Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHNN & PTNT Ninh Kiều
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN NINH KIỀU
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện
PHAN THÁI BÌNH TRẦN CẨM TÚ
Mã số SV: 4043488
Lớp: Tài chính – ngân hàng 2
Khóa: 30
Cần Thơ – 2008
GVHD: Phan Thái Bình i SVTH: Trần Cẩm Tú
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHNN & PTNT Ninh Kiều
LỜI CẢM TẠ
Trải qua 4 năm trên giảng đường đại học, những điều còn đọng lại trong
em giờ đây là kiến thức làm hành trang trên con đường sắp tới, là sự chỉ bảo,
giảng dạy tận tình của quý thầy, cô khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh trường
Đại học Cần Thơ. Đồng thời trong thời gian vừa qua, em được sự giới thiệu của
quý thầy cô và sự đồng ý của Ban lãnh đạo NHNN & PTNT Ninh Kiều em đã
được tiếp nhận thực tập tại NHNN & PTNT Phòng giao dịch An Bình.
Thời gian thực tập tại NHNN & PTNT Phòng giao dịch An Bình là cơ hội
để em có thể tiếp xúc với thực tế, mở rộng thêm kiến thức của mình bên cạnh
những kiến thức được trang bị trên ghế nhà trường. Nhờ sự hướng dẫn, sự giúp
đỡ tận tình của quý thầy cô và các cô, chú, anh, chị trong Ngân hàng đã giúp em
hoàn thành tốt đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Ninh Kiều”.
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh
Ngày …. tháng …. năm …
Trưởng phòng
GVHD: Phan Thái Bình iv SVTH: Trần Cẩm Tú
Ngày …. tháng …. năm …
Giáo viên phản biện
(ký và ghi họ tên)
GVHD: Phan Thái Bình v SVTH: Trần Cẩm Tú
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHNN & PTNT Ninh Kiều
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Đất nước đang chuyển mình với những bước đi đúng hướng, những thành
tựu mới trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Xu hướng toàn cầu hoá
trên thế giới cùng với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã
mở ra nhiều cơ hội mới cho mọi nhà, mọi doanh nghiệp, mọi lĩnh vực trong đó
không thể không nói tới ngân hàng - một lĩnh vực hết sức nhạy cảm ở Việt Nam.
Nước ta đang bắt đầu thực hiện các cam kết mở cửa, khiến cho các doanh nghiệp
đứng trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt, cơ hội nhiều nhưng thách thức
cũng không nhỏ. Điều này tạo ra những ảnh hưởng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp, vì thế ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng
thương mại nói chung và hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng.
Trong hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, hoạt
động tín dụng là một nghiệp vụ truyền thống, nền tảng, chiếm tỉ trọng cao trong
cơ cấu tài sản và cơ cấu thu nhập. Tín dụng là cho vay, là đầu tư vào những
phương án, dự án cụ thể nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cho chủ phương án, dự
án đồng thời đem lại hiệu quả về mặt xã hội. Đó là mong muốn của người cho
vay, cũng như người đi vay, nhưng làm thế nào để đạt được mục đích đó, quả
khuôn, không máy móc, nhưng cũng cần phải đảm bảo tính nguyên tắc cho nó
phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể theo đúng pháp luật và cơ chế hiện
hành”. Vì vậy cùng với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay nói chung và thành
phố Cần Thơ nói riêng – nay đã trở thành thành phố trực thuộc trung ương với sự
phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội thì vấn đề tín dụng ngày càng trở nên
quan trọng. Vấn đề đặt ra là làm sao để đẩy mạnh hoạt động tín dụng trong giai
đoạn hiện nay cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế xã hội cũng như khả
năng đáp ứng tín dụng của ngân hàng NN và PTNT Ninh Kiều. Do đó em quyết
định chọn đề tài này với việc phân tích tín dụng của ngân hàng trong 3 năm 2005
- 2007 qua đó thấy được tình hình tín dụng của ngân hàng, kết hợp với việc
nghiên cứu tình hình phát triển, những biến động kinh tế có liên quan đến hoạt
động tín dụng trong những tháng đầu năm 2008 để đề ra biện pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động tín dụng cho phù hợp với điều kiện cũng như kế hoạch của ngân
hàng trong năm 2008 và trong những năm sắp tới.
GVHD: Phan Thái Bình 2 SVTH: Trần Cẩm Tú
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHNN & PTNT Ninh Kiều
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Hiện nay, hoạt động dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thương mại trên
địa bàn thành phố Cần Thơ vẫn còn nhiều hạn chế về hình thức cấp tín dụng, về
tính đa dạng của các sản phẩm dịch vụ, đặc biệt là mức độ an toàn và khả năng
mở rộng tăng trưởng tín dụng. Trong khi đó, yêu cầu về vốn, về chất lượng dịch
vụ tín dụng ngày càng cao, áp lực cạnh tranh và hội nhập ngày càng lớn.Vì vậy,
đề tài tập trung phân tích, đánh giá hoạt động tín dụng từ đó đề xuất giải pháp,
kiến nghị hợp lý, thích ứng với môi trường kinh doanh, phù hợp với đặc điểm
của ngân hàng, phát huy được các thế mạnh, khắc phục và hạn chế được các
điểm yếu nhằm mục tiêu an toàn và sinh lợi của Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Ninh Kiều.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Từ mục tiêu chung như trên, ta có các mục tiêu cụ thể như sau:
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động tín dụng của ngân hàng qua 3 năm
2005 – 2007 bao gồm tình hình huy động vốn, tình hình sử dụng vốn vay, thu nợ
của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Ninh Kiều thông qua các báo
cáo tài chính của ngân hàng. Do đó đây cũng là các đối tượng nghiên cứu của
luận văn.
GVHD: Phan Thái Bình 4 SVTH: Trần Cẩm Tú
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHNN & PTNT Ninh Kiều
Chương 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Phương pháp luận
Để hiểu được đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHN
o
và
PTNT Ninh Kiều” chúng ta cần phải nắm được một số vấn về sau qua sự tham
khảo các tài liệu liên quan bao gồm giáo trình tài chính - tiền tệ, Nghiệp vụ ngân
hàng thương mại của Thạc sĩ Thái Văn Đại và sổ tay tín dụng của NHN
o
&
PTNT Việt Nam:
2.1.1 Một số hiểu biết về vốn huy động
a. Khái niệm vốn huy động
Vốn huy động là phương tiện tiền tệ do ngân hàng thu nhận từ nền kinh tế,
thông qua các nghiệp vụ ký thác để làm vốn cho hoạt động kinh doanh. Đối với
nguồn vốn này ngân hàng chỉ được quyền sử dụng nó trong khoản thời gian nhất
định chứ không có quyền sở hữu nó. Vì vậy, khi sử dụng ngân hàng phải dự trữ
lượng tiền nhất định để đáp ứng nhu cầu chi trả cần thiết cho khách hàng.
b. Các hình thức huy động vốn thông thường
• Tiền gởi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi hoàn toàn theo nguyên tắc khả
hàng trả lãi nhưng với lãi suất thấp.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là tiền gửi có một kỳ hạn nhất định, người
gửi được rút ra theo từng kỳ hạn thỏa thuận với ngân hàng và có mức lãi suất
khác nhau, kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Thông thường có các kỳ hạn
như sau: 01 tháng, 02 tháng, 03 tháng, 06 tháng, 07 tháng, 09 tháng, 12 tháng, 13
tháng, 18 tháng, 24 tháng và trên 24 tháng.
• Vốn huy động thông qua các chứng từ có giá
Đây là việc ngân hàng thương mại phát hành các chứng từ có giá như kỳ
phiếu ngân hàng có mục đích, chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu ngân hàng để huy
động vốn, lãi suất cố định hay lãi suất thời điểm là tùy thuộc vào ngân hàng phát
hành. Có các đặc điểm:
Ngân hàng phát hành chứng từ có giá nhằm bổ sung nguồn vốn kinh
doanh. Chỉ được phát hành sau khi cân đối toàn bộ hệ thống giữa nguồn vốn và
sử dụng vốn, khi khả năng nguồn vốn toàn hệ thống không đáp ứng đủ nhu cầu
GVHD: Phan Thái Bình 6 SVTH: Trần Cẩm Tú
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHNN & PTNT Ninh Kiều
sử dụng vốn thì chỉ được phát hành nếu được Thống đốc ngân hàng Nhà nước
chấp nhận.
Chứng từ có giá rất thuận tiện cho khách hàng trong việc chuyển nhượng,
thế chấp. Đây là hình thức huy động vốn được khách hàng ưa thích nhiều nhất, vì
nó rất đa dạng, phong phú tiện lợi cho người gửi. Bên cạnh đó, lãi suất hấp dẫn
hơn so với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Hiện nay loại tiền gửi này ở các ngân
hang thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn.
Đối với tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu thì yếu tố
lãi suất quyết định vì thực chất đây là nguồn tiền nhàn rỗi gửi vào ngân hàng với
mục đích kiếm lời.
c. Nguyên tắc các khoản tiền gởi
- Tạo điều kiện cho khách hàng gửi vào thuận tiện, lấy ra dể dàng.
- Ngân hàng chỉ sử dụng theo tỷ lệ phần trăm tiền gửi để cho vay, phần còn lại
làm quỹ dự trữ thanh toán.
mại cấp tín dụng vào nền kinh tế.
Nguồn vốn đi vay của các ngân hàng khác là nguồn vốn được hình thành
bởi các mối quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín
dụng với ngân hàng Nhà nước, nguồn vốn đi vay bao gồm: nguồn vốn vay của
các tổ chức tín dụng khác, nguồn vốn vay của ngân hàng trung ương, nguồn vốn
trong thanh toán, các nguồn vốn khác.
• Đối với ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ
yếu là thường xuyên nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử
dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ và làm phương tiện thanh toán.
Đây là hai mặt đối lập trong một chỉnh thể thống nhất trong hoạt động kinh
doanh tiền tệ.
Tất cả các ngân hàng thương mại đều sử dụng một lượng vốn rất lớn, nhiều
lần so với vốn tự có của mình để cho vay. Để có được lượng vốn đó các ngân
hàng thương mại phải huy động vốn từ nhiều nguồn trong xã hội. Từ nguồn vốn
huy động, nguồn vốn tự có của mình mà các ngân hàng thương mại sẽ đầu tư lại
cho nền kinh tế. Như vậy, hoạt động chính của ngân hàng thương mại tất yếu là
hai quá trình huy động vốn và sử dụng vốn, khi hai quá trình được tiến hành một
cách bình thường thì hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại diễn ra
GVHD: Phan Thái Bình 8 SVTH: Trần Cẩm Tú
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHNN & PTNT Ninh Kiều
trôi chảy, thuận lợi. Ngược lại, một trong hai quá trình đó bị ách tắc thì sẽ gây ra
những khó khăn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Mặc khác, ngân hàng thương mại được xem là một doanh nghiệp hoạt động
với phương châm “đi vay để cho vay” do đó đối với nguồn vốn huy động thì
ngân hàng phải sử dụng vốn sao cho hiệu quả, nhất là việc cho vay, đầu tư góp
vốn liên doanh… để trang trải cho mọi chi phí phát sinh, có lãi và đứng vững
trong môi trường cạnh tranh đồng thời góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
• Đối với nền kinh tế
Vốn là điều kiện không thể thiếu trong nền kinh tế, vì bất kỳ một ngành
a. Khái niệm tín dụng
Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới
hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ người sở hữu sang
người sử dụng và khi đến hạn người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với
một lượng giá trị lớn hơn. Khoản giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng.
Khái niệm tín dụng được thể hiện qua sơ đồ.
Vốn (1)
Người cho vay Người đi vay
Vốn + lãi (2)
Hình 1: Sơ đồ tín dụng
Từ khái niệm trên, tín dụng thể hiện 3 mặt cơ bản:
- Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang
người khác.
- Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời
- Khi hoàn trả lại giá trị đã chuyển giao phải bao gồm cả vốn gốc lẫn lãi.
b. Các hình thức tín dụng
• Phân theo thời hạn tín dụng
Bao gồm 3 hình thức sau:
- Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và được sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu
chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đối với ngân hàng loại tín dụng này chiếm vị trí
quan trọng vì nguồn vốn của ngân hàng là các khoản tiền gởi ngắn hạn là chính.
GVHD: Phan Thái Bình 10 SVTH: Trần Cẩm Tú
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHNN & PTNT Ninh Kiều
- Cho vay trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 5
năm. Mục đích là để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết
bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô
nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông nghiệp, chủ yếu cho vay trung
hạn để đầu tư vào các đối tượng sau: máy cày, máy bơm nước…
- Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm. Loại tín dụng này
tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt và đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay
phát hành và sử dụng thẻ tín dụng tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuân theo
các quy định của Chính phủ và ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hành và
sử dụng thẻ tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thoả
thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản
thanh toán của khách hàng phù hợp với các qui định của Chính phủ và Ngân
hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán.
- Cho vay hợp vốn: một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một
dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một tổ chức
tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.
Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm; phù hợp với quy
chế tại Quy chế này và điều kiện hoạt động kinh doanh của NHN
O
& PTNT Quận
Ninh Kiều và đặc biệt của khách hàng vay.
2.1.3 Vai trò, chức năng tín dụng
a. Vai trò của tín dụng
• Xét về mặt tích cực
- Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển:
Trong quá trình sản xuất và kinh doanh, để duy trì sự hoạt động liên tục
đòi hỏi vốn của xí nghiệp phải đồng thời tồn tại ở 3 giai đoạn: dự trữ, sản xuất và
lưu thông, nên hiện tượng thừa và thiếu vốn tạm thời luôn xảy ra tại các doanh
nghiệp. Từ đó tín dụng đã góp phần điều tiết nguồn vốn tạo điều kiện cho quá
trình sản xuất – kinh doanh không bị gián đoạn.
Với mục tiêu mở rộng sản suất đối với từng doanh nghiệp, thì yêu cầu về
nguồn vốn là một trong những mối quan tâm hàng đầu được đặt ra. Bởi lẻ, để đẩy
mạnh tiến độ phát triển sản xuất không chỉ trông chờ vào vốn tự có mà doanh
nghiệp cần phải cần tới các nguồn khác trong xã hội. Từ đó, tín dụng làm chức
không làm cho nền kinh tế phát triển mà lạm phát có thể gia tăng ảnh hưởng đến
toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội.
b. Chức năng của tín dụng
GVHD: Phan Thái Bình 13 SVTH: Trần Cẩm Tú
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHNN & PTNT Ninh Kiều
Trong nền kinh tế hàng hóa, tín dụng thực hiện ba chức năng cơ bản sau:
- Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trên cơ sở có hoàn trả.
Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai quá trình thống nhất trong sự
vận hành của hệ thống tín dụng. Ở đây, sự có mặt của tín dụng được xem như
chiếc cầu nối giữa các nguồn cung - cầu về vốn tiền tệ.
Thông qua chức năng này, tín dụng đã trực tiếp tham gia điều tiết các nguồn
vốn tạm thời thừa từ các cá nhân, các tổ chức kinh tế để bổ sung kịp thời cho
những doanh nghiệp, nhà nước hay các cá nhân đang gặp thiếu hụt về vốn. Hay
nói cách khác: Ở khâu tập trung, tín dụng là nơi tập hợp những nguồn vốn tạm
thời nhàn rỗi trong xã hội, còn ở khâu phân phối lại vốn tiền tệ - tín dụng là nơi
đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, các cá nhân và cho cả ngân sách.
- Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông cho xã hội.
Nhờ hoạt động tín dụng mà có thể phát huy chức năng tiết kiệm tiền mặt và
chi phí lưu thông cho xã hội, điều này thể hiện qua các mặt sau:
+ Hoạt động tín dụng, trước hết tạo điều kiện cho sự ra đời của các công
cụ lưu thông tín dụng như: thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng, các loại séc, các
phương tiện thanh toán hiện đại như: thẻ tín dụng, thẻ thanh toán cho phép thay
thế một số lượng lớn tiền mặt lưu hành (kể cả tiền đúc bằng kim loại quý như
trước đây và tiền giấy như hiện nay) nhờ đó làm giảm bớt các chi phí có liên
quan như: in tiền, đúc tiền, vận chuyển và bảo quản tiền.
+ Với sự hoạt động của tín dụng, đặc biệt là tín dụng ngân hàng, đã mở ra
một khả năng lớn trong việc mở tài khoản và giao dịch thanh toán thông qua
ngân hàng dưới các hình thức chuyển khoản và bù trừ cho nhau. Cùng với sự
phát triển mạnh mẽ của tín dụng thì hệ thống thanh toán qua ngân hàng ngày
càng được mở rộng, cho phép giải quyết nhanh chóng các mối quan hệ kinh tế
2.1.4 Lãi suất cho vay
a. Định nghĩa lãi suất cho vay
Lãi suất cho vay là giá cả phải trả cho việc sử dụng vốn của người
khác vào mục đích sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng được đo bằng tỉ lệ
phần trăm (%) trên vốn tiền gởi hoặc cho vay trong thời gian nhất định.
Lãi suất cho vay do Giám Đốc Ngân hàng quyết định trong phạm vi khung
lãi suất do Thống Đốc ngân hàng Nhà Nước công bố.
GVHD: Phan Thái Bình 15 SVTH: Trần Cẩm Tú
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHNN & PTNT Ninh Kiều
Lợi tức tín dụng
Lãi suất tín dụng = x 100 %
Vốn tín dụng
Lợi tức tín dụng là tỉ số giữa tiền thu về trong một thời gian nhất định và
số tiền bỏ ra ban đầu.
b. Ý nghĩa của lãi suất cho vay
Lãi suất là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô có tác dụng rất lớn đến sản xuất
kinh doanh. Chế độ lãi suất thích hợp sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển,
ngược lại sẽ làm trì trệ và đình đốn hoạt động sản xuất kinh doanh. Lãi suất luôn
có tác dụng hai mặt:
- Khuyến khích tiết kiệm, người ta có xu hướng gởi tiền vào ngân hàng hơn
là đầu tư sản xuất kinh doanh.
- Hạn chế dùng vốn tín dụng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, từ đó làm cho
hoạt động sản xuất kinh doanh gặp khó khăn do áp lực lãi suất quá cao vì tình
trạng tài nguyên bị khiếm dụng.
Lãi suất thích hợp có tác dụng mở rộng đầu tư vốn vào sản xuất kinh
doanh và thu hút được tiết kiệm.
2.1.5 Đảm bảo tín dụng
a. Khái niệm về đảm bảo tín dụng
Đảm bảo tín dụng là phương tiện đảm bảo cho Ngân hàng sẽ có một
nguồn vốn khác để hoàn trả vốn vay cho Ngân hàng nếu như mục đích vay bị phá
b. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
• Xét về mặt khách quan
Nên đứng trên phuơng diện khách quan rủi ro tín dụng xảy ra do những
nguyên nhân sau:
- Thiên tai hạn hán, bão lụt xảy ra bất ngờ làm mất mùa.
- Tỷ lệ lạm phát biến động làm đồng tiền mất giá, điều này ảnh hưởng rất
lớn đến giá cả của các sản phẩm nông nghiệp.
- Nhà nước chưa có chính sách bảo hộ giá cả sản phẩm nông nghiệp, giá
cả sản phẩm nông nghiệp lên xuống rất bất thường, thường vào mùa thu hoạch,
lúc phải trả tiền vay lại cho Ngân hàng thì giá lúa tụt xuống một cách rất lớn.
- Người vay vốn gặp biến cố bất ngờ trong lĩnh vực kinh doanh dẫn đến
thua lỗ.
GVHD: Phan Thái Bình 17 SVTH: Trần Cẩm Tú
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHNN & PTNT Ninh Kiều
• Xét về mặt chủ quan
- Người vay thiếu năng lực pháp lý hoặc sử dụng vốn sai mục đích, người
vay cố tình không trả nợ.
- Cho vay không tuân thủ đúng các nguyên tắc, điều kiện và các quy định
khác trong thể lệ tín dụng hiện hành.
- Cán bộ tín dụng chưa nắm chính xác thông tin về người vay vốn như:
thu nhập, năng lực sản xuất…
- Cán bộ Ngân hàng không xử lý triệt để đối với những khách hàng sử
dụng vốn không đúng mục đích xin vay.
- Người đại diện của tổ chức liên doanh, liên kết không thực hiện hết trách
nhiệm, bổn phận của mình đối với các món vay hoặc lạm dụng quyền hạn.
- Các giấy tờ sở hữu đất đai, nhà cửa, tài sản của hộ vay vốn được đánh
giá không chính xác do cán bộ tín dụng chưa đủ trình độ thẩm định tài sản thế
chấp. Cho nên khi họ không đủ hoặc mất khả năng trả nợ, Ngân hàng tiến hành
phát mãi tài sản thì giá trị tài sản thế chấp ấy không đủ đảm bảo được số tiền gốc
và lãi mà Ngân hàng cho vay.
a. Tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động
Dư nợ
Tỷ lệ dư nợ /Tổng vốn huy động = x 100%
Vốn huy động
Chỉ tiêu này đánh giá khả năng sử dụng vốn huy động vào việc cho vay
vốn. Thông thường khi nguồn vốn huy động ở Ngân hàng chiếm tỷ lệ thấp so với
tổng nguồn vốn sử dụng thì dư nợ thường gấp nhiều lần so với vốn huy động.
Nếu Ngân hàng sử dụng vốn cho vay phần lớn từ nguồn vốn cấp trên thì không
hiệu quả bằng việc sử dụng nguồn vốn huy động được. Chỉ tiêu này quá lớn hay
quá nhỏ đều không tốt, bởi vì nếu chỉ tiêu này quá lớn thì cho thấy khả năng huy
động vốn của Ngân hàng thấp, ngược lại nếu chỉ tiêu này quá nhỏ cho thấy Ngân
hàng đã sử dụng vốn huy động ngày càng không hiệu quả. Do vậy, tỷ lệ này càng
gần 1 thì càng tốt cho hoạt động Ngân hàng, khi đó Ngân hàng sử dụng một cách
có hiệu quả đồng vốn huy động được.
GVHD: Phan Thái Bình 19 SVTH: Trần Cẩm Tú
Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại NHNN & PTNT Ninh Kiều
b. Tổng dư nợ trên tổng tài sản
Đây là chỉ số tính toán hiệu quả tín dụng của một đồng tài sản. Ngoài ra,
chỉ số này còn giúp xác định quy mô hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Tổng dư nợ
Tổng dư nợ /Tổng tài sản = x 100%
Tổng tài sản
c. Tỷ lệ nợ quá hạn
Chỉ số này đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng. Những
ngân hàng có chỉ số này thấp cũng có nghĩa là chất lượng tín dụng của ngân hàng
này cao.
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn trên dư nợ = x 100%
Tổng dư nợ
d. Hệ số thu nợ. (%)