LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi. Số liệu được nêu
trong luận văn là trung thực và có trích nguồn. Kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Sonsavanh KULAPAN
i
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ATM Máy rút tiền tự động (Automated teller machine)
APB Ngân hàng xúc tiến Nông nghiệp (Agriculture Promotion Bank)
CHDCND Cộng hoà Dân chủ Nhân dân
CP Cổ phần
CV TTĐ Chuyên viên tái thẩm định
CIC
CMND
Trung tâm Thông tin Tín dụng (Credit Information Centre)
Chứng minh nhân dân
DN Doanh nghiệp
FDI Đầu tư Phát triển Nước ngoài (Foreign Development Investment)
HĐTD Hợp đồng tín dụng
NHTW Ngân hàng Trung ương
ID Mã xác nhận (Identified)
KS & HTKD Kiểm soát và hỗ trợ kinh doanh
KTGD & KQ Kế toán giao dịch và kho quỹ
KTGD Kế toán giao dịch
NHNo Ngân hàng Nông nghiệp
NHTM Ngân hàng thương mại
NH
NHNN
ROA
Bảng 2.7: Quy mô cho vay của Chi nhánh thời kỳ 2008 – 2012 Error: Reference source
not found
Bảng 2.8: Cơ cấu dư nợ theo đối tượng vay của Chi nhánh thời kỳ 2008 – 2012 Error:
Reference source not found
iii
Bảng 2.9: Cơ cấu dư nợ theo thời hạn cho vay của Chi nhánh thời kỳ 2008 – 2012 Error:
Reference source not found
Bảng 2.10: Cơ cấu dư nợ theo loại tiền cho vay của Chi nhánh thời kỳ 2008 – 2012 Error:
Reference source not found
Bảng 2.11: Lãi từ hoạt động tín dụng của Chi nhánh thời kỳ 2008 – 2012 Error:
Reference source not found
Bảng 2.13: Lãi cho vay chậm thu của Chi nhánh thời kỳ 2008 – 2012 Error: Reference
source not found
Bảng 2.14: Hiệu suất sử dụng vốn của Chi nhánh thời kỳ 200 8 – 2012 Error: Reference
source not found
Bảng 2.15: Vòng quay vốn tín dụng của Chi nhánh thời kỳ 2008 - 2012 Error:
Reference source not found
Bảng 2.16: Doanh lợi toàn bộ hoạt động tín dụng của Chi nhánh năm 2008-2012 Error:
Reference source not found
Bảng 2.17:Vốn chủ sở hữu của Chi nhánh năm 2008-2012 Error: Reference source not
found
Bảng 2.18: Doanh lợi của vốn tín dụng của Chi nhánh năm 2008-2012 Error: Reference
source not found
Bảng 2.19: Tỷ lệ đảm bảo tiền vay bằng tài sản của Chi nhánh thời kỳ 2008- 2012
Error: Reference source not found
Bảng 2.20: Tỷ lệ nợ xấu của Chi nhánh thời kỳ 2008 - 2012 Error: Reference source
not found
Bảng 2.21: Tỷ lệ nợ quá hạn của Chi nhánh thời kỳ 2008- 2012 Error: Reference
source not found
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
chưa được cao và chưa xứng với qui mô của Chi nhánh, chưa đáp ứng một cách tốt
nhất nhu cầu vốn cho nền kinh tế
Xuất phát từ thực tiễn đó, nhằm đánh giá một cách cụ thể và chính xác hiệu quả
cho vay để đưa ra các giải pháp góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động tín dụng tại
Ngân hàng Nông nghiệp Chi nhánh tỉnh Champasak, em lựa chọn đề tài nghiên cứu
luận văn là: “HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP - CHI NHÁNH TỈNH CHAMPASAK - LÀO ”.
1
2. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm các mục đích sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về hiệu quả tín dụng của Ngân hàng thương mại
- Phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng
Nông nghiệp chi nhánh tỉnh Champasak
- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục hạn chế tồn tại, nâng cao
hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp chi nhánh tỉnh Champasak.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: tín dụng và hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng
Nông nghiệp Chi nhánh tỉnh Champasak.
- Phạm vi nghiên cứu là:
+ Nội dung nghiên cứu : tín dụng bao gồm cả hoạt động huy động vốn và cho
vay, tuy nhiên trong phạm vi đề tài tập trung vào hoạt động cho vay của Ngân hàng
Thương mại.
+ Về không gian: nghiên cứu khảo sát hiệu quả tín dụng trên địa bàn hoạt động
tại Ngân hàng Nông nghiệp Chi nhánh tỉnh Champasak.
+ Về thời gian: khảo sát hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp Chi
nhánh tỉnh Champasak chủ yếu trong 5 năm từ năm 2008 đến năm 2012 và các giải
pháp nâng cao hiệu quả tín dụng cho giai đoạn 3-5 năm tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm tiếp cận, nghiên cứu và giải quyết vấn đề, tác giả sử dụng kết hợp và linh
hoạt các phương pháp nghiên cứu bao gồm: phân tích và tổng hợp, thống kê và so
Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc La Tinh (Creditum) có nghĩa là một sự tin
tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Theo ngôn ngữ tiếng Việt
thì tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi.
Những hành vi tín dụng có thể được diễn ra trực tiếp giữa người thừa vốn và
người thiếu vốn cần đầu tư với người cần vốn để sử dụng. Nhưng thực tế hai người
này khó có thể phù hợp được với nhau về quy mô, về thời gian nhàn rỗi và thời gian sử
dụng vốn; hoặc cũng có thể phù hợp được thì phải tốn kém chi phí tìm kiếm, nên thỏa
mãn được nhu cầu của cả hai người thì cần thiết phải có một người thứ ba đứng ra tập
trung được tất cả số vốn của những người tạm thời thừa, cần đầu tư kiếm lãi. Trên cơ
sở số vốn tập trung được phần phối cho những người cần vốn để sử dụng dưới hình
thức cho vay. Người đó không ai khác đó là tố chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các
NHTM – người môi giới tài chính trên thị trường tài chính. Việc các NHTM tập trung
vốn dưới hình thức huy động và phân phối vốn dưới hình thức cho vay được gọi là tín
dụng NH.
Tín dụng NH thương mại là quan hệ vay mượn, tạm thời sử dụng vốn giữa các tố
chức và cả nhân dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Trong nền kinh tế thị trường, nhiều loại
hình tín dụng cùng tồn tại như tín dụng thương mại, tín dụng NH, tín dụng Nhà nước,
tín dụng thuê mua, tín dụng tiêu dùng, tín dụng quốc tế, với những đóng góp to lớn
của chúng trong nền kinh tế quốc dân. Song căn cứ vào chức năng và vai trò của
NHTM trong nền kinh tế thì tín dụng ngân hàng có thể được coi là loại hình tín dụng
quan trọng, phổ biến nhất và thường xuyên được quan tâm nghiên cứu.
Tín dụng ngân hàng là được hiểu là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng,
một tổ chức chuyên kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với một bên là các chủ thể còn
4
lại của nền kinh tế. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người
sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá
trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Tuy nhiên, quan niệm phổ biến về tín dụng ngân
hàng là: Tín dụng ngân hàng được hiểu là việc đi vay và cho vay của NHTM với các
chủ thể của nền kinh tế.
1.1.2. Phân loại tín dụng NHTM
Thứ ba, căn cứ theo hình thức nghiệp vụ tín dụng
Theo hình thức, tín dụng thường được chia ra làm các loại sau:
- Cho vay: là việc ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào
mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận có hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay là
tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng.
- Chiết khấu thương phiếu: Đây là hoạt động khách hàng đổi thương phiếu mà
mình có được do mua bán chịu trong hoạt động kinh doanh do thương phiếu đó chưa
đến hạn để thanh toán mà khách hàng lại cần tiền và khách hàng sẽ mang thương phiếu
đó đến ngân hàng xin chiết khấu. Nhược điểm của hình thức chiết khấu là khách luôn
nhận được giá trị thấp hơn giá trị thương phiếu và ngân hàng trở thành người chủ của
thương phiếu. Ngân hàng không phải là người cho vay đổi với chủ thương phiếu mà
đây là chỉ hình thức trao đổi trái quyền và đối với ngân hàng thì NH bỏ tiền hiện tại để
thu về một khoản lớn hơn trong tương lai với mức lãi suất nhất định được coi như là
hoạt động tín dụng. Bản chất của chiết khấu thương phiếu là ngân hàng ứng tiền cho
người bán và thay thể người mua trả tiền trước cho người bán.
- Cho thuê tài chính: là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản và sau đó cho khách
hàng thuê theo những thỏa thuận nhất định về thời gian và giá cả và để được sử dụng
tài sản thuê đó thì cứ đến hàng tháng, quý hoặc năm tùy theo thỏa thuận giữa hai bên
mà khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng một khoản tiền nhất định.
- Bảo lãnh: là hình thức ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ
cho khách hàng của mình. Mặc dù trong trường hợp này, ngân hàng không xuất tiền ra
trực tiếp cho khách hàng của mình và chỉ thực hiện nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng
khi khách hàng không có khả năng chi trả.
6
Thứ tư, căn cứ theo tài sản đảm bảo
Theo căn cứ này, tín dụng được chia thành 2 loại sau:
- Tín dụng có tài sản đảm bảo: là loại tín dụng mà khi khách hàng muốn vay vốn
của ngân hàng thì khách hàng phải lấy tài sản ra để đảm bảo cho hợp đồng vay vốn.
Tài sản đó có thể là: nhà cửa, máy móc thiết bị, hàng hóa
Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng thì ngân hàng
dụng ngân hàng cũng là “đầu tàu” thúc đẩy các thành phần kinh tế sử dụng vốn có mục
đích và hiệu quả từ góp phần phát triển kinh tế xã hội và tăng cường mối quan hệ giao
lưu, hợp tác kinh tế quốc tế của mỗi quốc gia. Vai trò của tín dụng NH thể hiện trên
các khía cạnh sau:
Thứ nhất, tín dụng là công cụ tài trợ vốn có hiệu quả cho nền kinh tế
Vai trò quan trọng của tín dụng là đáp ứng vốn có hiệu quả và kịp thời để duy trì
quá trình sản xuất, đồng thời góp phần thúc đẩy đầu tư phát triển kinh tế. Quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực tế luôn có sự chênh lệch về thời gian cũng như
về khối lượng giữa lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư hàng hóa cho quá trình sản
xuất kinh doanh tiếp theo với lương tiền thu được từ việc tiêu thủ hàng hóa của chu kỳ
sản xuất kinh doanh trước đó. Điều này dẫn tới việc luân chuyển tiền tệ của doanh
nghiệp lúc thừa lúc thiếu. Vì vậy, khi nguồn vốn doanh nghiệp tạm thời dư thừa cùng
với các nguồn tiết kiệm nhàn rỗi từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách nhà nước đã
được NHTM tận dụng huy động và sử dụng vốn huy động đó để đầu tư cho các doanh
nghiệp khác đang trong tình trạng thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng tạm thời vượt quá
thu nhập của dân chúng và cho yêu cầu chi tiêu của ngân sách Nhà nước trong lúc
chưa có nguồn thu kịp thời Như vậy ngân hàng đã góp phần điều hòa vốn một cách
có hiệu quả trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn trong
nền kinh tế
Trong nền kinh tế quốc dân luôn có những nguồn vốn tạm thời chưa được sử
dụng bao gồm: vốn tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế từ các quỹ lương, quỹ
khấu hao, quỹ phúc lợi và vốn tạm thời nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư. Tín dụng
8
ngân hàng đã động viên tập trung các nguồn vốn đó về một mối thông qua hoạt động
huy động vốn. Trên cơ sở đó, nguồn vốn sẽ được ngân hàng sử dụng thông qua các
nghiệp vụ sử dụng vốn của mình nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao, tránh tình trạng
vốn chết, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Thứ ba, tín dụng thỏa mãn nhu cầu tiết kiệm và mở rộng đầu tư của nền kinh tế
Trong nền kinh tế luôn tồn tại hai loại cá nhân và tổ chức:
thực hiện đúng cam kết thì ngân hàng sẽ phải dùng đến các biện pháp chế tài tín dụng.
Do đó, các chủ thể kinh tế phải tìm mọi biện pháp để tăng hiệu quả sử dụng vốn như
đẩy mạnh vòng quay vốn tăng năng suất, giảm giá thành vừa để nhanh chóng tiêu thụ
sản phẩm để vừa hoàn vốn cho ngân hàng, vừa để thu lợi nhuận vì vậy, hiệu quả sử
dụng vốn được nâng cao.
Thứ sáu, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong tổ chức điều hòa lưu
thông tiền tệ
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ của mình, các ngân hàng đã huy động và tập
trung vốn tạm thời nhàn rỗi, đồng thời đã rút ra khỏi lưu thông một bộ phận tiền tệ
không cần thiết (không cân đối với quan hệ tiền – hàng, gây lạm phát nền kinh tế). Mặt
khác, dựa vào quy luật lưu thông tiền tệ trong quá trình cân đối nguồn vốn tín dụng với
nhu cầu vay vốn, NHNN thực hiện đưa tiền vào lưu thông. Do đó, sự vận động của
vốn tín dụng dựa trên nguyên tắc đảm bảo hiệu quả kinh tế để tổ chức điều hòa lưu
thông tiền tệ.
Thứ bảy, tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển các ngành kinh tế mũi
nhọn, là động lực đối với việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế
Hoạt động tín dụng ngân hàng là tập trung vốn tạm thời nhàn rỗi quy về một mối
để cho các thành phần kinh tế vay. Tuy nhiên, việc cấp tín dụng không phải trải đều
cho các chủ thể có nhu cầu mà phải tập trung vào những chủ thể kinh tế có triển vọng
phát triển sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực kinh tế cần được ưu tiên vì chính những
10
ngành kinh tế đó sẽ thúc đẩy ngành kinh tế khác phát triển, tạo điều kiện cho nền kinh
tế phát triển bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thứ tám, tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng các mối quan
hệ giao lưu kinh tế quốc tế
Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu
kinh tế quốc tế. Hiện nay việc phát triển kinh tế của một nước luôn gắn liền với sự
phát triển kinh tế thế giới, trong đó đầu tư ra nước ngoài và kinh doanh xuất khẩu là
hai lĩnh vực hợp tác quốc tế thông dụng và phổ biển nhất. Vốn là nhân tố quyết định
nhận hay từ chối khoản vay.
Còn đối với doanh nghiệp, cán bộ tín dụng phải thu thập thông tin cần thiết về
doanh nghiệp gồm các thông tin về quản lý, hành chính; thông tin về tình hình tài
chính, về cá nhân; thông tin về khoản vay của doanh nghiệp. Việc thu thập thông tin
không chỉ thông qua phỏng vấn, giấy tờ báo cáo của doanh nghiệp mà cán bộ còn phải
đi xuống tận cơ sở sản xuất kinh doanh để quan sát, nghiên cứu. Ngoài ra còn phải
điều tra thêm về các thông tin khác có liên quan đặc biệt là việc thực thi các quan hệ
tín dụng trước đó của doanh nghiệ thông qua tiếp xúc với các chủ nợ trước đó. Xác
định các thông tin doanh nghiệp đã cung cấp và khám phá các thông tin mới cần thiết
về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Sau khi đã xác định rõ thì ngân
hàng còn có thể tư vấn cho khách hàng vay vốn về sự hợp lý của yêu cầu vay vốn và
có thể gợi ý sự sửa đổi
- Đưa ra quyết định cho vay
Sau khi đã tập hợp đầy đủ thông tin tài liệu thì bộ phận phân tích tiến dụng sẽ tiến
hành phân tích các báo cáo tài chính nhằm xác định xem đồng tiền và các tài sản dự
phòng của khác có đủ hoàn trả món vay hay không, sau đó sẽ chuẩn bị một bản báo
cáo tóm tắt có kèm theo kết quả phân tích để giử cho người có thẩm quyền xem xét.
Từ đó rút ra kết luận chính xácvề điểm mạnh điểm yếu trong yêu cầu xin vay của
khách hàng. Sau khi đã xem xét khoản vay, chính sách tín dụng và mục đích, mục tiêu
của ngân hàng, cán bộ phải đưa ra một quyết định có nên cho vay hay không và doanh
nghiệp phải được thông báo ngay lập tức. Nếu yêu câu được chấp thuận cán bộ tín
12
dụng phải trao cho người vay danh mục các chứng từ cần thiết để ký kết khoản vay và
đưa ra ngày dự tính ký kết.
- Cấu trúc khoản vay, ký kết khoản vay.
Một khoản vay cho cấu trúc hoàn hảo là khoản vay đáp ứng được nhu cầu cụ thể
của doanh nghiệp đồng thời cũng thỏa mãn các tiêu thức tín dụng của ngân hàng. Cấu
trúc của khoản vay gồm các yếu tố: lãi suất; thời hạn và lịch hoàn trả; sự đảm báo;
người bảo lãnh; các hạn chế và kiểm soát. Các yếu tố này phụ thuộc vào sự đàm phán
thỏa thuận giữa ngân hàng và doanh nghiệp xin vay.
tìm ra giải pháp, khi kế hoạch sửa chữa đã được thiết lập thì ngân hàng phải giám sát
việc thực hiện một cách liên tục, doanh nghiệp phải báo cáo thường xuyên và cả hai
bên cùng phải quan tâm tích cực và phải thường xuyên thận trọng phân tích kết quả
của chương trình sửa chữa. Và thường thì ngân hàng chỉ tiến hành thủ tục pháp lý để
thu hồi khoản nợ vay sau khi đã áp dụng các biện pháp chỉnh sửa mà không có hiệu
quả.
- Thu nợ
Khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo các điều kiện của hợp đồng tín
dụng thì cán bộ tín dụng phải lập ngay một kế hoạch thu nợ, sau đó thân trọng cân
nhắc vạch ra các phương án khác nhau để có thể thực hiện các điều đó. Thường thì
ngân hàng thuyết phục khách hàng tự động bán tài sản thế chấp của mình,nếu không
được thì ngân hàng sẽ tiến hành thù hồi tài sản cầm cố thế chấp và bán hoặc cho thuê
tài sản này. Việc ngân hàng xử lý và bán lại tài sản làm đảm báo phải chú ý thực hiện
đúng mọi điều khoản luật pháp có liên quan, vì nếu không ngân hàng sẽ phải có ngĩa
vụ bồi thường thiệt hại xảy ra đối với khách hàng.
Đây là một quy trình rất cụ thể, nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo sự an toàn chắc
chắn trong việc cho vay. Tuy nhiên, ở Lào hiện nay việc áp dụng nó còn nhiều tồn tại
như: thủ tục, giấp tờ còn rườm rà, nhất là đối với việc cho hộ nông dân vay, đó là
những món vay nhỏ lẻ, địa bàn cư chú của người vay phân tán, trình độ dân trí thấp,
nhu cầu vay vốn cao, vậy mà hồ sơ, quy trình thủ tục vay vốn của họ lại rất phức tạp,
gây khó khăn cho người dân. Hay như, việc tuân thủ theo đúng quy trình của cán bộ
14
tín dụng hoặc sự hợp tác của khách hàng vay vốn trong việc cung cấp thông tin, giám
sát… cũng là vấn đề bức xúc, do trình độ kém hay đạo đức nghề nghiệp khiến cho cán
bộ tín dụng đôi khi không thực hiện đúng quy trình, hay khách hàng không hợp tác
khiến cho việc cho vay gặp nhiều khó khăn và có thể dẫn đến rủi ro lớn. Nhất là hiện
nay vấn đề nợ quá hạn, nợ khó đòi trong các ngân hàng thương mại là rất lớn, một
phần là do quy trình thủ tục cho vay không được đảm báo đúng như quy định, đồng
thời biện pháp thu hồi nợ sau khi cho vay trong các ngân hàng cũng chưa được xây
dựng tô chức tốt, vì vậy hiệu quả của các khoản tín dụng là rất thấp. Tình hình đó đòi
bởi vì khi ngân hàng có được lợi nhuận từ việc cấp tín dụng có nghĩa việc cấp tín dụng
có hiệu quả, cũng có nghĩa khách hàng của ngân hàng hoạt động có hiệu quả trong
kinh doanh, thu được lợi nhuận trả được nợ cho ngân hàng. Đối với xã hội, hiệu quả
của hoạt động tín dụng sẽ góp phần thực hiện các chính sách hay mục tiêu phát triển
kinh tế của nhà nước, tạo ra môi trường thuận lợi cho mọi thành viên phát triển.
Để xem xét hiệu quả hoạt động tín dụng, người ta cần sử dụng các chỉ tiêu hiệu
quả cụ thể khác nhau. Do phần lớn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng là hoạt
động cho vay vì vậy xét đến hiệu quả tín dụng – hiệu quả cho vay là xét đến hiệu quả
về chất lượng và lợi nhuận mà hoạt động đó mang lại cho ngân hàng.
1.2.2. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả cho vay của ngân hàng thương mại
Các khoản tín dụng của ngân hàng hiệu quả tốt khi hiệu quả sử dụng vốn cao, an
toàn và mang lại hiệu quả kinh tế cho chủ thể sử dụng đồng thời mang lại một mức lợi
nhuận nào cho ngân hàng. Dưới đây là một số chỉ tiêu đo lường tín dụng của ngân
hàng thương mại:
Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cho vay
Như Giáo tình Quản trị kinh doanh đã chỉ ra từ các công thức xác định hiệu quả kinh
doanh theo các chỉ tiêu đã trình bày ở trên sẽ luôn xác lập được một dãy các giá trị có thể
của từng chỉ tiêu: có giá trị cao, có giá trị thấp, có giá trị rất thấp,… Vấn đề được đặt ra là
các giá trị này đã phản ánh tính hiệu quả ở mức độ nào? Rõ ràng, trong cả dãy giá trị có thể
của mỗi chỉ tiêu không phải giá trị nào cũng phản ánh tính có hiệu quả.
16
Trường hợp lỗ vốn, chỉ tiêu lợi nhuận/vốn kinh doanh âm thì rõ ràng ngân hàng kinh
doanh không có hiệu quả. Cũng không thể coi là có hiệu quả nếu lợi nhuận bằng không.
Với các giá trị dương thì vấn đề là ở chỗ giá trị nào được quan niệm là có và giá
trị nào được coi là không có hiệu quả? Tùy từng thời kỳ, giá trị của mỗi chỉ tiêu cũng
có thể tăng lên hay giảm đi theo thời gian. Khi các giá trị này tăng cũng chưa chắc đã
là có và khi các chỉ tiêu này giảm thì cũng chưa chắc là không có hiệu quả. Chính vì
vậy, phải nghiên cứu phạm trù tiêu chuẩn hiệu quả.
Có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả là "mốc" xác định ranh giới có hay không có hiệu
quả. Như thế, cần xác định tiêu chuẩn hiệu quả cho mỗi chỉ tiêu để phân biệt “mức” có
chỉ tiêu này có thể tác động tốt, tạo cơ sở tăng hiệu quả hoạt động tín dụng; ngược lại,
có thể tác động xấu, làm giảm hiệu quả hoạt động tín dụng. Dưới đây là các chỉ tiêu
thuộc loại này:
• Tăng trưởng dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay năm sau – dư nợ cho vay năm trước
Chỉ tiêu tăng trưởng =
Dư nợ cho vay năm trước
Chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ cho vay dùng để phản ánh tốc độ tăng trưởng dư nợ
tín dụng qua các năm. Chỉ tiêu này được xem xét trên kía cạnh mở rộng hoạt động tín
dụng của ngân hàng. Nếu ngân hàng có sự tăng trưởng với tốc độ có nghĩa là quy mô
tín dụng được mở rộng.
• Vòng quay vốn tín dụng
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng =
Tổng dư nợ
Thu nhập từ hoạt động cho vay
• Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động cho vay =
Tổng thu nhập
Chỉ tiêu thứ ba sử dụng để đánh giá hiệu quả tín dụng là tỷ lệ thu nhập từ hoạt
động tín dụng. Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng cho biết tỷ lệ % thu nhập có thu
18
được từ tín dụng trên tổng thu nhập từ tất cả các hoạt động của ngân hàng từ hoạt động
tín dụng.
Tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng do vậy tỷ lệ thu
nhập của NHTM phải cao. Tuy nhiên đây chỉ là con số tương đối. Khi xét đến tỷ lệ thu
nhập từ hoạt động tín dụng mang lại trên tổng thu nhập cần phải có sự so sánh, tính
toán về các chi phí đã bỏ ra để có được thu nhập này so với các hoạt động khác. Nếu
như tỷ lệ thu nhập cao mà chi phí bỏ ra lớn điều đó không có nghĩa hoạt động tín dụng
có hiệu quả. Do vậy các NHTM phải tìm cách nâng cao thu nhập đồng thời phải giảm
bớt các chi phí liên quan.
lệ này tới mực thấp nhất có thể.
Tỷ lệ nợ khó đòi: là các khoản nợ quá hạn đã quá một kỳ gia hạn nợ. Tỷ lệ nợ
khó đòi cho biết khả năng thu nợ trong tổng nợ quá hạn là bao nhiêu phần trăm, nó cho
phép NHTM có thể đánh giá chi tiết hơn về độ an toàn tín dụng.
Thực tế cho thấy các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động đôi lúc không thể
tránh khỏi những rủi ro trong kinh doanh gây nên tình trạng không trả được nợ hoặc
không trả được nợ đúng hạn, đôi khi là do nguyên nhân chủ quan từ chính bản thân
doanh nghiệp. Trong nền kinh tế của nước CHDCND Lào hiện nay khối doanh nghiệp
nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng tương đối lớn; các doanh nghiệp này hoạt động dựa vào
sự bảo hộ và quản lý của Nhà nước với cơ chế cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả
thường được vay vốn theo sự chỉ định của nhà nước, vì vậy khả năng trả nợ ngân hàng
thương kém. Bên cạnh đó có rất nhiều các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh tuy rất năng động trong thời kỳ kinh tế mới, làm ăn hiệu quả ngày
càng cao nhưng do kinh nghiệm còn hạn chế, gặp một số cản trở từ cơ chế chính sách,
nhất là trong tình trạng cạnh tranh gay gắt dẫn đến những rủi ro không thể tránh được
và việc không thể trả nợ cho ngân hàng là điều có thể xảy ra. Để tránh điều này, các
NHTM đã và đang chủ đọng trong việc thực hiện một quy trình phần tích tín dụng một
cách nghiêm túc, cẩn thận đồng thời yêu cầu mọi khoản tín dụng đều cần tới tài sản
đảm bảo. Đồng thời, tạo điều kiện khuyến khích vay vốn cho các khách hàng mới, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dự nợ của NHTM ở một thời
điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Chỉ tiêu này được tính theo
công thức:
20