1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
––––––––––––––
LÊ MINH THƯ
XÂY DỰNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TIỂU
HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN LANG CHÁNH,
TỈNH THANH HOÁ GIAI ĐOẠN 2015 - 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2013
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
––––––––––––––
LÊ MINH THƯ
XÂY DỰNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TIỂU
HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN LANG CHÁNH,
TỈNH THANH HOÁ GIAI ĐOẠN 2015 - 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
cấp, các cơ sở giáo dục để điều tiết quy mô, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào
tạo cho phù hợp nhu cầu sử dụng”. [10].
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã
khẳng định mục tiêu tổng quát chiến lược phát triển kinh tế - Xã hội đến năm
2010: “ Đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được bước chuyển biến quan
trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa đất nước
ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa và
tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”. [17] Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ X cũng đã vạch ra một trong những nhiệm vụ chủ yếu của đất nước ta
4
trong thời gian tới là: “ Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và đào
tạo; nâng cao chất lượng nguồn lực, đáp ứng yêu cầu cộng nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước và phát triển kinh tế tri thức”. [17]
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã vạch ra một trong
những nhiệm vụ của đất nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là:
Giáo dục và Đào tạo có xứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi
nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con
người Việt Nam. Phát triển Giáo dục và Đào tạo cùng với phát triển khoa học và
cộng nghệ là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho sự
phát triển. Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát
triển xã hội. nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ
hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi công dân được học tập
suốt đời. [18]
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng khẳng định: “ Quan tâm
hơn tới phát triển giáo dục và đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Bảo
đảm công bằng xã hội trong giáo dục; thực hiện tốt chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối
hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục là việc làm có tính chiến lược hàng đầu. Với ý
nghĩa và tầm quan trọng đó, nghị quyết Hội nghị Trung ương II- khoá VIII về
“Định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước” khẳng định và nêu rằng: Một trong những giải pháp
quan trọng để đổi mới công tác quản lý giáo dục là phải: “tăng cường công tác dự
báo và kế hoạch hoá sự phát triển giáo dục. Đưa giáo dục vào quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng địa phương”[15] và kết luận Hội
nghị trung ương lần thứ VI - khoá IX cũng nhấn mạnh “tăng cường công tác quy
hoạch và kế hoạch phát triển giáo dục” [16]
Qua các định hướng, giải pháp của Đảng và Chính phủ nhằm phát triển giáo
dục đó khẳng định rằng: dự báo, quy hoạch là một trong những khâu cơ bản nhất,
quan trọng nhất của quá trình quản lý giáo dục. Bởi nếu dự báo giúp cho nhà
quản lý giáo dục có cái nhìn tổng quát trạng thái tương lai của giáo dục tài quy
hoạch chính là sự bố trí sắp xếp trạng thái tương lai đó một cách có trật tự, khoa
học, tương thích với xu thế phát triển của cả hệ thống kinh tế - xã hội. Quy hoạch
là nền tảng, là cơ sở khoa học cho việc đề ra những quyết định, hoạch định, chính
sách, phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch, xác định nguồn lực, thực hiện những
mục tiêu giáo dục đó xác định trong tương lai.
6
1.2. Cơ sở thực tiễn:
Trong những năm qua, nhờ những chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà
nước, sự quan tâm nhiều mặt của chính quyền các cấp, sự nỗ lực của đội ngũ cán
bộ quản lý và giáo viên, giáo dục TH và THCS trên phạm vi toàn quốc nói chung,
trên địa bàn huyện Lang Chánh - Thanh Hoá nói riêng đã có sự chuyển biến tích
cực về nhiều mặt. Tuy nhiên đối chiếu với yêu cầu, nhiệm vụ của từng bậc học
trong thời kỳ phát triển mới của đất nước thì giáo dục TH và THCS ở huyện Lang
Chánh - Thanh Hoá hiện còn gặp nhiều khó khăn và tồn đọng một số vấn đề bất
cập: chất lượng giáo dục chưa tương xứng với tiềm năng và truyền thống của
những điều đó thì không thể thiếu công tác quy hoạch phát triển giáo dục khoa
học, chính xác. Cho đến nay, huyện Lang Chánh vẫn chưa có một công trình khoa
học nào nghiên cứu về lĩnh vực này.
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên đây, việc xây dựng quy hoạch phát triển
Giáo dục và Đào tạo huyện Lang Chánh có một ý nghĩa vô cùng quan trọng và
cần thiết xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - Xã hội đến năm 2020. Vì lẽ đó,
có làm tốt công tác quy hoạch mới tạo ra được hướng đi đúng đắn, chuẩn bị được
những tiền đề cần thiết về mọi mặt nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện
trên địa bàn huyện. Chính vì vậy, tôi chän đề tài nghiên cứu là: "Xây dựng quy
hoạch phát triển giáo dục Tiểu học và Trung học cơ sở huyện Lang Chánh,
tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2015 - 2020".
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục Tiểu học và THCS để đáp ứng nhu
cầu học tập của người dân và yêu cầu phát triển kinh tế - Xã hội của huyện Lang
Chánh, tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2015 - 2020.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quy hoạch phát triển giáo dục Tiểu học và THCS huyện Lang
Chánh, tỉnh Thanh Hóa.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục Tiểu học và THCS huyện
Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2015 - 2020.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu hệ thống giáo dục của huyện Lang Chánh được phát triển trên quy
hoạch có luận cứ khoa học rõ ràng, phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi, thì
giáo dục tiểu học và THCS huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá sẽ phát triển đồng
bộ, cân đối, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững trên địa bàn,
8
9
phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Lang
Chánh nói riêng và của tỉnh Thanh Hóa nói chung giai đoạn 2015- 2020.
8. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia
thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quy hoạch phát triển giáo dục tiểu học và
Trung học cơ sở.
Chương 2: Thực trạng công tác xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục tiểu học
và Trung học cơ.
Chương 3: Xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục tiểu học và trung học cơ sở
huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2015-2020
10
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẪN ĐỀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Quy hoạch phát triển giáo dục nói chung, quy hoạch phát triển giáo dục tiểu
học và trung học cơ sở nói riêng có một tầm quan trọng đặc biệt. Trên thế giới, đã
có nhiều nhà khoa học và nhiều nhà quản lý giáo dục đã dày công nghiên cứu về
lĩnh vực này. Nội dung các công trình nghiên cứu đó được đề cập nhiều trong các
tạp chí khoa học: Nền giáo dục thế kỷ 21; Những triển vọng của châu Á- Thái
Bình Dương. Hội thảo khoa học do UNESCO tổ chức năm 1997 về “Tương lai
của giáo dục và giáo dục của tương lai”. Ở nước ta, việc nghiên cứu quy hoạch về
giáo dục đào tạo (GDĐT) trong đó quy hoạch phát triển giáo dục phổ thông
(GDPT) đã được tiến hành từ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước và từ đó
tạo thành.
Theo tác giả Đỗ Văn Chấn thì “Dự báo là sự tiên đoán có căn cứ khoa học,
mang tính xác xuất về mức độ, nội dung, các mỗi quan hệ, trạng thái, xu hướng
phát triển của đối tượng nghiên cứu hoặc về cách thức với thời hạn đạt được các
mục tiêu nhất định đã đề ra trong tương lai”. [8].
1.2.1.2. Dự báo giáo dục
Có ý nghĩa rất quan trọng vì công tác dự báo giáo dục chủ yếu là cung cấp
quan niệm hiện thực về tương lai của một nền giáo dục. Là một trong những căn
cứ cần thiết giúp chúng ta thoát khỏi tư duy kinh nghiệm, trực giác mơ hồ trong
việc xây dựng chiến lược, quy hoạch giáo dục đào tạo mà còn có ý nghĩa định
hướng phát triển giáo dục trong toàn bộ hệ thống dự báo kinh tế - xã hội của một
đất nước. Dự báo giáo dục là xác định trạng thái tương lai của hệ thống giáo dục
đào tạo với một xác xuất nào đó và dự kiến điều kiện khách quan để thực hiện.
1.2.1.3. Dự báo quy mô giáo dục đào tạo
Dự báo quy mô giáo dục đào tạo của một địa phương hay cả nước với
nhiệm vụ cơ bản là phải xác định được số lượng học sinh, sinh viên các ngành
học, bậc học, cấp học theo các hình thức học cho đến thời điểm dự báo để đáp
ứng nhu cầu học tập của người dân và phù hợp với các điều kiện đảm bảo của xã
hội cho giáo dục đào tạo. [8]
1.2.1.4. Vai trò dự báo trong quy hoạch phát triển giáo dục
Dự báo là yếu tố vốn có của con người, ngay từ lúc xuất hiện trên trái đất
con người phải dự báo để sinh tồn và phát triển. V.I.Lênin nói: Khi xem xét bất
cứ hiện tượng nào, trong sự vận động và phát triển của nó bao giờ cũng thấy có
những vết tích của quá khứ, những cơ sở của hiện tại và những mầm móng của
tương lai. Việc nghiên cứu để phát hiện ra quy luật của mối quan hệ biện chứng
giữa quá khứ, hiện tại và tương lai chính là cơ sở khoa học của công tác dự báo.
Mục tiêu cuối cùng của công tác dự báo là phải thể hiện được một cách tổng
hợp các kết quả dự báo theo những phương án khác nhau, chỉ ra được xu thế phát
triển của đối tượng dự báo trong tương lai, tạo ra tiền đề cho việc quy hoạch, lập
kế hoạch có căn cứ khoa học. Đối với một dự báo cần có hai điểm cần được lưu
đơn thuần chưa phải là phát triển. Muốn có sự phát triển thì trong quá trình tăng
trưởng phải bảo đảm tính cân đối, tính hiệu quả và tính mục tiêu. Tăng trưởng
trước mắt phải đặt cơ sở cho tăng trưởng trong tương lai thì sự tăng trưởng đó
mới tạo điều kiện cho phát triển.
Sự phát triển giáo dục cũng chứa đựng các đặc thù tương tự. Tuy nhiên theo
cách trình bày ở trên thì sự phát triển giáo dục còn là phương tiện, điều kiện cho
sự phát triển nói chung. Sự phát triển giáo dục còn bao hàm cả ý nghĩa chính trị
và liên quan mật thiết với thể chế chính trị quốc gia.
1.2.2.3 Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Bao gồm quy hoạch phát triển kinh tế xã hội cả nước, quy hoạch phát triển
các ngành, lĩnh vực và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội một địa bàn lãnh thổ.
15
Quy hoạch là bước cụ thể hoá của chiến lược, còn kế hoạch là bước cụ thể
hoá của quy hoạch. Mối quan hệ giữa chiến lược quy hoạch, kế hoạch được thể
hiện qua mô hình sau:
Chiến lược
Quy hoạch
Kế hoạch
Như vậy, chiến lược và quy hoạch là căn cứ, là tiền đề của kế hoạch. Chất
lượng kế hoạch có được nâng cao, phù hợp với yêu cầu phát triển KT - XH và
đảm bảo sự quản lý vĩ mô của nhà nước hay không chính là do khâu xây dựng
quy hoạch góp phần quyết định.
Giáo dục là ngành nằm trong hệ thống KT - XH. Quy hoạch phát triển giáo
dục thuộc loại quy hoạch phát triển ngành và lĩnh vực, là một bộ phận không thể
tách rời của quy hoạch phát triển KT - XH.
tương lai, với mức độ tin cậy nhất định và trù tính được điều kiện khách quan để
thực hiện dự báo đó, dự báo là cơ sở nền tảng cho việc xây dựng quy hoạch, khi
đó dự báo phải thiết lập được các phương án, xác định được xu hướng phát triển,
các mục tiêu có thể đạt được, từ đó để xây dụng quy hoạch. Ngược lại, quá trình
thực hiện quy hoạch phải luôn luôn xem xét sự cân đối giữa mục tiêu và nguồn
lực, sự đồng bộ giữa các nguồn lực khác nhau trong phạm vị không gian, thời
gian nhất định, nếu gặp những tác động có tính chất bất thường thỡ cần thiết phải
điều chỉnh dự báo.
Mối quan hệ giữa đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và dự báo
được biểu diễn theo sơ đồ 1.1.
Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và
dự báo
Đường lối
Chiến
lược
QUY HOẠCH
Kế hoạch
Dự báo
1.3. Quy hoạch phát triển giáo dục
1.3.1. Mục đích của quy hoạch phát triển GD - ĐT
Quy hoạch phát triển GD - ĐT nhằm tạo cơ sở khoa học để giúp các nhà
quản lý giáo dục hoạch định chủ trương, chính sách, kế hoạch phát triển cho từng
giai đoạn, từng khâu, từng bước; từng bước của bản thân ngành GD – ĐT cũng
17
- Về đội ngũ giáo viên, nhân viên, cán bộ quản lý.
- Về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đáp ứng cho sự phát triển giáo dục.
* Đề xuất các biện pháp thực hiện quy hoạch được xây dựng
18
1.3.4. Quy hoạch phát triển giáo dục TH và THCS
Quy hoạch phát triển GDTH và THCS là một bộ phận của quy hoạch giáo
dục - đào tạo trên địa bàn, là bản luận chứng khoa học về dự báo phát triển và sắp
xếp, bố trí theo không gian và thời gian hệ thống này của địa phương.
1.4. Xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục
1.4.1. Các bước xây dựng
Xây dựng quy hoạch phát triển GD - ĐT nói chung và quy hoạch phát triển
TH, THCS nói riêng cũng phải tuân thủ phương pháp luận xây dựng quy hoạch.
Việc xây dựng quy hoạch bao gồm những bước cơ bản sau:
Bước 1: Tổng hợp quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước, của địa
phương về phát triển KT - XH trong đó có phát triển GD - ĐT nói chung, giáo
dục tiểu học THCS nói riêng.
Bước 2: Phân tích, đánh giá thực trạng để làm rõ về thời gian, không gian
các sự kiện; phát hiện mâu thuẫn giữa các sự việc, hiện tượng. Qua việc phân tích
thực trạng, dự báo trạng thái tương lai của GD - ĐT, của giáo dục tiểu học,
THCS.
Bước 3: Phát hiện xu thế, tìm ra quy luật và sự vận động có tính quy luật của
sự phát triển các yếu tố bên trong của GD - ĐT nói chung, giáo dục tiểu học,
THCS nói riêng; dự báo phương án và định lượng các chỉ tiêu phát triển.
Bước 4: Đề ra các giải pháp thực hiện, gồm:
- Giải pháp giải quyết sự cân đối giữa các yếu tố cho sự phát triển.
- Các giải pháp chỉ đạo, quản lý
- Khuyến nghị các cấp quản lý về chính sách, chế độ, giải pháp đối với sự
phát triển của giáo dục TH, THCS.
- Nhóm điều hành dự báo cần phải thống nhất và nắm vững hệ thống các
phương pháp tiến hành cụ thể từ khâu đầu đến khâu cuối của công tác dự báo.
Tuỳ theo hình thức thu thập và xử lý ý kiến chuyên gia, phương pháp chuyên
gia được thông qua hai hình thức: hội đồng (lấy ý kiến tập thể các chuyên gia) và
phương pháp DELPHI (lấy ý kiến của từng chuyên gia rồi tổng hợp lại).
* Phương pháp ngoại suy xu thế:
Phương pháp ngoại suy xu thế còn gọi là ngoại suy theo dãy thời gian. Nội
dung của phương pháp này là dựa vào các số liệu thu thập được trong quá khứ của
đối tượng dự báo để thiết lập mối quan hệ giữa đại lượng đặc trưng cho đối tượng dự
báo và đại lượng thời gian. Mối quan hệ đó được đặc trưng bởi hàm xu thế: y=f(t)
Trong đó:
* y đại lượng đặc trưng cho đối tượng dự báo
* t là đại lượng đặc trưng cho thời gian
Để thực hiện phương pháp ngoại suy phải tuân theo những bước sau:
20
- Thu thập và phân tích số liệu ban đầu của đối tượng dự báo trong một
khoảng thời gian nhất định.
- Định dạng hàm xu thế dựa trên quy luật phân bố các đại lượng của đối
tượng dự báo trong thời gian quan sát.
- Tính toán thông số của hàm xu thế và tính giá trị ngoại suy.
- Định giá trị độ tin cậy của dự báo.
* Phương pháp sơ đồ luồng: Là phương pháp thông dụng để dự báo quy mô
học sinh. Phương pháp này có thể cho phép ta tính toán "luồng" học sinh suốt cả
hệ thống giáo dục phổ thông, nhất là ở các cấp học phổ cập như tiểu học và
THCS. Phương pháp sơ đồ luồng dựa vào 3 tỉ lệ quan trọng:
- Tỉ lệ học sinh lên lớp P
- Tỉ lệ học sinh lưu ban R
- Tỉ lệ học sinh bỏ học D
T2
N2
E1.2
E2.2
E3.2
E4.2
E5.2
T3
N3
E1.3
E2.3
E3.3
E4.3
E5.3
Năm học
định chính sách, các nhà quản lý so sánh, phân tích và đánh giá từ đó lựa chọn
con đường phát triển giáo dục của địa phương mình, nước mình.
* Phương pháp dựa vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội địa phương:
Cơ sở khoa học của phương pháp này là dựa vào dự báo các nhân tố ảnh
hưởng tới quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương cụ thể là:
- Dự báo xu thế đô thị hoá, công nghiệp hoá của địa phương
- Dự báo tiến bộ của khoa học công nghệ
- Dự báo dân số và nguồn lao động
+ Dự báo về khả năng đầu tư khai thác nguồn vốn cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
+ Dự báo nhu cầu thị trường
Phương pháp này thường cho kết quả tương đối phù hợp, bởi nó được đảm
bảo bằng các nghị quyết, chương trình, mục tiêu và hệ thống các giải pháp thực
hiện tổng thể. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi phải có sự tính toàn chính xác
khi đưa ra các chỉ số dự báo, đặc biệt đưa ra các chỉ số dự báo về quy hoạch phát
triển giáo dục đào tạo để vừa đảm bảo đúng thực tế, vừa có tính khả thi cao.
* Phương pháp sử dụng phần mềm của Bộ GD & ĐT:
Đây là một phương pháp thông dụng để dự báo số lượng học sinh, là một
phần mềm đã lập trình sẵn, nó có thể cho phép tính toán luồng học sinh trong suốt
cả hệ thống giáo dục đào tạo. Phương pháp này dựa vào các chỉ số tỉ lệ: Tỷ lệ học
22
sinh vào lớp đầu cấp; tỷ lệ lên lớp, tỷ lệ lưu ban, tỷ lệ bỏ học và tỷ lệ học sinh
hoàn thành chương trình tiểu học và tốt nghiệp THCS.
Phương pháp này dựa trên cơ sở các số liệu: Số trẻ 6 tuổi vào lớp 1; dân sè
độ tuổi học sinh tiểu học và dân số độ tuổi học sinh THCS.
Dựa vào chỉ tiêu cơ bản theo định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào
tạo đến năm 2010:
- Tỷ lệ học sinh tiểu học/dân số độ tuổi (6 đến 10 tuổi)
- Tỷ lệ học sinh THCS /dân số độ tuổi (11 đến 14 tuổi)
năm n
Như vậy ta có thể tính được số lượng học sinh lớp 1,2,3,4,5,6,7,8,9 ở các năm
học tiếp theo trong thời kỳ dự báo. Và như vậy, chúng ta có thể xác định được nhu
cầu về số lớp, số phòng học, số chỗ ngồi và số giáo viên cần thiết cũng như các
điều kiện đảm bảo khác phục vụ cho việc dạy và học cho từng đơn vị [7] [8].
1.4.3. Mục đích yêu cầu của quy hoạch phát triển giáo dục - đào tạo nói
chung và quy hoạch giáo dục TH, THCS nói riêng
Mục đích cơ bản của quy hoạch ngành GD - ĐT nói chung và giáo dục tiểu
học, THCS nói riêng nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chủ
trương kế hoạch phát triển của ngành cũng như của các ngành khác trong địa
phương, phục vụ cho việc xây dựng các chương trình kế hoạch, đầu tư phát triển
dài hạn, trung hạn và hàng năm.
Quy hoạch phát triển và phân bố ngành GD - ĐT nói chung và giáo dục tiểu
học, THCS nói riêng phải đáp ứng được những yêu cầu cơ bản sau:
23
- Phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển của cả nước và của địa
phương.
- Phù hợp với quy mô, cơ cấu và phân bố dân cư.
- Kết hợp trước mắt và lâu dài, có tính toán bước đi cụ thể, xác định rõ
những vấn đề bức xúc, trọng điểm đầu tư, thứ tự ưu tiên …
- Xử lý tốt mối quan hệ với các ngành, các lĩnh vực khác. Xác định cơ chế
quản lý và cơ chế hoạt động để đảm bảo hiệu quả và công bằng xã hội.
1.4.4. Vị trí và mối quan hệ giữa quy hoạch giáo dục - đào tạo với các ngành,
lĩnh vực khác của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương
- Quy hoạch phát triển và phân bố ngành GD - ĐT của địa phương là một bộ
phận hữu cơ của quy hoạch kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ, do đó cần có sự
phối hợp chặt chẽ để xử lý tốt những vấn đề liên ngành, liên vùng …
* Dự báo quy mô phát triển GD - ĐT các giai đoạn: Quy mô học sinh, giáo
viên, nhân viên, cán bộ quản lý, mạng lưới trường lớp.
1.4.5.4. Các giải pháp phát triển giáo dục - đào tạo của địa phương
* Huy động nguồn nhân lực: Đội ngũ, tài chính, cơ sở vật chất trang thiết bị
dạy học ...
* Tổ chức và quản lý giáo dục
* Chính sách cho giáo dục đào tạo phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của
địa phương.
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng quy hoạch phát triển giáo
dục Tiểu học và THCS
Giáo dục và Đào tạo nói chung, giáo dục TH, THCS nói riêng là phân hệ
trong hệ thống KT-XH, trong quá trình phát triển chịu ảnh hưởng và phụ thuộc
vào nhiều nhân tố khác nhau như: Dân số và dân số trong độ tuổi đến trường;
trình độ phát triển sản xuất; khả năng nguồn lao động; thu nhập quốc dân; cấu
trúc xã hội; trình độ phát triển văn hoá, kết cấu và cơ cấu kinh tế.
Tuy nhiên, giáo dục tiểu học, THCS vẫn có vị trí độc lập tương đối với sự
phát triển kinh tế, trong đó các đặc trưng sư phạm như: Cơ cấu hệ thống, nội dung
hình thức tổ chức giáo dục, CSVC, và các điều kiện giáo dục, đội ngũ giáo viên.
Nếu các yếu tố bên trong của giáo dục tiểu học, THCS được phát huy tốt sẽ có tác
động tốt góp phần thúc đẩy các nhân tố tích cực và hạn chế những diễn biến tiêu
cực của kinh tế - xã hội.
Vì vậy, để thực hiện tốt công tác quy hoạch phát triển giáo dục tiểu học,
THCS một mặt cần phải làm sáng tỏ những đặc trưng sư phạm của hệ thống TH,
THCS hiện nay và một mặt khác phải làm sáng tỏ những đặc trưng KT - XH của
mô hình xuất phát.
1.5.1. Dân số và dân số trong độ tuổi đến trường
25
Giáo dục tiểu học và THCS là các cấp học phổ cập nên chịu sự ảnh hưởng
mục tiêu phát triển KT-XH của Đảng và Nhà nước. Vì quyền lợi trước mắt và lâu
dài của nhà nước, bất kỳ nhà nước nào cũng phải chăm lo việc tổ chức hoạt động