hóa của họ trở nên lỗi thời. Ngoài ra, các công ty bán
hàng hoá dễ hư hỏng (trái cây, rau củ,…) cần phải tránh dự trữ lượng hàng hàng
tồn kho vượt quá nhu cầu ngắn hạn để tránh thiệt hại khi hàng tồn kho bị hư hỏng.
Từ đây cho thấy trong khi các công ty khác nhau có thể có những lý do khác nhau
để theo đuổi quản trị hàng tồn kho, việc xác định mức hàng tồn kho tối ưu là khá
quan trọng đối với hầu hết các công ty, đặc biệt là đối với những công ty có lợi
nhuận chủ yếu dựa trên vòng quay tài sản chứ không phải là lợi nhuận trên doanh
số bán hàng, như trong trường hợp của các nhà bán lẻ. Cách thức mà hàng tồn kho
được quản lý ảnh hưởng đến mức độ và cấu trúc của nguyên vật liệu, sản phẩm dở
dang, và các hàng hoá thành phẩm cần thiết để duy trì hoạt động và bán hàng hiệu
quả. Bất kỳ sự thay đổi nào được đưa ra bởi ban quản lý để làm thay đổi mức tuyệt
đối giữ tồn kho sẽ có tác động trực tiếp vào cách thức quản trị vốn luân chuyển.
Quản trị vốn bằng tiền:
chắn, do dó làm suy giảm khả năng sinh lợi của tài sản; rủi ro mất mát tuy nhỏ
nhưng rất đáng để chúng ta quan tâm khi mở rộng bán hàng tín dụng.
Vì vậy, việc bán hàng tín dụng cần tuân theo một khuôn khổ chính sách hợp
lý. Khuôn khổ này xây dựng trên cơ sở cân nhắc các lợi ích và mất mát của bán
hàng tín dụng. Về nguyên tắc, chính sách bán hàng tín dụng tối ưu phải có khả năng
tối đa hóa lợi nhuận. Chính sách như thế phải cân nhắc giữa các lợi ích tăng thêm
và bất lợi tăng thêm trên mỗi đơn vị doanh số tăng thêm nhờ bán hàng tín dụng.
Quản trị các khoản phải thu phải thực hiện qua 5 bước cơ bản gồm:
13
- Thiết lập các điều kiện bán hàng thông thường như quyết định thời gian
của kỳ thanh toán và tỷ lệ giảm giá nếu kỳ thanh toán sớm hơn.
- Quyết định hình thức hợp đồng với khách hàng.
- Đánh giá khả năng thanh toán của mỗi khách hàng.
- Thiết lập một hạn mức tín dụng hợp lý.
- Theo dõi các khoản phải thu để đôn đốc thu hồi nợ đúng hạn và thu đủ.
Năm bước này có liên quan và tác động lẫn nhau. Một chính sách tín dụng
tốt là chính sách tạo nên một tổng thể tốt.
Quản trị các khoản phải trả ngắn hạn:
Các khoản phải trả, một trách nhiệm pháp lý trong ngắn hạn, đề cập đến tín
dụng được cung cấp bởi công ty bán hàng. Quyết định sử dụng tín dụng từ nhà
cung cấp nên được đánh giá cẩn thận, phải cân nhắc với những yếu tố có ảnh hưởng
đến quyết định này như các nguồn tài trợ khác, vấn đề giảm giá khi thanh toán sớm,
hạn mức tín dụng, xếp hạng tín nhiệm của công ty, chi phí giao dịch, chi phí hành
chính, chi phí thông tin, chi phí kiểm soát, mối quan hệ của công ty với các chủ nợ,
các điều khoản tín dụng và các yếu tố rủi ro. Nếu các chi phí công ty phải bỏ ra khi
nhận tín dụng của nhà cung cấp ít hơn so với các nguồn tài chính khác, khi đó công
ty nên sử dụng tín dụng từ nhà cung cấp. Khi công ty quyết định sử dụng nguồn tín
sách sản xuất, trường phái lâu dài, công ty tính lượng vốn luân chuyển cố định của
mình trong một giai đoạn dài. Ngược lại, công ty có chính sách sản xuất thời vụ sẽ
tăng sản xuất trong những giai đoạn lượng hàng hóa ra đạt đỉnh và những lúc đó
nhu cầu vốn luân chuyển sẽ nhiều nhất.
Chính sách bán chịu: Khi số ngày bán chịu càng dài thì công ty sẽ cần nhiều
vốn luân chuyển hơn để trang trải những khoản chưa hồi được. Khi một công ty có
chính sách cho nợ ngắn hạn, tiền mặt sẽ có nhanh hơn, công ty ít khi rơi vào vào
tình trạng đói tiền và do đó nhu cầu vốn luân chuyển cũng ít hơn.
Tăng trƣởng và mở rộng kinh doanh: Khi giám đốc công ty quyết định mở
rộng kinh doanh hoặc công việc làm ăn đang tăng trưởng tốt, nhu cầu về tài sản cố
định và tài sản ngắn hạn sẽ tăng.Vì vậy nhu cầu vốn luân chuyển sẽ tăng để bù đắp
cho công việc kinh doanh trong dài hạn. Điều này có thể mang lại rủi ro cho công ty.
15
Các yếu tố tác động bên ngoài
Chu kỳ kinh tế và kinh doanh: Phần lớn công ty trải qua sự thay đổi bất
thường trong nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ tùy theo thời điểm. Những sự
thay đổi không theo quy luật này ảnh hưởng đến nhu cầu vốn luân chuyển. Khi nền
kinh tế phát triển, thông thường nhu cầu hàng hóa sẽ tăng và từ đó doanh thu sẽ
tăng, dẫn tới sự đầu tư của công ty vào hàng tồn kho, các khoản nợ cũng như tài sản
cố định sẽ tăng lên. Công ty sẽ thường xuyên vay các khoản nợ dài hạn hoặc giữ lại
thu nhập. Trái lại, khi nền kinh tế suy giảm sẽ làm giảm doanh thu và công ty sẽ
giảm các khoản vay mượn và cho vay ngắn hạn.
Thay đổi trong công nghệ: Công nghệ tốt hơn sẽ đẩy nhanh năng suất sản
xuất công ty, mang tới những sản phẩm chất lượng và chuyên nghiệp hơn, thành
phẩm cũng được bán nhanh và nhiều hơn so với trước đây, do đó làm tiền mặt luân
chuyển nhanh hơn. Tuy nhiên, đầu tư ban đầu vào công nghệ mới cần nguồn tiền và
nhân lực rất lớn.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu được xác định như sau:
ROS =
100
Trong đó:
ROS: Là tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu trong kỳ
P: Là lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh
DT: Là doanh thu thuần trong kỳ
Ý nghĩa: Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phản ánh kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của công ty cho thấy cứ một đồng doanh thu thì sẽ mang
lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nếu tỷ suất lợi nhuận càng cao thì chứng tỏ hoạt động
kinh doanh của công ty đạt hiệu quả tốt, chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của công ty là hợp lệ và ngược lại. Nếu đem so sánh tỷ suất lợi nhuận trên doanh
thu của công ty với ngành mà cho thấy thấp hơn điều đó chứng tỏ công ty đang bán
với giá thấp hơn, hoặc giá thành sản phẩm của công ty cao hơn (có chi phí sản xuất
kinh doanh cao hơn) so với các công ty khác cùng ngành.
17