BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
NGUYỄN VĂN NGUYÊN THANH
NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA
NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN SAU SÁP NHẬP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HCM - Năm 2014
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - MARKETING
NGUYỄN VĂN NGUYÊN THANH
NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA
NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN SAU SÁP NHẬP
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Nam Khánh Giao
TP.HCM - Năm 2014
1
Báo cáo tài chính
BCTC
2
Cán bộ công nhân viên
CBCNV
3
Công nghệ thông tin
CNTT
4
Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam
VAMC
5
Chi nhánh
CN
11
Ngân hàng Thương Mại
NHTM
12
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn
SCB
13
Quỹ tiết kiệm
QTK
14
Sở Giao dịch
SGD
15
Bảo hiểm tiền gửi
BHTG
24
3
Sơ đồ 1.3
Mô hình phân tích năng lực tài chính dựa trên mô hình SWOT
24
iv
Trang
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Số thứ tự
Tên Bảng biểu
Trang
1
Bảng 2.1
Một số chỉ tiêu tài sản và nguồn vốn của các bên tham gia hợp nhất
Bảng 2.5
Bảng tính để chấm điểm chất lượng tài sản giai đoạn 2007-2010
33
6
Bảng 2.6
Thu nhập của SCB giai đoạn 2007-2010
35
7
Bảng 2.7
Chi phí của SCB giai đoạn 2007-2010
35
8
Bảng 2.8
Bảng tính khả năng sinh lời giai đoạn 2007-2010
36
39
13
Bảng 2.13
Mức độ an toàn vốn của SCB giai đoạn 2011-2013
40
14
Bảng 2.14
Bảng tính để chấm điểm chất lượng các khoản cho vay và ứng trước
cho khách hàng
41
15
Bảng 2.15
Thu nhập của SCB qua các năm giai đoạn 2011-2013
43
16
20
Bảng 2.20
Tổng hợp các chỉ tiêu tài chính của SCB sau sáp nhập
48
v
STT
Số thứ tự
Tên Bảng biểu
21
Bảng 2.21
So sánh quy mô của một số đối thủ cạnh tranh năm 2013
54
22
Bảng 2.22
Trang
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................... 1
1. Sự cần thiết của đề tài ................................................................................................... 1
2. Mục tiêu, vấn đề nghiên cứu ........................................................................................ 3
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................. 4
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài...................................................................... 4
6. Bố cục của bài luận văn ................................................................................................ 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NHTM ............... 6
1.1. Lý luận về sáp nhập và mua lại trong ngân hàng (M&A) ......................................... 6
1.1.1. Khái niệm về sáp nhập & mua lại trong ngân hàng ......................................... 6
1.1.2. Các hình thức sáp nhập & mua lại ................................................................... 8
1.2. Lý luận về năng lực tài chính của ngân hàng thương mại ....................................... 10
1.2.1. Tổng quan về năng lực tài chính của ngân hàng thương mại ........................ 10
1.2.2. Một số tiêu chí đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng thương mại ....... 10
1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tài chính của ngân hàng thương mại .... 13
1.3. Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến năng lực tài chính .......................... 19
1.4. Sử dụng ma trận SWOT để xây dựng và lựa chọn các giải pháp ........................... 23
1.5. Tổng quan tình hình nghiên cứu về năng lực tài chính của NHTM ....................... 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA
NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN TRƯỚC VÀ SAU SÁP NHẬP .... 28
2.1. Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Sài Gòn ................................................................ 28
2.1.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Sài Gòn ....................................................... 28
2.1.2 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Sài Gòn sau sáp nhập ................................. 28
2.2. Thực trạng năng lực tài chính của Ngân hàng TMCP Sài Gòn ............................... 31
2.2.1 Thực trạng năng lực tài chính của SCB giai đoạn trước sáp nhập ................. 31
2.2.2 Thực trạng năng lực tài chính của SCB giai đoạn sau sáp nhập ..................... 39
3.5.2. Kiến nghị với NHNN .................................................................................. 84
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................ 96
viii
MỞ ĐẦU
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Với bất kỳ một quốc gia nào, hoạt động của hệ thống ngân hàng luôn là huyết
mạch của nền kinh tế và sự ổn định, lành mạnh của hệ thống ngân hàng giữ vai trò
trọng yếu trong việc ổn định và phát triển của nền kinh tế. Sự tăng trưởng kinh tế
nhanh, đặc biệt là ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại đã thúc đẩy hệ thống ngân
hàng phát triển nhanh cả về quy mô và chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, cùng với sự
phát triển nhanh đó, hệ thống ngân hàng đang tiềm ẩn nhiều yếu kém và rủi ro: rủi ro
tín dụng, rủi ro thanh khoản cao, tính ổn định, hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh
tranh chưa cao, năng lực quản trị còn nhiều bất cập… Ngoài ra, nhóm lợi ích và sở
hữu chéo giữa các ngân hàng lớn làm cho tính lệ thuộc lẫn nhau và rủi ro hệ thống cao.
Do vậy, nếu những rủi ro và yếu kém này không được xử lý kịp thời sẽ tác động xấu
đến ổn định kinh vĩ mô và hệ thống tài chính quốc gia.
Kiểm soát quyền lực thị trường luôn là mục tiêu th o đuổi của các doanh
nghiệp. Thị trường chứng khoán ra đời giúp các doanh nghiệp th o đuổi mục tiêu sáp
nhập và mua lại dễ dàng hơn. Hoạt động mua bán, sáp nhập giữa các ngân hàng c ng
không n m ngoài u hướng này. Đặc biệt, Thông tư số 04/2010/TT-NHNN do Ngân
hàng Nhà nước ban hành ngày 11/02/2010 là cơ sở pháp lý để các ngân hàng có thể
thực hiện mua lại và sáp nhập doanh nghiệp. Ngoài ra, đề án 254 (Quyết định số
254/QÐ-TTg ngày 01/03/2012) của Chính phủ và NHNN đưa ra, nh m sáp nhập hợp
nhất giảm bớt đi số lượng ngân hàng trong nước từ 39 xuống còn 15 ngân hàng, mục
đích chính là tăng quy mô và chất lượng hoạt động. Do đó, từ nay đến năm 2020, việc
mua bán sáp nhập ngân hàng (M&A) sẽ diễn ra hết sức sôi động.
cho các tập đoàn bất động sản, đầu tư sân golf sau lưng, với vô vàn cách thức
lắt léo…). Ngân hàng có nhiều cổ đông nhưng thực chất ông chủ đứng tên chủ
ngân hàng cùng nhiều cổ đông khác là anh m, họ hàng hoặc người thân tín.
Các ông chủ ngân hàng, dù chính thức hay không, gần như toàn quyền quyết
định các vấn đề trọng yếu, đặc biệt là cấp tín dụng cho các dự án của mình.
Áp lực tăng vốn: áp lực từ Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 và
sau này sửa đổi thành Nghị định số 10/2011/NĐ-CP ngày 26/1/2011 về việc
bắt buộc các NHTM tăng vốn điều lệ từ mức 1.000 tỷ đồng đến năm 2008 và
nâng lên 3.000 tỷ đồng đến năm 2011. Điều này buộc các NHTM phải tăng
tổng tài sản lên mức tương ứng để tránh lỗ. Vì thế, ngân hàng cuống cuồng mở
chi nhánh và tìm khách hàng cho vay, điều không dễ dàng vì những vị trí đắc
địa, khách hàng tốt đã bị những ngân hàng lớn đi trước chiếm giữ. Và lối thoát
gần như duy nhất là tìm đến loại khách hàng dễ cho vay nhất, dễ kiếm lời nhất,
khả năng cung bao nhiêu vốn c ng hết, đó là bất động sản. Thậm chí, ngay cả
cho vay tiêu dùng c ng chảy vào bất động sản.
Rủi ro sở hữu chéo ngân hàng: có 5 hình thức sở hữu chéo phổ biến của các
ngân hàng ở Việt Nam. Thứ nhất: ngân hàng thương mại nhà nước nắm cổ
phần tại các nhà băng cổ phần hoặc liên doanh. Thứ hai: doanh nghiệp Nhà
nước góp vốn vào các ngân hàng cổ phần. Thứ ba: ngân hàng cổ phần sở hữu
vốn của nhau. Thứ tư: một hoặc nhiều nhà đầu tư lớn nắm ngân hàng, công ty
2
chứng khoán. Thứ năm: nhà đầu tư lớn giữ cổ phần ở cả doanh nghiệp phi tài
3
Về thời gian: Dữ liệu dùng để thực hiện luận văn được thu thập trong
khoảng thời gian từ năm 2007-2013 (dữ liệu theo báo cáo cho từng năm nghiên cứu
bao gồm dữ liệu trước và sau sáp nhập, mục đích nhằm phân tích và so sánh năng
lực tài chính của SCB trước và sau khi sáp nhập đã thay đổi như thế nào), trong đó
gồm dữ liệu từ báo cáo tài chính đã kiểm toán của SCB và các báo cáo thường niên
qua các năm. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các dữ liệu khác từ các nghiên cứu
chuyên sâu về ngành ngân hàng, hay dữ liệu từ các tạp chí khoa học, bài báo, bài
phân tích đánh giá về năng lực tài chính của hệ thống ngân hàng…
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nhận diện các nhân tố thông qua giá trị, dựa trên các quy định quy chuẩn
đã ban hành, ác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố và mức độ ảnh hưởng
của từng nhân tố đến năng lực tài chính của SCB, được thực hiện thông qua các
bước sau:
- Thu thập dữ liệu từ các báo cáo tài chính của SCB.
- Nhập và phân loại dữ liệu phù hợp cho mục đích nghiên cứu.
- Vận dụng cách đánh giá và ếp loại các tiêu chí th o mô hình CAMEL đã
áp dụng thành công cho các NHTM tại Việt Nam trước đây vào mục đích nghiên
cứu lần này để kiểm chứng các giả thuyết, và đánh giá các nhân tố có ảnh hưởng
đến năng lực tài chính, dựa trên mức độ quan trọng của từng nhân tố ảnh hưởng
đến năng lực tài chính để đề ra các giải pháp nâng cao năng lực tài chính của SCB
sau sáp nhập.
- Sau khi tính toán và phân tích năng lực tài chính, tiếp th o sử dụng
phương pháp phân tích SWOT để đánh giá: (1) Xác định điểm mạnh, yếu của SCB
(từ chiến lược, quản trị chức năng, nguồn lực) so với các đối thủ cạnh tranh;
Xác định cơ hội, thách thức từ môi trường (vĩ mô và vi mô) (2) Dựa vào mô hình
SWOT để đưa ra các phác thảo phương án chiến lược (3) Dựa vào các phác
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. LÝ LUẬN VỀ SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI TRONG NGÂN HÀNG (M&A)
1.1.1. Khái niệm về sáp nhập & mua lại trong ngân hàng
“1+1>2” bất đẳng thức này thoạt nhìn không được logic về mặt toán học nhưng
nếu ét về ý nghĩa kinh tế, chúng nói lên “năng lực chuyển hóa” đặc biệt từ sự kết hợp
của hai tổ chức để hình thành một tổ chức có giá trị lớn hơn khi đứng riêng lẻ. Đây là
mục tiêu đầu tiên khi ây dựng bất đẳng thức kinh tế trên, vào những thời điểm cần ra
quyết định, nguyên tắc trên càng có ý nghĩa quan trọng. Điều này sẽ càng có giá trị, ý
nghĩa hơn đối với nghiệp vụ tài chính được đề cập trong luận văn này.
Câu hỏi đặt ra: ý nghĩa kinh tế của thuật ngữ “M rg rs and Acquisitions” (hay
được viết tắt M&A) là gì và tại sao trong giai đoạn hiện nay chủ đề về hoạt động M&A
được mọi người quan tâm, phân tích và bình luận, đặc biệt là tại thị trường Việt Nam.
Hoạt động M&A được viết tắt của cụm từ “M rg rs and Acquisitions”, “M rg rs”
mang ý nghĩa Hợp nhất, “Acquisitions” (hoặc “Tak ov rs”) – có nghĩa là Thâu tóm
(sáp nhập). Bản thân mỗi từ “M rg rs” và “Acquisitions” khi đứng riêng nó có ý nghĩa
riêng, mà chúng vẫn thường được kết hợp chung với nhau thành một cụm từ. Để hiểu
một cách rõ hơn ý nghĩa về hoạt động M&A, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu sự khác nhau
giữa “M rg rs” (Hợp Nhất) và “Acquisitions” (thâu tóm).
“Hợp nhất doanh nghiệp (Mergers hoặc Consolidation): Là thuật ngữ được
sử dụng khi hai hoặc nhiều doanh Nghiệp cùng thoả thuận chia sẻ tài sản, thị phần,
thương hiệu với nhau để hình thành một doanh nghiệp hoàn toàn mới, với tên gọi mới
(có thể gộp tên của hai doanh nghiệp c ) và chấm dứt sự tồn tại của hai doanh nghiệp
này. Song hành với tiến trình này, cổ phiếu c của hai doanh nghiệp sẽ không còn tồn
tại mà doanh nghiệp mới ra đời sẽ phát hành cổ phiếu mới thay thế.
Thâu tóm (Acquisition hay Takeovers): là thuật ngữ được sử dụng khi một
doanh nghiệp (gọi là doanh nghiệp thâu tóm) tìm cách nắm giữ quyền kiểm soát đối với
doanh nghiệp khác (gọi là doanh nghiệp mục tiêu) thông qua thâu tóm toàn bộ hoặc một
tỷ lệ cổ phần hoặc tài sản của doanh nghiệp mục tiêu đủ để khống chế toàn bộ các quyết
chuyển toàn bộ tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời
chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất.
“… theo Điều 152 và Điều 153 Luật Doanh nghiệp 2005”
Khái niệm công ty cùng loại trong điều Luật trên được hiểu th o nghĩa là các
công ty cùng loại hình doanh nghiệp th o quy định của pháp luật. Như vậy, điều kiện
tiên quyết để có một vụ sáp nhập hay hợp nhất là hai doanh nghiệp phải cùng loại hình
và có sự chấm dứt hoạt động của một hoặc cả hai bên tham gia. Như vậy, luật doanh
nghiệp 2005 không đề cập đến khái niệm mua bán doanh nghiệp. Trong khi đó, Luật
cạnh tranh 2004 đã đề cập đến khái niệm này.
7
Việc pháp luật Việt Nam quy định về khái niệm rất rõ ràng như vậy cho nên có
thể thấy r ng th o quan điểm của nhà làm luật, đây là hai khái niệm có nội hàm hoàn
toàn khác nhau, phân biệt nhau. Trong khi đó, th o quan niệm của nhiều quốc gia trên
thế giới lại thường sử dụng hai thuật ngữ này chung thành cụm từ M&A (mua bán và
sáp nhập) doanh nghiệp vì trong nhiều trường hợp mua lại sẽ dẫn đến kết quả cuối
cùng là sáp nhập của một doanh nghiệp vào một doanh nghiệp khác, tức là hai khái
niệm M&A (mua bán và sáp nhập) doanh nghiệp hoàn toàn có thể là một trong một số
trường hợp.
Tại Việt Nam, vấn đề M&A không phải là mới, 10 năm về trước, NHNN đã có
hẳn một Quy chế về sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng cổ phần ban hành
kèm th o Quyết định số 241/1998/QĐ-NHNN5 ngày 15/07/1998 của Thống đốc
NHNN làm tiền đề pháp lý quan trọng cho những cuộc M&A ngân hàng diễn ra vào
các năm 1997, 1998, 1999, 2001, 2003 với việc nhiều NHTM cổ phần nông thôn với
quy mô vốn nhỏ đã được M&A như: NHTM cổ phần Phương Nam đã M&A hàng loạt
các NHTM khác như NHTM cổ phần nông thôn Đồng Tháp, Châu Phú, Đại Nam, Cái
Sắn; NHTM cổ phần Đông Á M&A NHTM cổ phần tứ giác Long Xuyên; Sacombank
M&A với Ngân hàng Thạnh Thắng; NHTM cổ phần Phương Đông M&A với Ngân
Sử dụng phương thức này, khi một ngân hàng, cá nhân gọi là nhà đầu tư muốn
mua lại ngân hàng mục tiêu, họ sẽ chính thức làm giá để mua lại cổ phiếu của ngân hàng
đó. Mức giá đưa ra có thể sẽ cao hơn giá thị trường tại thời điểm đàm phán giao dịch, nếu
giao dịch được thực hiện và khi nhà đầu tư nắm được một tỷ lệ cổ phiếu “đám đông” thì
thông thường họ sẽ gây ảnh hưởng đáng kể, thậm chí kiểm soát và điều hành ngân hàng
th o cách thức riêng, đồng thời thay đổi nhân sự th o ý muốn chủ quan của họ.
Lôi kéo cổ đông bất mãn
Phương thức này là cách thâu tóm ngân hàng với hình thức không tự nguyện,
do ban lãnh đạo ngân hàng không được lòng tin của đa số cổ đông về cách thức quản
lý, điều hành hoạt động ngân hàng mà họ nắm giữ cổ phiếu. Nếu ngân hàng đang có
những bất đồng lớn về bố trí nhân sự, hoặc kinh doanh sa sút, thua lỗ thì nhà đầu tư sẽ
tìm kiếm ngay cơ hội lôi kéo cổ đông bất mãn để ủng hộ kế hoạch của mình như việc
thâu tóm cổ phiếu của đối tượng mục tiêu qua sàn giao dịch chứng khoán hoặc OTC
để nắm giữ một tỷ lệ cổ phiếu nhất định, tham gia vào Ban lãnh đạo ngân hàng, sau đó
sử dụng phương thức này lôi kéo cổ đông bất mãn để tập hợp cổ đông đủ điều kiện tổ
chức đại hội cổ đông và tìm người thay thế hoặc loại bỏ những lãnh đạo c và nắm
giữ quyền kiểm soát hoặc có thể trực tiếp tham gia hội đồng quản trị, ban điều hành
ngân hàng.
Mua lại tài sản
9
Mua lại tài sản là một phương thức khi ngân hàng mua lại tiến hành cho thẩm
định giá trị tài sản cần mua qua một tổ chức độc lập hoặc dựa vào việc ngân hàng tự
định giá th o phương thức riêng của mình, dựa trên cơ sở kết quả định giá họ sẽ đề
nghị mức giá chào thầu với ngân hàng mục tiêu có sở hữu tài sản tham gia. Đối với
ngân hàng, tài sản vô hình (thương hiệu, thị phần, văn hóa doanh nghiệp, bộ máy nhân
sự…) chiếm giá trị lớn trong tổng tài sản ngân hàng, vì vậy rất khó định giá tài sản
ngân hàng do phương thức này ít thực hiện khi mua bán doanh nghiệp lớn mà chủ yếu
Năng lực tài chính của ngân hàng không chỉ là nguồn lực tài chính đảm bảo
cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn là khả năng khai thác, quản lý và sử
10
dụng các nguồn lực đó phục vụ hiệu quả cho hoạt động kinh doanh. Năng lực tài
chính không chỉ thể hiện sức mạnh hiện tại mà còn thể hiện sức mạnh tài chính tiềm
năng, triển vọng và u hướng phát triển trong tương lai của ngân hàng đó.
Năng lực tài chính quyết định khả năng sinh lời, khả năng mở rộng quy mô,
khả năng kiểm soát rủi ro, khả năng ử lý nợ ấu làm minh bạch hóa tài chính…
1.2.2. Tiêu chí đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng thương mại
Hoạt động của NHTM bao gồm: Huy động vốn, tín dụng, đầu tư, hoạt động
thanh toán nên năng lực tài chính của NHTM được thể hiện ở hiệu quả hoạt động kinh
doanh trong các mặt hoạt động trên.
Yêu cầu đặt ra đối với hệ thống chỉ tiêu phản ánh năng lực tài chính là: i/ Phản
ánh đúng bản chất của khái niệm năng lực tài chính của NHTM là khả năng về tài
chính để giúp ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả
không chỉ trong ngắn hạn mà cả tiềm năng và xu hướng có tính dài hạn bền vững; ii/
Đáp ứng được mục đích của việc đánh giá là xác định đúng năng lực tài chính và vị
thế so sánh của một NHTM so với các TCTD trên thị trường tài chính trong và ngoài
nước; iii/ Có thể thu thập số liệu thống kê, kế toán và tính toán được; iv/ Phải phù
hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế trong hoạt động tài chính – tiền tệ – ngân
hàng và hạch toán, kế toán, thống kê.
Năng lực tài chính của ngân hàng thể hiện qua các chỉ tiêu như: Vốn của ngân
hàng, giới hạn an toàn hoạt động, khả năng sinh lời, khả năng kiểm soát rủi ro, khả
năng kiểm soát và ử lý nợ ấu…
Có nhiều phương pháp đánh giá năng lực tài chính của các NHTM như:
Đánh giá theo tiêu chuẩn Moody’s:
lượng. Mô hình CAMEL là mô hình phân tích hoạt động của doanh nghiệp rất phổ
biến và được chấp nhận rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới đối với việc phân tích tài
chính ngân hàng. Mô hình này rất hữu ích cho các nhà phân tích tài chính c ng như
nhà quản lý ngân hàng trong việc đánh giá và đưa ra dự đoán sự lành mạnh của
NHTM một cách đáng tin cậy, từ đó nhận biết những cơ hội kinh doanh, những dấu
hiệu rủi ro và đưa ra các quyết định hợp lý nh m nâng cao khả năng sinh lời của
Ngân hàng.
Ưu điểm của mô hình Camel:
Chỉ số CAMEL được sử dụng trong hoạt động đánh giá mức độ an toàn của
hệ thống ngân hàng là phù hợp với thông lệ quốc tế;
Các tiêu chí đánh giá năng lực và tình hình tài chính được định lượng và áp
dụng đồng nhất với tất cả các ngân hàng;
1
Phân biệt CAMEL và CAMELS: Sự khác nhau giữa hai mô hình là ở chữ “S” cuối cùng. “S” có nghĩa là:
S nsitivity to Mark t Risk (Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường): nh m đo lường mức độ ảnh hưởng của thay
đổi về lãi suất và/ hoặc tỷ giá đến giá trị của lợi nhuận hay vốn cổ phần. Phân tích “S” quan tâm đến khả năng
của ban lãnh đạo ngân hàng trong việc ác định, giám sát, quản lý và kiểm soát rủi ro thị trường, đồng thời đưa
ra dấu hiệu chỉ dẫn định hướng rõ ràng và tập trung. Như vậy, mô hình CAMELS thường được sử dụng trong
quản trị rủi ro ngân hàng còn mô hình CAMEL được sử dụng trong phân tích tài chính ngân hàng.
12
Hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng được hoàn thiện với nhiều điều luật,
điều chỉnh chung và luật chuyên ngành được ban hành, tạo điều kiện cho các
ngân hàng dễ dàng thực hiện các chỉ thị, việc công bố thông tin;
Các nội dung giám sát của chỉ số CAMEL không chỉ tập trung và các yếu tố
định lượng mang tính truyền thống mà đã mở rộng cho các yếu tố định tính;
ngân hàng, tạo ra chất lượng dịch vụ của ngân hàng, mang đến sự hài lòng và niềm tin
cho khách hàng. Nguồn nhân lực của NHTM mạnh hay yếu thể hiện ở số lượng, chất
lượng, kinh nghiệm và lòng trung thành của nhân viên đối với ngân hàng.
3) Chính sách Marketing
Mark ting là việc ngân hàng sử dụng các công cụ truyền tin để cung cấp thông
tin, hình ảnh, dịch vụ ngân hàng nh m ây dựng mối thông tin hai chiều giữa ngân
hàng và khách hàng nh m đạt được mục tiêu nhất định. Một ngân hàng với quy mô
lớn, mạng lưới rộng khắp chắc chắn sẽ tạo ra uy tín, sự tin tưởng đối với khách hàng,
hoạt động quảng bá sẽ dễ dàng hơn, tiếp úc với khách hàng c ng sẽ dễ dàng hơn.
Mỗi ngân hàng tùy th o chiến lược phát triển sẽ có chính sách Mark ting khác
nhau, sử dụng các công cụ khác nhau của riêng mình như quảng cáo, khuyến mại,
quan hệ công chúng,… Mỗi chính sách sẽ mang lại những hiệu quả khác nhau, nhưng
nhìn chung đều hướng tới mục tiêu quảng bá hình ảnh ngân hàng. Chính sách
Marketing thành công sẽ là cầu nối giữa ngân hàng với khách hàng, góp phần nâng
cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
1.2.3.2 Các yếu tố của môi trường bên ngoài
1) Yếu tố môi trường quốc tế
Do hoạt động của ngân hàng diễn ra trong môi trường quốc tế đầy biến động
nên những biến động tài chính và tiền tệ dù ảy ra ở bất cứ đâu và bất cứ khi nào đều
nhanh chóng tác động tích cực hoặc tiêu cực tới hoạt động ngân hàng ở mỗi quốc gia.
Quá trình toàn cầu hóa khiến cho các ngân hàng buộc phải cạnh tranh đồng thời trên
nhiều phân đoạn của thị trường tài chính. Thời điểm này, cạnh tranh diễn ra gay gắt
hơn bao giờ hết và vì vậy buộc các NHTM cần phải tìm mọi cách để nâng cao nội lực
của chính mình.
2) Yếu tố môi trường vĩ mô trong nước
Môi trường vĩ mô trong nước có ảnh hưởng nhất định đến nhiều mặt đời sống
kinh tế ã hội, bao gồm cả các hoạt động ngân hàng. Cụ thể, các hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng đều tác động trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế,
thu nhập của các chủ thể, tốc độ chu chuyển vốn, tình trạng thất nghiệp, tỷ lệ lạm
phát,… Chính vì lẽ đó, hoạt động của Ngân hàng phải chịu sự quản lý chặt chẽ gắt
hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
3) Các yếu tố thuộc môi trường vi mô
Đối thủ cạnh tranh trực diện
Trong lĩnh vực ngân hàng việc ác định và phân tích đối thủ cạnh tranh có một
vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng lực tài chính của Ngân hàng. Nh m
giữ vững hoặc mở rộng thị phần, các NHTM phải giành lấy các cơ hội của nhau, xây
dựng đội ng phân tích đối thủ cạnh tranh để được những hiểu biết về những hành
15