1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
----------
ĐẬU ĐÌNH SANH
ẢNH HƯỞNG CỦA TẬP LUYỆN THỂ DỤC THỂ
THAO LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU HÌNH THÁI,
SINH LÝ, HOÁ SINH Ở NGƯỜI
TIỀN TIỂU ĐƯỜNG TẠI
THÀNH PHỐ VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Chuyên ngành: SINH HỌC THỰC NGHIỆM
VINH - 2012
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
----------
ĐẬU ĐÌNH SANH
ẢNH HƯỞNG CỦA TẬP LUYỆN THỂ DỤC THỂ THAO
LÊN MỘT SỐ CHỈ TIÊU HÌNH THÁI, SINH LÝ, HOÁ
vào hạng có số người mắc bệnh tiểu đường gia tăng nhanh nhất trên thế giới.
Thực ra, 65% số người mắc bệnh tiểu đường nhưng họ không nhận thức được
cho đến khi bị bệnh và khi kiểm tra ngẫu nhiên tại bệnh viện mới phát hiện ra
và 12% dân số đang ở giai đoạn tiền đái tháo đường. Nguyên nhân là do đái
tháo đường hoạt động khá âm thầm, hầu hết các bệnh nhân trải qua giai đoạn
mắc bệnh mà không có triệu chứng nào. Họ thường nhập viện ở giai đoạn mà
đái tháo đường đã gây tổn thương ở nhiều cơ quan trong cơ thể, biến chứng
đã nặng. Tiền đái tháo đường sẽ tiến triển thành bệnh đái tháo đường type 2
trong khoảng thời gian 10 năm và 50% trong số đó có nguy cơ bị mắc các
bệnh tim mạch, đột quỵ.
Tiền đái tháo đường có thể kiểm soát được và trong nhiều trường hợp
có thể đẩy lùi thông qua việc điều chỉnh lối sống, điều chỉnh chế độ ăn uống
và tăng cường tập luyện thể dục thể thao.
Nhằm góp phần chăm sóc sức khỏe cho người tiền đái tháo đường, hạn
chế các nguy cơ phát triển thành bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
4
“Ảnh hưởng của tập luyện thể dục thể thao lên một số chỉ tiêu hình
thái, sinh lý, hóa sinh ở người tiền tiểu đường tại thành phố Vinh”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Đánh giá thực trạng tiền đái tháo đường tại thành phố Vinh.
2. Xác định ảnh hưởng của một số bài tập luyện thể dục thể thao lên
một số chỉ tiêu hình thái, sinh lý, hóa sinh ở người tiền đái tháo đường tại
thành phố Vinh, Nghệ An.
3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Điều tra số lượng và tỷ lệ người bị tiền đái tháo đường tại các phường
của thành phố Vinh, Nghệ An.
- Đo các chỉ tiêu hình thái: Chiều cao đứng (cm), cân nặng (kg), vòng
eo (cm), vòng mông (cm), BMI.
Các yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển của bệnh tiểu đường loại 2 làm
tăng nguy cơ tiền tiểu đường, bao gồm:
- Thừa cân là một yếu tố nguy cơ chính cho tiền tiểu đường. Các mô
mỡ ở các vị trí như vùng bụng và mạc treo càng nhiều càng làm tăng sự
kháng insulin.
- Ít hoạt động: càng ít hoạt động càng có nguy cơ mắc tiền đái tháo
đường. Hoạt động thể chất giúp kiểm soát cân nặng và tăng sử dụng glucose
tạo nên năng lượng và tăng nhạy cảm của thụ thể insulin ở màng tế bào.
6
- Tuổi tác: Tuổi càng cao càng tăng nguy cơ tiền đái tháo đường, đặc
biệt là sau 45 tuổi.
- Tiền sử gia đình: Nguy cơ tiền tiểu đường sẽ tăng lên nếu cha mẹ
hoặc anh, chị, em ruột mắc bệnh tiểu đường loại 2.
- Chủng tộc: Mặc dù đây là lý do không rõ ràng, khả năng mắc tiền tiểu
đường liên quan đến chủng tộc. Theo một nghiên cứu của Mỹ cho thấy,
những người Mỹ gốc Phi, gốc Tây Ban Nha, người Mỹ bản địa, người Mỹ
gốc Á và các đảo Thái Bình Dương - có nhiều khả năng để phát triển tiền tiểu
đường.
- Tiểu đường thai nghén: Trong thời kỳ mang thai, nếu thai phụ bị tiền
đái tháo đường thì nguy cơ phát triển thành đái tháo đường sẽ gia tăng. Hoặc
nếu thai phụ sinh con từ 4,1 kg trở lên, càng có nguy cơ đái tháo đường.
- Hội chứng buồng trứng đa nang: Đối với phụ nữ, có hội chứng buồng
trứng đa nang - một tình trạng phổ biến đặc trưng của thời kỳ kinh nguyệt
không đều và béo phì làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.
- Ngủ quá ít hoặc quá nhiều: Một số nghiên cứu gần đây đã cho thấy có
mỗi liên quan giữa thiếu ngủ hoặc ngủ quá nhiều với tăng nguy cơ kháng
insulin. Nghiên cứu cho thấy thường xuyên ngủ ít hơn sáu giờ hoặc hơn chín
giờ một đêm có thể tăng nguy cơ tiền đái tháo đường hoăc đái tháo đường
thì không chắc chắn nhưng quá nhiều mỡ - đặc biệt mỡ vùng bụng và ít hoạt
động là những yếu tố quan trọng.
Nguyên nhân chính xác của bệnh tiền tiểu đường chưa được biết, mặc
dù các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra một số gen có liên quan đến đề kháng
insulin. Chất béo dư thừa - đặc biệt là mỡ bụng và ít vận động cũng dường
như là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của tiền tiểu đường.
- Giảm nhạy cảm của thụ thể insulin ở tế bào, dẫn đến mức chuyển hóa
và tiêu thụ glucose ở tế bào cơ và mô ít.
- Ăn quá nhiều các loại thực phẩm chứa carbohydrates. Bất kỳ thực
phẩm có chứa carbohydrates có thể ảnh hưởng đến lượng đường trong máu.
8
Trong quá trình tiêu hóa, glucose được hấp thu vào máu đến gan và tế
bào để chuyển hóa thành glycogen với sự giúp đỡ của insulin sau đó được
hấp thụ vào các tế bào của cơ thể để cung cấp cho họ năng lượng.
- Tuyến tụy sản xuất không đủ insulin hoặc các tế bào của cơ thể trở
nên đề kháng với tác động của insulin hoặc cả hai.
1.1.5. Các biến chứng
Tiến triển thành bệnh đái tháo đường loại 2 là hậu quả nghiêm trọng
nhất của tiền đái tháo đường nếu không được điều trị.
Biến chứng bệnh ĐTĐ loại 2 bao gồm: Cao huyết áp, cholesterol cao,
bệnh tim, đột quỵ, suy thận, tổn thương võng mạc, hoại tử chi.
Nhiều nghiên cứu đã đưa ra nhận định, những người bị tiền đái tháo
đường phải đối mặt với khoảng 25% cơ hội lớn hơn của việc có một cơn đột
quỵ bất kể của bất kỳ yếu tố nguy cơ tim mạch, theo một nghiên cứu mới đây
với quy mô lớn đã đưa ra mối liên quan giữa tiền đái tháo đường và nguy cơ
đột quỵ trong tương lai. Tuy nhiên, cho đến nay, các yếu tố bao gồm tăng
huyết áp và béo phì thực sự có liên quan đến tiền đái tháo đường và đái tháo
đường. Một tổng kết số liệu từ 15 nghiên cứu khác nhau trên 700.000 bệnh
Xét nghiệm đường huyết đói (Fasting Plasma Glucose Test- FPG):
Xét nghiệm đường huyết đói thường được chỉ định để chẩn đoán tiền
đái tháo đường và đái tháo đường. Tuy nhiên, xét nghiệm này có thể bỏ sót
một số trường hợp đái tháo đường hay tiền đái tháo đường mà test dung nạp
glucose có thể phát hiện được.
Xét nghiệm đường huyết đói được làm vào buổi sáng. Bệnh nhân được
yêu cầu nhịn đói ít nhất 8 giờ, như vậy, bệnh nhân chỉ cần không ăn khuya là
sáng sớm có thể thực hiện xét nghiệm được.
Kết quả: nếu đường huyết đói từ 100 tới 125 (mg/dL) chẩn đoán tiền
đái tháo đường: gọi là rối loạn đường huyết đói (IFG). Bệnh nhân rối loạn
đường huyết đói tăng nguy cơ bị đái tháo đường type 2. Đường huyết bệnh
10
nhân ≥ 126 mg/dL , chẩn đoán đái tháo đường, trường hợp này nên lặp lại xét
nghiệm 2 lần để xác định.
Xét nghiệm đường huyết lúc đói
Kết quả đường huyết (mg/dL)
Chẩn đoán
≤ 99
Bình thường
Tiền đái tháo đường
100 tới 125
(Rối loạn đường huyết đói)
≥ 126
Đái tháo đường
Nếu bệnh nhân không có triệu chứng điển hình của tăng đường huyết
nặng thì lập lại xét nghiệm vào ngày khác để xác định chẩn đoán.
Xét nghiệm đường huyết đói để chẩn đoán đái tháo đường phải thực
hiện bằng máu tĩnh mạch, không được thực hiện bằng máu mao mạch.
Xét nghiệm phải được lập lại vào ngày khác để xác định chẩn đoán.
1.1.7. Phương pháp điều trị
Hướng dẫn từ American College of Hormon đề nghị như sau để điều
trị bệnh tiền tiểu đường:
Ăn uống lành mạnh. Chọn thực phẩm ít chất béo và calo và nhiều chất
xơ. Tập trung vào trái cây, rau và ngũ cốc.
Hoạt động thể chất. Mỗi ngày tập thể dục 30 đến 60 phút ở cường độ
vừa phải và ít nhất năm ngày một tuần. Bài tập có thể lựa chọn như đi bộ,
yoga, đi xe đạp, bơi.
Giảm cân. Nếu đang thừa cân, chỉ cần giảm 5 đến 10% trọng lượng cơ
thể là có thể làm giảm nguy cơ tiền đái tháo đường và đái tháo đường type 2.
Để giảm trọng lượng cần có sự kết hợp giữa việc ăn uống hợp lý và vận động
tập luyện.
Dùng thuốc khi cần thiết. Một số phương thuốc điều trị, bao gồm: beta
glucans, mướp đắng, rượu quế, nhân sâm,… được cho là có khả năng điều trị
hay phòng ngừa đái tháo đường type 2, tuy nhiên không có bất cứ bằng chứng
nào kết luận các phương thuốc trên hiệu quả.
1.2. CÁC NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG TIỀN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
1.2.1. Thực trạng tiền đái tháo đường trên thế giới
Theo Cơ quan về dịch vụ Sức khỏe và con người của Mỹ (HHS) cho
hiết có khoảng gần 60 triệu người Mỹ mắc tiền đái tháo đường. Nhiều nghiên
cứu đã chỉ ra rằng hầu hết những người có đường huyết nằm trong ngưỡng
tiền đái tháo đường đều tiến triển lên đái tháo đường type 2 trong vòng 10
12
năm; nghiên cứu cũng cho thấy 50% người mắc tiền đái tháo đường có nguy
cơ bị bệnh tim mạch hoặc đột quỵ. Tiền đái tháo đường có thể kiểm soát
được và trong nhiều trường hợp có thể đẩy lùi được thông qua việc điều chỉnh
lối sống. Tình trạng tiền tiểu đường có nghĩa là lượng đường trong máu cao
Trong bối cảnh của sự gia tăng chung của các bệnh nhân tiểu đường
trên toàn thế giới, một sự tăng trưởng nhanh hơn được nhìn thấy trong khu
vực châu Á. IDF ước tính cho năm 2010 chỉ ra rằng sáu nước châu Á trong
top 10 quốc gia trên toàn thế giới về tỷ lệ của bệnh tiểu đường United Arab
Emirates (18,7%), Ả-rập Xê-út (16,8%), Bahrain (15,4%) Kuwait (14,6%),
Oman (13,4%) và Malaysia (11,6%). Năm quốc gia hàng đầu châu Á chi phí
cho chữa đái tháo đường nhiều nhất là: Ấn Độ (50,8 triệu USD), Trung Quốc
(43,2 triệu USD), Pakistan (7,1 triệu USD), Nhật Bản (7,1 triệu USD) và Inđô-nê-xi-a (7 triệu), trong đó Bangladesh được dự kiến sẽ thay thế Nhật Bản
vào năm 2030.
Theo nghiên cứu Yang W, Lu J, Weng J, Jia W, Ji L, Xiao J, et al
(2010) [24] cho thấy: Tại Trung Quốc, ở tuổi 20 trở lên, tỉ lệ tiền đái tháo
đường chiểm 17,7-25,5% và tỉ lệ đái tháo đường chiếm 9,7 - 15,5%. Ước tính
có 92,4 triệu người lớn ở tuổi 20 trở lên và 148,2 triệu người lớn sẽ có tiền đái
tháo đường.
Nghiên cứu trên cũng cho thấy, sự phổ biến của bệnh đái tháo đường tại
Trung Quốc có các đặc điểm sau: (i) Tăng lên với tuổi tác, (ii) Nam giới có tỷ
lệ cao hơn so với nữ giới, trong số những người lớn tuổi 20-60 năm,(iii) tỷ lệ
cao hơn đáng kể giữa các đô thị cư dân hơn giữa những người dân nông thôn,
(iv) Có sự tương quan giữa béo phì, thừa cân, học vấn thấp, giáo dục với tỉ lệ
mắc bệnh đái tháo đường và tiền đái tháo đường .
Nghiên cứu của Song KH, Nam-Goomg IS, Han SM, Kim SM, Lee EJ,
Lee YS, et al (2007) [22] cho thấy, ở vùng nông dân tại Hàn Quốc năm 1997,
tỉ lệ đái tháo đường là 6,9%, tiền đái tháo đường 21,9%, năm 2003 tỉ lệ đái
tháo đường 11,7% và tiền đái tháo đường 38,8% vào năm 2003 .
14
Sáu cuộc điều tra được tiến hành từ năm 1991 và 2004 trong khu vực
Okinawa của Nhật Bản cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường tăng từ 4,7% năm
1991 đến 8,4% vào năm 2004. Sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường ở nam
nhất của Bệnh viện Nội tiết Trung ương, khoảng 4% dân số nước ta bị ĐTĐ
và tỷ lệ người tiền ĐTĐ chiếm gần 10% tổng số dân.
Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Xuyên cho biết, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ
ngày càng gia tăng một phần là do lối sống với chế độ dinh dưỡng chưa hợp
lý và nhận thức cộng đồng về phòng, chống bệnh còn hạn chế. Bệnh ĐTĐ
thường dẫn đến các biến chứng như mù lòa, suy thận... Những người ở lứa
tuổi từ 40 đến 50 khi mắc bệnh, nhất là ĐTĐ tuýp 2 sẽ mất đi trung bình
khoảng mười năm sống. Bộ Y tế khuyến cáo người dân cần nâng cao sự hiểu
biết về phòng, chống bệnh ĐTĐ, nhất là những người tiền ĐTĐ, từ đó thay
đổi chế độ dinh dưỡng và lối sống phù hợp.
Nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương trên phạm vi toàn quốc
năm 2001 thì tỷ lệ ĐTĐ tại 4 tỉnh, thành phố lớn của Việt Nam (Hà Nội, Hải
Phòng, Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh) trong lứa tuổi 30-64 là 4,0%, tỷ lệ rối
loạn dung nạp glucose là 5,1%. Tỷ lệ đối tượng điều tra có các yếu tố nguy cơ
của bệnh ĐTĐ là 38,5%. Cũng qua số liệu điều tra, số bệnh nhân ĐTĐ không
được chẩn đoán là 44%.
Điều tra toàn quốc năm 2002, tỷ lệ bệnh lứa tuổi 30-64 của Việt Nam là
2,7%, tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose là 7,3%, riêng khu vực thành thị và khu
công nghiệp tỷ lệ bệnh ĐTĐ là 4,4%.Tỷ lệ bệnh nhân chưa được chẩn đoán
bệnh là 64,6%. Tại Cao Bằng (2004), tỷ lệ ĐTD là 6,8%. Tỷ lệ rối loạn đường
huyết lúc đói và sau làm nghiệm pháp là 30,2%.
Theo Vũ Quang Huy - phó trưởng bộ môn xét nghiệm, Đại học Y dược
TP.HCM - đã báo cáo nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học khảo sát tình
hình mắc đái tháo đường, rối loạn tăng lipid máu có nguy cơ tim mạch và đề
16
tài khảo sát tình hình nhiễm virút viêm gan B, chỉ số men gan. Kết quả cho
thấy tỉ lệ người mắc đái tháo đường và tiền đái tháo đường là 7,2% trên
54.390 người được khảo sát đường huyết. Số ca mắc này tăng theo độ tuổi với
không thể tránh khỏi. Với những thay đổi lối sống lành mạnh như ăn thức ăn
lành mạnh, bao gồm cả hoạt động thể chất trong thói quen hàng ngày và duy
trì một trọng lượng khỏe mạnh – người tiền đái tháo đường có thể điều chỉnh
lượng đường trong máu về mức bình thường.
1.3. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÁC DỤNG CỦA TẬP LUYỆN THỂ DỤC
THỂ THAO LÊN CÁC CHỈ TIÊU SINH HỌC
1.3.1. Tác dụng của đi bộ sức khỏe
1.3.1.1. Đi bộ sức khỏe
Đi bộ sức khỏe là bài tập có chu kỳ, cường độ trung bình, có tác dụng
tăng cường sức khỏe, phòng và chữa bệnh. Đi bộ là hình thức tập luyện phù
hợp với mọi người, dễ dàng xác định được lượng vận động theo tốc độ và
quãng đường đi. Đi bộ có sự tiêu hao năng lượng ít hơn so với chạy chậm.
Nguồn năng lượng cung cấp cho đi bộ chủ yếu từ con đường ưa khí, từ các cơ
chất mang năng lượng như đường và mỡ. Chính vì vậy mà đi bộ sức khỏe là
phương pháp hữu hiệu giảm cholesterol máu, giảm béo, tăng cường sức khỏe.
Dựa vào tốc độ và tần số bước, chia bài tập đi bộ thành 2 loại:
Đi bộ chậm
Đi bộ chậm là hình thức tập luyện phù hợp với sức khỏe của những
người có bệnh lý, với bài tập khoảng 70-90 bước/phút. Đây là loại hình tập
luyện có tính an toàn cao. Nhiều nghiên cứu nhận định rằng, đi bộ chậm có
tác dụng phòng bệnh khớp, nhất thoái hoá khớp gối. Các nhà nghiên cứu tại
Đại học Colorado tại Boulder đã đưa ra nhận xét, đi bộ chậm có tác dụng
giảm nguy cơ các bệnh về khớp, bởi khi đi bộ chậm, lực tác động đã làm cho
18
dịch khớp được luân chuyển, bao hoạt dịch tăng cường bài tiết chất bôi trơn,
làm cho khớp được linh hoạt hơn, tránh được các tổn thương khớp. Đi bộ
chậm đốt cháy calo nhiều hơn đi bộ nhanh, do đó có tác dụng giảm cân, giảm
mỡ máu, vừa có tác dụng đề phòng tổn thương khớp do trọng lượng cơ thể đè
1.3.1.2. Các nghiên cứu về tác dụng của bài tập đi bộ sức khỏe lên glucose
máu
Theo nghiên cứu của Steward KJ, 10.000 bước mỗi ngày tương đương
90 phút hoặc 5 dặm có tác dụng giảm 25% lượng glucose máu và tăng nhạy
cảm insulin, cải thiện hemoglobin A1C mức 1,1%, cải thiện cholesterol,
triglycerides, huyết áp và giảm nguy cơ bệnh tim. Giảm chi phí y tế của họ
với hơn 1200$ / năm.
Các chương trình phòng chống bệnh tiểu đường phát hiện ra rằng đi bộ
150 phút một tuần sẽ mất 7% mỡ trên cơ thể và có thể làm giảm nguy cơ phát
triển bệnh tiểu đường loại 2 bằng một con số đáng kể, thực tế 58%. Những
người đàn ông đi bộ nhiều hơn 2 dặm mỗi ngày có nguy cơ thấp hơn 50 %
của việc có một cơn đau tim, và theo Điều dưỡng y học, những phụ nữ đi bộ
hơn 150 phút mỗi tuần có nguy cơ thấp hơn 35% của việc có một đau tim.
Đối với cá nhân thừa cân hoặc béo phì, những người có thể chất không
hoạt động, đi bộ nhanh có thể là đơn thuốc tập thể dục tốt nhất cho đổ kg dư
thừa và giảm nguy cơ của hội chứng chuyển hóa và tiền tiểu đường.
Dữ liệu từ một phân tích mới cho thấy một nguy cơ ở tuổi trung niên cơ
thể không hoạt động dân số, tập thể dục cường độ vừa phải trong trường hợp
không có thay đổi chế độ ăn uống giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh tiền tiểu
đường và hội chứng chuyển hóa.
Điều tra viên cao cấp Tiến sĩ William Kraus (Trung tâm y tế Đại học
Duke, Durham, NC) nói rằng: "Những kết quả này cho rất nhiều sự tin tưởng
đến thực tế rằng các cá nhân không nhất thiết phải đi ra ngoài và làm rất nhiều
bài tập chuyên sâu để nhận được lợi ích sức khỏe ".
20
Kraus cho biết mục đích của nghiên cứu là để xác định ảnh hưởng của
các chương trình tập luyện khác nhau về hội chứng chuyển hóa. Nghiên cứu
bài tập trước đã xem xét những ảnh hưởng của tập thể dục vào các thành phần
21
Chỉ cần giảm được 10% trọng lượng cơ thể thì đã đủ để ổn định được lượng
glucose trong máu cùng với một chương trình tập thể dục trung bình trong 30
phút 3 – 4 lần một tuần. Với các chữa trị này của tiền tiểu đường thì đồng thời
các vấn đề sức khỏe khác cũng được cải thiện: tăng huyết áp, tăng cholesterol,
và các khó chịu của khớp.
1.3.2. Tác dụng của tập luyện Yoga
1.3.2.1. Khái niệm về Yoga
Yoga là một nghệ thuật cổ xưa có nền tảng là một môn khoa học cực kỳ
tinh tế nghiên cứu về thể xác, tâm trí và tinh thần. Yoga có nguồn gốc từ Ấn
Độ từ khoảng 5000 năm trước, là một trong sáu hệ thống chính của triết học
Ấn Độ. Từ yoga có nguồn gốc từ tiếng Phạn là yuj, có nghĩa là “hợp nhất lại”
hoặc “kết nối lại”, còn một nghĩa khác có liên quan là “đặt trọng tâm vào”
hoặc “sử dụng”. Trong thuật ngữ triết học thì sự hợp nhất giữa cá nhân và vũ
trụ paramatma chính là yoga.
Yoga là môn khoa học trị liệu có nguồn gốc từ Ấn Độ chứa đựng tinh
hoa trí tuệ nhân loại đang được nhiều nước áp dụng tập luyện để tăng cường
sức khoẻ, phòng chữa bệnh tật có hiệu quả [15].
Hatha yoga là một khoa luyện Âm Dương hợp nhất. Vần HA tiêu biểu
cho Mặt Trời là Dương. Vần THA tiêu biểu cho Mặt Trăng là Âm. Khoa học
này dùng cách hô hấp và phương pháp thể dục để thu thập sinh lực vô mình.
Có thể gọi nó là Khoa Luyện Trường Sinh. Ngày nay môn Yoga phổ biến và
thịnh hành ở các nước Tây Phương là Hatha Yoga.
Một yogi (người tập luyện yoga) muốn đạt đến đỉnh cao phải qua
ngưỡng cửa của Hatha Yoga. Hatha Yoga là nền tảng của tất cả các môn
Yoga, là cân bằng giữa căng và giãn, vận động và nghỉ ngơi. Gọi Hatha Yoga
là dưỡng sinh tức là đánh thấp giá trị của nó vì trong Hatha Yoga có các môn
khác và trong các môn khác đều có Hatha Yoga. Dù ở vào pháp môn nào, các
bước căn bản mà một yogi phải theo là:
Thở có 3 động tác: thở ra, thở vào và ngưng thở, và điều khiển tùy theo vị trí,
23
thời gian và số. Về nơi chốn, chú ý quan sát hơi thở khi vào thì đến vị trí nào
trong ngực và bụng, khi ra thì đến đâu trong vũ trụ. Về thời gian, hơi thở đều
đặn theo sự dài, ngắn, nhất định. Về số, tức đếm hơi thở, theo một con số với
giới hạn nào đó. Như vậy, cho đến khi hơi thở dài và tế nhị. Cuối cùng là tâm
và cảnh hợp nhất; tâm được tập trung trên một điểm duy nhất của đối tượng,
không còn tán loạn.
Tập trung vào hơi thở và vận chuyển khí bao gồm hít vào và thở ra,
luyện tập khống chế nhịp thở. Theo quan niệm của yoga, hơi thở bao gồm
không khí bên ngoài và khí bên trong cơ thể. Prana là sự kết nối giữa cơ thể
con người (bên trong) và vũ trụ (bên ngoài).
Điều tâm (Pratyahara): Sự khống chế các giác quan và tập trung vào bên
trong cơ thể, “đóng cửa” và tránh sự ảnh hưởng tác động của thế giới bên ngoài.
Tập trung (Dharana): Khi cơ thể được khoẻ mạnh bởi việc luyện tập thể
dục (asana), khí thông suốt bởi hơi thở (pranayama), và các giác quan được
khống chế tập trung sẽ dẫn đến việc tập luyện nhánh thứ sáu là dharana – một
sự tập trung cao độ vào một vật thể, hoặc một thứ cụ thể. Để đạt được mức độ
này cần có một sự luyện tập lâu dài bền bỉ.
Thiền (Dhyana): Tại nhánh này, sự tập trung đã tăng lên cao độ nhất, toàn
bộ cơ thể, hơi thở, cảm giác và tâm lý tụ lại tập trung vào vật thể hoặc một
hình ảnh nào đó.
Định (Samadhi): Khi cơ thể đã lên đến đỉnh cao của thiền, người tập yoga
tiến đến nhánh cuối cùng – Samadhi tức là khi cơ thể và mọi giác quan đều
tiến đến sự thư giãn đến mức gần như thiếp đi, nhưng thực ra tâm trí vô cùng
tỉnh thức và biết hết mọi thứ xung quanh, lúc này, người tập yoga đã đi vào
sâu hơn chiều sâu ý thức của mình.
1.3.2.2. Cơ sở khoa học của tập luyện Yoga trong chữa trị tiền đái tháo
25
Yoga còn có tác dụng tăng cường chức năng sinh lý sinh dục, tăng
cường sức khoẻ tình dục, nhất là đối với những người bị ĐTĐ. Hãy tập luyện
yoga hàng ngày, bạn sẽ có những phút giây khoái cảm trong tình dục [15; 13].
Yoga thường được xem là an toàn đối với người bị tiền ĐTĐ và ĐTĐ.
Tuy nhiên, một số bài tập yoga đặt ra có thể gây ra tổn thương cơ bắp, khớp
nếu tập luyện không đúng cách hoặc có thể căng thẳng cơ hoành và gây căng
thẳng thần kinh nếu thở không đúng. Do đó, người bị tiền ĐTĐ và ĐTĐ nên
tham gia khoá học Yoga cho người bị đái tháo đường và có chỉ dẫn của giáo
viên có kinh nghiệm và kiến thức cũng như hiểu rõ thực trạng sức khoẻ của
bạn, để theo dõi mọi thay đổi của cơ thể bạn trong quá trình tập luyện. Hãy
lựa chọn các bài tập yoga kéo dài 50-60 phút với các kỹ thuật thư giãn và
thiền định.
Tóm lại, cơ sở khoa học của yoga đối với giảm đường huyết là:
- Tiết glucagon được tăng cường bởi sự căng thẳng. Yoga có hiệu quả làm
giảm căng thẳng, do đó làm giảm glucagon và có thể cải thiện hoạt động của
insulin.
- Giảm trọng lượng cơ thể.
- Thư giãn cơ bắp, cải thiện nguồn cung cấp máu đến các cơ bắp có thể
làm tăng biểu hiện thụ thể insulin trên cơ gây gia tăng sự hấp thu glucose của
cơ bắp và do đó làm giảm lượng đường trong máu.
- Huyết áp lực đóng một vai trò lớn trong sự phát triển của các biến
chứng tiểu đường và có liên quan, được chứng minh được hưởng lợi bởi yoga.
Tương tự cũng đúng cho tăng mức cholesterol.
- Yoga giảm adrenaline, noradrenalin và cortisol trong máu, được gọi là
hormone stress. Đây là một cơ chế có khả năng cải thiện hoạt động.
- Nhiều tư thế yoga làm căng các sản phẩm trên các tuyến tụy, đó là có
khả năng kích thích chức năng tuyến tụy.