Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn lên một số chỉ số sinh học ở người trong môi trường lao động quân sự và đề xuất biện pháp khắc phục - Pdf 26

MỤC
LỤC
Trang
Đặt vấn đề Ì
Chương
Ì. TỔNG QUAN TÀI
LIỆU
4
1.1. Ảnh hưởng của
nhiệt
độ và độ ẩm cao đòi với

thê.
4
1.1.1.
Môi trường có nhiệt độ và độ ẩm cao. 4
1.1.2.
Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm cao lên chức năng
của các cơ
quan
trong
cơ thể. 5
1.1.2.1.
Anh hưởng của nhiệt độ và độ ấm cao lên quá
trình
chuyển hóa và điều nhiệt. 5
1.1.2.2.
Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm cao đến hệ
thống tuần hoàn và hô hấp. 14
1.1.2.3.
Anh hưởng của nhiệt độ và độ ấm cao đến chức

1.2.2.3.
Ảnh hưởng của tiếng
ồn
đối với
hệ
thống
tim
mạch
35
1.2.2.4.
Ảnh
hưởng
của
tiếng
ồn đối với các
chức
năng
khác
35
1.2.2.5.
Ảnh hưởng của tiếng
ồn
tới khả năng
lao
động
36
1.2.3.
Các biện pháp phòng
chống
tiếng ồn.

là bộ
đội
lái xe
tăng

thanh
niên
lao
động
trong
phòng
nhiệt
thực
nghiệm,
để
nghiên
cứu ảnh
hưởng
của môi
trường

nhiệt
độ và độ
ẩm
cao
đến
sức
khỏe
người
lao

Nghiên cứu
ảnh
hưởng
của
môi trường

nhiệt
độ và độ ẩm cao
đến
sức
khỏe
bộ
đội
lái xe
tâng.
40
2.2.2.
Nhóm
1.2.
Nghiên
cứu sự
thích
nghi
và khả
năng
chịu đựng với nóng
của
thanh
niên
trong

đường hầm. 52
2.2.5.
Phương pháp thu
thập
và xử lý sô
liệu
55
2.2.5.1.
Phương pháp thu
thập
số
liệu.
55
2.2.5.2.
Phương pháp xử lý số
liệu
56
2.2.6.
Mỏ hình nghiên cứu 58
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN cứu 59
3.1. Nghiên cứu ảnh
hưởng
của môi
trường

nhiệt
độ
và độ ẩm cao đến sức
khỏe
bộ đội lái xe tăng (nhóm

3.2.1.
Nghiên cứu sự thích
nghi
với nóng của
thanh
niên
trong
phòng
nhiệt.
73
3.2.2.
Nghiên cứu khả năng chịu đựng với nóng của cơ thể. 75
3.3. Nghiên cứu ảnh
hưởng
tiếng
ồn máy bay
AN-26
đến
thính lực của công nhân sửa
chữa
máy bay (nhóm 2.1). 80
3.3.1. Cường độ tiếng ồn nơi làm
việc.
80
3.3.2.
Kết quả
kiểm
tra thính lực. 83
3.3.3.
Các biện pháp báo hộ lao động. 86

4. BÀN
LUẬN
95
4.1. Về ảnh hưởng của môi trường có nhiệt độ và độ ẩm
cao đến sức khỏe bộ đội lái xe tăng và
thanh
niên lao động
trong
phòng nhiệt
thực
nghiệm. 95
4.ì.ỉ.
Anh hưởng của môi trường có nhiệt độ và độ ấm
cao đến sức khỏe bộ đội lái xe tăng. 95
4.1.2.
Biến
đổi một số chỉ số sinh lý, hoa sinh của bộ đội
lái
xe tăng
trong
lao động. 100
4.2. Về khả nâng thích nghi và chịu đựng với nóng của
thanh
niên
trong
phòng nhiệt
thực
nghiệm. Ì lũ
4.2.1. Về khả năng thích nghi với nóng
trong

THAM
KHẢO
134
PHỤ
LỤC 156
NHỮNG
CHỮ VIẾT TẮT
TRONG
LUẬN
ÁN
dB
: Deciben
ISO
:
International
Standarization Organization
(Tổ
chức tiêu chuẩn hóa quốc tế)
nh/phút
: nhịp/phút
TLĐ
: Trước lao động
SLĐ
: Sau lao động
SQTG
: Sỹ
quan
thiết giáp
HSQTG
: Hạ sỹ

WBGT
cho
phép trong
các điêu kiện
lao
động.
25
3 Bảng 2.1.
Đánh
giá
lượng
mồ hôi mất
trong ngày
lao
động.
43
4 Bảng 2.2. Mức độ tổn
thương thính
lực
theo Fowler-Sahine.
50
5 Bảng 2.3.
Bảng tính
tổn
thương
cơ thể
theo Fellman-Lessing.
51
6 Mô
hình nghiên

Cường
độ
tiếng
ổn, độ ẩm và tốc độ gió về mùa hè. 63
10 Bảng 3.4. Các chỉ
số sinh
lý của bộ đội lái xe
tâng
vê mùa
nóng
và mùa mát. 64
11 Bảng 3.5.
Nồng
độ
acid lactic trong
máu, mổ hôi và
nước tiểu
vào
mùa mát và mùa
nóng.
67
12 Bảng 3.6.
Tiêu
hao
năng lượng
của học
viên
và trợ
giáo
theo thời gian hoạt động

trực tràng
của
các
đối
tượng trong
lo
ngày
rèn
luyện
với
nóng.
73
15 Bảng 3.9. Sự
biến
đổi
lượng
trữ
nhiệt,
mồ hôi và
nồng
độ
ion
Na
trong
mồ hôi của các đối
tượng trong
lo
ngày
rèn
luyện

ồn ở
các phân xưởng trong
nhà
máy
19 Bảng 3.13.
Cường
độ
tiếng
ồn
trong

ngoài
máy bay ỏ
trạm
thử
nghiệm động
cơ.
20 Bảng 3.14. Ảnh
hưởnạ
của
tiếng
ồn ở hai địa
điểm
mới và

tới khu
vực
sản
xuất.
21 Bảng 3.15. So

loại hình
lao
động khác nhau.
25 Phụ lục 2. Các chỉ
số sinh
lý, hóa
sinh
của bộ đội lái xe
tăng trong
xe có
quạt

không quạt
sau lao
động.
26 Phụ lục 3. Các chỉ
số về chiều
cao và cân
nặng
của
những
đối tượng bước
bục
trong phòng nhiệt thực nghiêm.
27 Phụ lục 4. Kết quả
kiểm
tra
thính
lực của
công nhân

9. Hình 3.9. Mức độ giảm thính lực của các đối tượng khoan
đá trong đường hầm. 92
10. Hình 3.10. Tỷ lệ bị giảm thính lực của các đối tượng lao
động trong và ngoài đường hầm. 93
]
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước ta nằm
trong
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm có đến 233
ngày nóng, ẩm. Nhiệt độ
trung
bình hàng năm từ 22-27° c, độ ẩm tương đổi dao
động từ
70-95%
[78],[91].
về mùa hè, nhiệt độ ngoài trời thường lên tới 37-
38°c gây ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng lao động của con người [54]. Điều
kiện
tự nhiên nói trên ảnh hưởng
trực
tiếp đến các đối tượng lao động ở
những
ngành
nghề
và môi trường khác
nhau,
trong
đó có các quân binh
chủng
của

bệnh
lý như giảm thính lực, điếc
nghề
nghiệp, mệt mỏi cơ thể, giảm khả năng lao động của bộ đội.
Anh
hưởng các yếu tố bất lợi của môi trường đến cơ thế đã được nhiều nhà
khoa
học
trong
và ngoài nước
quan
tâm nghiên cứu [7],[8],[64],[Ì 10]. Trong
lĩnh vực y học lao động nói
chung
và y học lao động quân sự nói riêng đã có
một số công trình nghiên cứu về cường độ tiếng ồn của động cơ máy bay MIC-
21, SU-22 tác động đến thính lực phi công và thợ máy
[6],[7],[25];
về ảnh
hưởng của vi khí hậu nóng ẩm
trong
một số xe cơ
giới
tới
trạng
thái nhiệt của cơ
thể
[16],[67].
Song đa số các công trình thường nghiên cứu về tác động riêng rẽ của
từng

động quân sự, các chiến sĩ lái xe tăng, máy bay và xây
dựng
đường hầm phải chịu ảnh hưởng rất nhiều của các yếu tố bất lợi
trong
môi
trường lao động như
nhiệt
độ, độ ẩm cao và tiếng ồn lớn. Các yếu tố này thường
gây tác động
tổng
hợp lên cơ thể người lao động [64]. Do vậy việc nghiên cứu
tác động phối hợp của khí hậu nóng, ẩm và tiếng ồn lên các đối tượng là bộ đội
tăng -
thiết
giáp, cồng nhân sửa
chữa
máy bay và bộ đội xây
dựng
đường hầm là
nhu cầu cần
thiết
đối với việc bảo vệ sức
khỏe
của người lao động. Vấn đề đặt ra
là cơ thể sẽ đáp ứng như thế nào khi chịu tác động đồng thời bởi nhiều yếu tố
bất lợi của môi trường, người lao động có khả năng thích
nghi
và chịu đựng với
khí hậu nóng, ẩm
trong

3. Đề
xuất
một số biện pháp phòng
chống
nóng và tiếng ồn
nhằm
bảo vệ
sức
khỏe
cho người lao động.
3
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài có 3 nhiệm vụ sau:
1. Nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ số sinh lý, hoa sinh
trong
điều
kiện
nóng, ẩm của các đối tượng là bộ đội lái xe tăng và
thanh
niên bước bục
trong
phòng
nhiệt
thực
nghiệm.
2. Nghiên cứu ảnh hưởng phối hợp của
nhiệt
độ, độ ẩm và tiếng ồn đến
thính lực của công nhân sửa
chữa
máy bay và bộ đội xây

trong
lĩnh vực y học quân binh
chủng.
2. Đề
xuất
một số biện pháp phòng
chống
nóng và tiếng ồn như láp
quạt
trong
xe tâng, đưa
trạm
thử nghiệm động cơ máy bay ra xa các phân xưởng, góp
phần
xác định
giới
hạn chịu đựng với nóng của cơ thể
trong
điều
kiện
nhiệt
độ
cao. Điều này có ý
nghĩa
thiết
thực,
đảm bảo an toàn cho
những
người phải làm
việc

nay, nhiều người lao động
phải làm việc
trong
điều
kiện
khắc
nghiệt
của môi trường
[77],[84].
Trong các
ngành
nghề
như xây
dựng,
làm đường, luyện thép, lái tàu hỏa, lái xe ô tô đường
dài người
lao động luôn phải chịu ảnh hưởng của
nhiệt
độ cao
[17],[41],[67],[88].
Trong các ngành
nghề
trên, người lao động không
những
phải chịu ảnh hưởng của nóng do bức xạ mặt trời, mà còn chịu ảnh hưởng của
nhiệt
độ ở lò cao và
nhiệt
do các động cơ phát ra, nên
nhiệt

đường hầm), tính
chất
lao động khẩn trương, căng
thẳng
trong
mọi điều
kiện
thời tiết và có đảo
lộn
nhịp
sinh học ngày đêm. Các yếu tố đó cùng với vi khí hậu nóng, ẩm đã gây
ảnh hưởng
trực
tiếp đến sức
khỏe
của bộ đội [39].
Như vậy, nhiều ngành
nghề
hiện nay kể cả ở dân sự và quân sự, người lao
động phải chịu ảnh hưởng
trực
tiếp và thường xuyên của
nhiệt
độ và độ ẩm cao,
không chỉ do môi trường tự nhiên mà còn do
hoạt
động của các máy móc, các
trang
thiết
bị, khí tài đặc

hiện
nay.
1.1.2.
Ảnh
hưởng
của
nhiệt
độ và độ ám cao lên
chức
năng của các cơ
quan
trong
cơ thể.
ọ ợ ợ
1.1.2.1. Anh hưởng của nhiệt độ và độ ấm cao lên quá trình chuyên hóa và
điểu nhiệt
Nhiệt
độ và độ ẩm cao của môi trường sây ảnh hưởng rất nhiều đến
chức
năng chuyển hóa các
chất
và chuyển hóa năng lượng của cơ thể
[20],[21],
[28].
Khi
nhiệt độ mồi trường bên ngoài ở mức độ thích hợp thì cường độ chuyển hóa
các
chất
và nhiệt lượng sinh ra
trong

50-65%
thì mức tiêu hao năng lượng ít hơn so với ở môi trường có nhiệt độ 26-
30°c
và độ ẩm
80-93%
[144].
Lao động
trong
điều
kiện
nóng, ẩm làm tăng tiêu
hao năng lượng, lao động càng
nặng
nhọc
tiêu hao năng lượng càng nhiều.
Năng lượng tiêu hao được tính
bằng
Kcal/lkg thể
trọng/1
phút (hay lgiờ).
Người
ta phân
loại
lao động dựa vào mức tiêu hao năng lượng
(theo
hằng
số
sinh học người
Việt
Nam) [93]:

chuyển hóa glucid,
lipid
và protid.
Ngoài ra, sự
thay
đổi
hoạt
động của hệ tiêu hóa khi lao động
trong
điều
kiện
nóng, ẩm cũng gây ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa của cơ thể. Phản
ứng của hệ tiêu hóa
trong
lao động chủ yếu phụ
thuộc
vào mức độ tăng thân
nhiệt. Khi lao động ở mức độ vừa phải và ở giai đoạn đầu của lao động
nặng,
khi
thân nhiệt tăng 1-2 °c, sẽ tăng cường
hoạt
động
chức
năng của hệ tiêu hóa
cả về vận động, bài tiết và hấp thu. Khi thân nhiệt tăng cao (> 3°C) sẽ ức chế
các
hoạt
động của hệ tiêu hóa : giảm vận động dạ dày -
ruột,

năng các tế bào gan, gây rối loạn quá trình đông máu, tăng
glucose
máu, giảm lượng
protein
trong
huyết
tương. Đối với chuyển hóa
protein,
nhiệt độ cao làm tăng sự liên kết giữa các phân tử
protein
với
carbohydrat,
làm biến đổi cấu trúc của phân tử
ADN
[1061.
Theo
Guyton A.c.
[120],
những
người ở vùng nhiệt đới có mức chuyển hóa
cơ sở cao hơn so với
những
người
sống
ở vùng ôn đới và hàn đới từ
10-20%.
Theo
ý
kiến
của một sổ tác giả

chất
và chuyển hóa nâng lượng. Mức độ rối loạn
phụ
thuộc
vào mức tăng của nhiệt độ và độ ẩm của môi trường.
Nhiệt
độ và độ ẩm cao không
những
gây ảnh hưởng đến quá trình chuyển
hóa,
mà còn ảnh hưởng đến quá trình điều nhiệt của cơ thể.

thể chúng ta
trong
quá trình sống luôn luôn giữ một nhiệt độ
hằng
định.
Muốn
duy trì được
trạng
thái hằng định của nhiệt độ cơ thể, phải có sự cân bằng
giữa hai quá trình sinh nhiệt và thải nhiệt. Đó là quá trình điều hoa thân nhiệt,
sao cho nhiệt độ
trung
tâm của cơ thể duy trì ổn định xung
quanh
trị số 37
0
c
[31M48].

đường: dẫn nhiệt, đối lưu, bức xạ và bốc hơi mồ hỏi
[3],[55].
Cơ thể con người

thể thải nhiệt được
trong
điều
kiện
nhiệt độ của bề mặt da lớn hơn nhiệt độ
của môi trường xung
quanh.
Khi
nhiệt độ không khí tăng, các mao mạch nông giãn ra, do đó lượng máu
tuần
hoàn ngoại vi tăng, đó là nguyên nhân làm tăng nhiệt độ da, tăng quá trình
thải nhiệt bằng bức xạ và đối lưu ra mỏi trường bên ngoài.
Khi
nhiệt độ môi trường tăng cao hơn nhiệt độ da thì không có một lượng
nhiệt nào của cơ thể được thải ra môi trường bằng đối lưu, dẫn truyền và bức xạ.
Trong điều
kiện
khí hậu nóng, đường thải nhiệt bằng bốc hơi mồ hỏi là
8
đường thải nhiệt
quan
trọng
nhất,
giúp cho cơ thể duy trì sự hàng định của nhiệt
độ cơ thể.
Hiệu

hoạt
động của
trung
khu điều nhiệt ở vùng
dưới
đồi
(hypothalamus).
Khi
làm việc
trong
điều
kiện
nóng, ẩm thì lượng nhiệt sinh ra do
hoạt
động cơ có thể
đạt tới trên 90%
tổng
lượng nhiệt của cơ thể [52].
Để
đảm báo duy trì sự
hằng
nhiệt,
trung
tâm điều nhiệt ở vùng
dưới
đồi đảm
nhiệm điều nhiệt
bằng
vật lý và hoa học [Ì3],[21],[61],[68],[Ì 16].
- Điều hoa lý học : là quá trình vật lý của cơ thể khi tiếp xúc với môi trường.

có một số công trình nghiên cứu về các chỉ số sinh lý của bộ đội
trong
quá trình
luyện
tập trên
thực
địa và
trong
phòng nhiệt
thực
nghiệm
[15],[26],[37].
Các kết quả nghiên cứu cho
thấy
lao động quân sự của bộ đội
trong
mỏi
trường nóng, ẩm (lái xe tăng, lái máy bay, hành quân đường dài ) là
loại
hình
9
lao động
nặng
nhọc. Các chỉ số đánh giá
trạng
thái
nhiệt
cho
thấy
lao động với

gắng
kết hợp vào một chỉ số để nêu lên được tác
dụng
tổng
hợp của các yếu
tố ngoại cảnh ảnh hưởng tới quá trình
trao
đổi
nhiệt
giữa cơ thể và môi trường.
Những yếu tố đó là
nhiệt
độ không khí, bức xạ
nhiệt,
độ ẩm và tốc độ chuyển
động của không khí
[8],[24],[32].
Để
đánh giá sự căng
thẳng
nhiệt
của cơ thể, Yaglou c.p. [148] đã đưa ra chỉ
số
nhiệt
độ
tổng
hợp
WBGT
(Wet Bulb Globe
Temperature),

T
c
- Nhiệt độ cầu
Chi
số này đã được Tổ
chức
tiêu
chuẩn
hoa Quốc tế (ISO) dùng làm một chỉ
tiêu đánh giá
stress
nhiệt
[124],[125].
Khi
lao động
trong
điều
kiện
khí hậu nóng ẩm, các chỉ tiêu thường được sử
dụng
để đánh giá
trạng
thái
nhiệt
của cơ thể người lao động là bài tiết mồ hôi và
nhiệt
độ cơ thể [2].
Bài tiết mồ hôi. Khi lao động
trong
diều

hôi.
Khi lao động
nặng
hoặc
ớ môi trường nóng cơ thế có thể mất 500 mi mồ
hôi
trong
Ì giờ. Lao động
nặng
trong
môi trường nóng, cơ thể có thể tiết ra 5-6
lít mồ hôi
trong
một ngày, mất gần lOg Natri clorua (NaCl), gây nên các dấu
hiệu
như mệt mỏi, khát nước, suy nhược.
Nguyễn Mạnh Liên [49] nghiên cứu trên công nhân nấu
gang
thấy
lượng mổ
hôi bài tiết
trong
điều
kiện
khí hậu nóng từ
1,2-1,4
lít
trong
Ì giờ.
Theo

ý
kiến
của nhiều tác giả
[42],[45],[66],[76]
khi cơ thể bài tiết từ 5 - 7
lít mồ hôi sẽ kèm
theo
mất các
chất
điện
giải
như :
Na
+
(14
gam), CI "(21 gam),
K
+
(l,4
gam) và Ca
++
( 0,77 gam). Khi lao động
trong
điểu
kiện
khí hậu nóng,
lượng mồ hôi bài tiết càng nhiều,
nồng
độ
NaCl

khí hậu nóng, mồ hôi được bài tiết và bốc hơi giúp cơ thể
giải
phóng một nhiệt lượng
nhất
định. Tý nhiệt bốc hơi mồ hôi là nhiệt lượng
mà cơ thể thải ra khi Ì gam mồ hôi bốc hơi. Tỷ nhiệt bốc hơi mồ hồi phụ
thuộc
11
vào
nhiệt
độ không khí, độ ẩm tương đối, tốc độ gió và thành
phần
mồ hôi. Khi
độ ẩm tăng thì tốc độ bốc hơi mồ hôi giảm, tốc độ gió càng cao thì tỷ
nhiệt
bốc
hơi mồ hôi càng nhiều và cơ thể tăng thải
nhiệt
[51],[68].
Hardy
J.D. [122]
nhận
thấy
Ì gam mồ hôi bốc hơi ở
30°c
thải
nhiệt
lượng

0,580

trong
một thời
gian
ngắn
khoảng
10 ngày
hoặc
vài
tuần.
Lượng mổ hôi bài tiết và thành
phần
một số
chất
hoa học
trong
mồ hôi
mang
tính
chất
thích
nghi
của cơ thể đối với khí hậu. Đào
Ngọc
Phong
[78] cho rằng, sự thích
nghi
của người
Việt
Nam đối với khí hậu
được biểu hiện qua

Độ
ẩm đóng vai trò
quan
trọng
đối với việc thải
nhiệt
của cơ thể qua con
đường bốc hơi mổ hỏi. Khi độ ẩm tăng thì tốc độ bốc hơi mồ hôi giảm và khi độ
ẩm tăng tới 100% thì
ngừng
bốc hơi mồ hôi [55]. Kết quả nghiên cứu về cường
độ bài tiết mồ hôi của một số tác giả cho
thấy,
sau 10 ngày rèn luyện với
nhiệt
độ và độ ẩm cao, lượng mổ hôi tăng lên gấp 2 lần và sau 6
tuần
thì tăng lên gấp
2,5 lần, nhưng lượng muối
trong
mồ hôi lại giảm
xuống
[26],[47],[167].
Nhiệt độ cơ thể. Nhiệt độ cơ thể là chỉ tiêu
quan
trọng
nhất
để đánh giá tình
trạng
căng

Nhiệt độ
trung
tâm có thế dao động từ
36°c đến 37,5°c, hay gặp
nhất
từ 36,5°c đến 37°c [48]. Trong sinh lý lao động,
nhiệt
độ
trực
tràng là một chỉ số ổn định để
theo
dõi
nhiệt
độ
trung
tâm và
được sử
dụng
trong
lao độnơ. nhưng khó
theo
dõi tại hiện trường [40].
Nhiệt độ
dưới
lưỡi
là một chỉ số sinh lý, thường được
theo
dõi tại hiện
trường, đặc biệt khi đánh giá gánh
nặng

độ
dưới
lưỡi
=
Nhiệt
độ
trực
tràng - 0,37 °c ± 0,02 °c
- Nhiệt độ ngoại vi (nhiệt độ trung bình da). Nhiệt độ da còn gọi là
nhiệt
độ "vùng vỏ " của cơ thể, biến động
theo
nhiệt
độ môi trường và
thấp
hơn
nhiệt
độ
trung
tâm . Nhiệt độ da biến đổi nhiều trên bề mặt của cơ thể, do vậy cần
phải đo
nhiệt
độ bề mặt da ở nhiều điểm khác
nhau
của cơ thể, sau đó tính
nhiệt
độ
trung
bình da. về nguyên tắc, đo ở càng nhiều điểm càng giúp cho việc đánh
giá chính xác

trong
môi trường lạnh, đo
theo
phương pháp nhiều điểm của
Afanasieva, khi
nhiệt
độ môi trường từ 25°C-30°C,
nhiệt
độ da các
phần
cơ thể

khuynh
hướng đồng
nhất,
đo
theo
phương pháp của Burton (3 điểm). Khi
nhiệt
độ môi trường lớn hơn
30°c,
dùng Ì
trong
2 phương pháp trên.
Công
thức
Afanasieva R.F.[155]:
13
T° da = 0,09. t°trán + 0,33 .t°ngực + 0,32. t°cẳng chân + 0,07. t°bàn chân
+ 0,14.t°cẳng tay + 0,05 t°(ngỏn + bàn tay)

nhiệt
độ da
ngực
từ 32°c
đến 34°c ta có cảm giác dễ chịu, trên 34°c có cảm giác nóng và
dưới
32°c có
cảm giác lạnh
[142].
- Nhiệt độ trung bình cơ thể. Nhiệt độ
trung
bình cơ thể được tính từ các trị
số
nhiệt
độ
trung
bình da và
nhiệt
độ
trung
tâm
theo
công
thức
của A.c. Burton
[109] :

cr
= X.t°
rr

s
14
Trong đó :
D
- Lượng trữ nhiệt của cơ thể ( Kcal/m
2
)
0,83 - Tỷ nhiệt
trung
bình của các mô
trong
cơ thể
p
- Trọng lượng cơ thể (kg)
At
-
Hiệu
số nhiệt độ
trung
bình cơ thể trước và sau lao động (°c )
s -
Diện
tích da ( m
2
)
1.122. Anh hưởng của nhiệt độ và độ ám cao đến hệ thống tuân hoàn và
hô hấp.
Hiện
nay có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả
trong

giảm lượng máu
cung
cấp cho tim và não. Nếu lao động thể lực
nặng
và kéo dài
trong
môi trường nóng, ẩm cao sẽ gây nên trụy tim mạch và lượng nhiệt tích lũy
trong
cơ thể cao
[38],[51],[134J,[135].
Theo
Tô Như Khuê [37], tần số mạch là một
trong
những
chỉ số sinh lý
quan
trọng
nhất
phản
ánh cường độ lao động và
trạng
thái căng
thẳng
nhiệt của
cơ thể
trong
môi trường vi khí hậu nóng, ẩm.
Theo
tác giả, tần số mạch của bộ
đội

gắng
sức
trong
một thời gian ngắn thì tần số mạch có thể đạt tới 160 nhịp/phút hoặc cao
hơn
[50],[136],[158].
Để
đánh giá mức độ nặng nhọc của công
việc,
người ta thường
theo
dõi tần
số mạch trước lao động,
trong
lao động, tức thời
ngay
sau khi lao động xong và
thời gian mạch hồi phục sau lao động. Chỉ số mạch hổi phục sau lao động cũng
phản ánh cường độ lao động.
Theo
Brouha L.[108], nếu tần số mạch sau lao
động là 110 nhịp/phút và sau lao động 3 phút tần số mạch giảm đi 10 nhịp/phút
thì
tim không có hiện tượng gắng sức quá mức, người công nhân vẫn có thể làm
việc
với
nhịp
độ đó
trong
ngày.

môi
trường
[15],[24],[36].
Nghiên
cứu của
Scherbak
E.A.[181] cho thấy ở những công nhân phải tiếp
xúc
thường xuyên với nhiệt độ và độ ẩm cao có tỷ lệ bệnh mạch vành và bệnh
cao huyết áp
(11,6%

27,7%)
cao hơn so với những người không tiếp xúc
thường xuyên (6,7% và 15,7%).
Kết
quả nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Liên [49] về ảnh hưởng của nhiệt độ

độ ẩm cao lên cơ thể người lao động cho thấy,
trong
môi trường nóng ấm, tần
số hô hấp tăng tỷ lệ
thuận
với nhiệt độ và độ ẩm của môi trường. Ngoài ra, tần
số hô hấp tăng phụ
thuộc
vào tính
chất
và cường độ lao động, lao động càng
nặng tần số hô hấp càng tăng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status