PHẦN MỞ ĐẦU
1 - Lý do chọn đề tài
Từ khi xuất hiện con người thì cũng là lúc xuất hiện các hiện tượng
xã hội: lao động sản xuất, giao tiếp, giáo dục….Con người trong quá
trình đấu tranh cho sự sinh tồn và phát triển đã sáng tạo ra lịch sử của
mình. Tất cả mọi hoạt động xã hội của con ngưòi đều hướng tới con
người, vì con người, phục vụ con người ngày một tốt hơn, tiến bộ hơn,
văn minh hơn. Và ngược lại, chính những hoạt động của con người là
động lực cho xã hội phát triển. Con người vừa là mục tiêu vừa là động
lực phát triển của xã hội .
Một trong những yếu tố cơ bản, có tính quyết định để thúc đẩy
nhanh quá trình tiến bộ xã hội đó là con người. Ngày nay con người
luôn là đối tượng được quan tâm, là mục tiêu nghiên cứu của các nhà
khoa học, nhất là khoa học xã hội. Từ ngày có Đảng và đặc biệt là trong
thời kỳ đổi mới ở Việt Nam, nhân tố con người luôn được Đảng và Nhà
nước xác định đó là trung tâm, là động lực quan trọng của sự đổi mới.
Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã
nêu rõ định hướng chiến lược, tư tưởng chỉ đạo của Đảng về phát triển
con người: “ … Phát triển mạnh mẽ nguồn lực con người với yêu cầu
ngày càng cao…”
Giáo dục đóng vai trò chủ yếu trong việc giữ gìn, phát triển và
truyền bá văn minh nhân loại. Trong thời đại cách mạng khoa học -
công nghệ ngày nay, tiềm năng trí tuệ trở thành nền móng, động lực
chính cho phát triển , tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội.
GD - ĐT là môi trường có tính quyết định trong việc tạo ra chất
lượng nguồn nhân lực - con người. Xu thế hiện nay trên thế giới, các
nước phát triển cũng như các nước đang phát triển đều coi giáo dục là
1
nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia.
Để tạo ra con người “ vừa hồng vừa chuyên ” đáp ứng ngày một tốt hơn
những yêu cầu ngày càng cao trong thời đại mới – thời đại kinh tế tri
công của việc hoạch định và thực hiện chiến lược đó là công tác dự báo,
xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch. Trong văn kiện đại
hội IX của Đảng ta nêu rõ : “...Đổi mới hơn nữa công tác kế hoạch hoá,
nâng cao chất lượng công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế
hoạch phát triển KT-XH...”
Để có được một nền giáo dục phát triển, hiện đại thì nhiệm vụ
không thể thiếu được đối với chính phủ và các địa phương và đặc biệt là
các cơ quan quản lý GD là phải dự báo trước được sự phát triển của
giáo dục và các điều kiện phục vụ cho giáo dục, từ đó hoạch đường lối,
chính sách, và xây dựng quy hoạch, kế hoạch cụ thể về quá trình phát
triển GD - ĐT. Vấn đề này được hội nghị lần 2 - BCHTW khoá VIII, kết
luận của hội nghi 6- BCHTW Khoá IX chỉ rõ một trong bốn giải pháp
chủ yếu là: đổi mới công tác quản lý giáo dục, mà trước hết là phải “
Tăng cường công tác dự báo và kế hoạch phát triển giáo dục. Đưa giáo
dục vào quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH của cả nước và từng địa
phương …”
Việc quy hoạch không chỉ tiếp cận trên bình diện lớn ở tầm quốc
gia, mà nó cần được triển khai ở các cấp quản lý khác nhau trong đó có
cấp huyện và được tiếp cận theo vùng và theo lãnh thổ.
Một trong những cơ sở khoa học quan trọng của công tác xây dựng
quy hoạch là dự báo. Khoa học dự báo được hình thành và ứng dụng
rộng rãi trong nhiều lĩnh vực KT - XH, đặc biệt là trong vài thập niên
3
gần đây, trên cơ sở các dự báo, sẽ hoạch định và xây dựng chiến lược
phát triển sát hợp với từng thời kỳ.
Trong lĩnh vực GD - ĐT đã có những cuộc hội thảo khoa học quốc
tế và nhiều công trình khoa học nghiên cứu về dự báo giáo dục trong
tương lai. Khoa học dự báo về GD - ĐT đang được quan tâm nghiên
cứu, ứng dụng vào việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, phát triển sự
nghiệp GD - ĐT, đã có nhiều công trình địa phương, những công trình
2 - Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
. Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục TH và THCS huyện Cẩm
Xuyên đến năm 2010.
. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của quy hoạch phát triển giáo dục TH
và THCS.
- Đánh giá, phân tích thực trạng giáo TH và THCS Huyện Cẩm
Xuyên.
- Xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục TH và THCS huyện Cẩm
Xuyên - tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010.
- Đề xuất những giải pháp để thực hiện quy hoạch.
3 - Khách thể và đối tượng nghiên cứu
. Khách thể nghiên cứu:
Giáo dục TH và THCS huyệnCẩm Xuyên – tỉnh Hà Tĩnh .
. Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng của giáo dục TH và THCS huyện Cẩm Xuyên và xu
hướng phát triển đến năm 2010.
5
4 - Giả thuyết khoa học
Hệ thống giáo dục TH và THCS trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên sẽ
phát triển đồng bộ và cân đối, đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự phát triển KT - XH của
huyện Cẩm Xuyên nói riêng và tỉnh Hà Tĩnh nói chung, nếu hệ thống
này được quản lý bằng một quy hoạch tổng thể mang tính khao học và
khả thi.
5 - Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường công tác nghiên cứu quy
hoạch cần phải được xem xét một cách kỹ lưỡng cả về nội dung lẫn
phương pháp nghiên cứu để có được nhận thức đầy đủ, đúng đắn về quy
hoạch phát triển KT - XH, phải làm rõ được những vấn đề sau:
- Thế nào là quy hoạch phát triển KT - XH;
- Nội dung của quy hoạch phát triển KT - XH;
- Phương pháp nghiên cứu quy hoạch phát triển KT - XH;
- Tổ chức nghiên cứu, lập dự án quy hoạch phát triển KT - XH.
Các nước trên thế giới đều khẳng định quy hoạch là vấn đề có ý
nghĩa to lớn cả về lý luận cũng như thực tiễn, nhằm mục đích tạo ra
những cơ sở khoa học để hoạch định các chính sách, chương trình phát
triển KT - XH. Quan niệm về quy hoạch của một số nước như sau:
. Liên Xô và các nước Đông Âu (cũ) quan niệm quy hoạch là tổng
sơ đồ phát triển và phân bố lược lượng sản xuất;
. Anh: Quy hoạch được hiểu là sự bố trí có trật tự, sau đó là sự
tiến hoá có kiểm soát các đối tượng không gian nhất định.
. Pháp: Quy hoạch được hiểu là dự báo phát triển và tổ chức thực
hiện theo lãnh thổ;
7
. Trung Quốc: Quy hoạch là dự báo kế hoạch phát triển, là chiến
lược để quyết định các hoạt động để đạt tới mục tiêu. Qua đó sẽ quyết
định các mục tiêu mới, các biện pháp mới;
. Hàn Quốc: Nhiệm vụ quy hoạch là xây dựng chính sách phát
triển;
Đối với Việt Nam: Theo Từ điển tiếng Việt thì: “ Quy hoạch là sự
bố trí, sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian,
làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn ”
Như vậy có thể hiểu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của một
địa phương (hay lãnh thổ) là bản luận chứng khoa học về phát triển KT -
XH (hay bố trí hợp lý KT - XH trên địa bàn lãnh thổ), cũng có thể hiểu
bước cụ thể hoá của quy hoạch.
Như vậy, chiến lược và quy hoạch là căn cứ, và tiền đề của kế
hoạch. Chất lượng kế hoạch có được nâng cao, phù hợp với nền kinh tế
thị trường và đảm bảo quản lý vĩ mô của Nhà nước hay không chính là
do khâu xây dựng chiến lược và quy hoạch góp phần quyết định. Trong
công tác quản lý thì chiến lược, quy hoạch được xây dựng trên cơ sở
đường lối, chính sách, quan điểm của mỗi tổ chức và được sắp đặt trong
mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề có liên quan như: Dự báo, chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án. Vị trí của quy hoạch
được xác định trong mối quan hệ giữa các khâu đường lối, chiến lược,
kế hoạch và dự báo (xem sơ đồ 1).
Trong đó:
- Đường lối: Là công cụ chỉ đạo ở mức cao nhất tổng hợp và khái
quát nhất, trong đó nêu được mục tiêu tổng hợp của toàn hệ thống các
định hướng lớn để thực hiện các mục tiêu, xác định được những khả
năng nguồn lực có thể huy động để thực hiện mục tiêu. Đường lối thể
hiện được tính hợp lý nhất quán và phù hợp với đường lối thuộc cấp và
hệ thống cao hơn.
Sơ đồ 1. Mối quan hệ giữa đường lối, chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch và dự báo.
9
Đường lối
- Chiến lược: Là cụ thể hoá ở mức độ toàn hệ thống, trong đó cần
phải xem xét kỹ mối quan hệ giữa các mục tiêu trong những điều kiện
không gian và thời gian nhất định.
Trên cơ sở sắp xếp các mục tiêu theo thứ tự ưu tiên, xác định mục
tiêu khả thi cho từng giai đoạn, định hướng chỉ đạo có bước đi thích
hợp, phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu.
- Kế hoạch: Là chương trình hành động, là cụ thể hoá việc thực
hiện 1 hoặc nhiều mục tiêu trong phạm vi không gian, thời gian và điều
bảo các yêu cầu sau:
` - Việc xây dựng quy hoạch phải giúp cho các cơ quan lãnh đạo và
quản lý ở địa phương các căn cứ khoa học để đưa ra các chủ trương, kế
hoạch, các giải pháp hữu hiệu để điều hành quá trình phát triển KT - XH
của địa phương;
- Quy hoạch phải đảm bảo được yêu cầu của nền kinh tế thị
trường, của tiến bộ KH - CN và yêu cầu phát triển bền vững;
- Quy hoạch là một quá trình động, có trọng điểm cho từng thời
kỳ. Vì vậy, quy hoạch phải đề cập nhiều phương án, thường xuyên cập
nhật, phải tìm ra các giải pháp, giải quyết các mâu thuẩn và tính tới
những vấn đề nảy sinh nhằm đảm bảo sự phát triển hài hoà của hệ thống
tự nhiên, kinh tế – xã hội.
- Quy hoạch phải là kết quả của quá trình nghiên cứu, đề xuất và
lựa chọn các giải pháp khác nhau cho các nhiệm vụ khác nhau;
- Công tác quy hoạch phát triển KT - XH là công tác tiến hành
thường xuyên, điều chỉnh nhiều lần, cập nhật của sự kế thừa và phát
triển.
11
1.1.3. Những nguyên tác cơ bản của quy hoạch phát triển
Kinh tế - Xã hội
Một là, quy hoạch phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế và có tính
khả thi; kết hợp giữa yêu cầu phát triển và khả năng hiện thực.
Hai là, quy hoạch mới được thực hiện có tính kế thừa của quy
hoạch cũ. Cần lựa chọn và sử dụng những bộ phận quy hoạch cũ đang
còn phát huy tác dụng, tránh xoá bỏ toàn bộ để xây dựng mới, gây lãng
phí không cần thiết.
Ba là, kết hợp giữa phát triển trọng điểm và toàn diện; giữa sự
hoàn thiện tương đối của hệ thống với sự không hoà thiện của một số
phân hệ ( đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay; trong
xu thế khu vực hoá và quốc tế hoá); giữa sự kết hợp định tính và định
- Xác định phương hướng chung, cơ cấu kinh tế và lựa chọn
phương án phát triển;
- Quy hoạch phát triển các ngành kinh tế và phát triển kết cấu hạ tầng;
- Quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực xã hội;
- Phương án tổ chức không gian lãnh thổ
- Các bước đi cụ thể đến từng giai đoạn 5 năm trong thời kỳ quy
hoạch, các chương trình phát triển và dự án đầu tư;
- Các giải pháp thực hiện phương hướng, mục tiêu;
- Biện pháp tổ chức thực hiện quy hoạch;
- Các kiến nghị.
13
Các yếu tố
v nguà ồn
lực nội
sinh
Hiện trạng
Lợi thế so
sánh
thuận lợi,
khó khăn
hạn chế
Định hướng phát
triển của cả nước
v vùngà
Quan điểm
chỉ đạo mục
tiêu v à
phương
hướng phát
triển d i hà ạn
hạn 10-
15 năm
SƠ ĐỒ 2. SỰ TIẾP CẬN NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KT - XH
14
ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU
TỐ PHÁT TRIỂN
LUẬN CHỨNG PHÁT TRIỂN GIẢI PHÁP
*Vị trí của địa
phương trong
tổng thể vùng
v cà ả nước.
* Vị trí địa lý
* Điều kiện tự
nhiên.
- Đánh giá t i à
nguyên thiên
nhiên (đất,
nước, rừng,
biển, khoáng
sản…)
* Các mạng
lưới kết cấu
hạ tầng.
* Đặc điểm
đô thị
Đặc điểm dân
số v nguà ồn
lực
Tình hình v à
định hướng
d ià
QUAN ĐIỂM MỤC TIÊU PHÁT
TRIỂN
XÁC ĐỊNH PHƯƠNG
HƯỚNG CHUNG VÀ CƠ CẤU
KINH TẾ
LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN
PHÁT TRIỂN VÀ CƠ CẤU
ĐẦU TƯ
Quy
hoạch
phát triển
các
ng nh à
kinh tế
Xác định
phương
hướng phát
triển các lĩnh
vực văn hoá
xã hội
PHƯƠNG HƯỚNG TỔ CHỨC
KHÔNG GIAN LÃNH THỔ
BƯỚC ĐI THEO TỪNG GIAI
ĐOẠN ,CÁC CHƯƠNG TRÌNH
PHÁT TRIỂN, CÁC DỰ ÁN
ĐẦU TƯ
* Huy động vốn
đầu tư phát triển
hạ tầng.
Mục đích cơ bản của quy hoạch và phân bố ngành GD-ĐT nhằm
xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chủ trương, chính
sách và kế hoạch phát triển của bản thân ngành cũng như các ngành
khác và của các địa phương, nhất là việc phục vụ cho việc xây dựng
chương trình, kế hoạch, dự án đầu tư phát triển dài hạn và ngắn hạn,
15
quy hoạch phát triển và phân bố ngành GD- ĐT phải đáp ứng được các
yêu cầu cơ bản sau:
Một là, phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển KT-XH
chung của vùng và cả nước, tương thích với mức cần thiết của yêu cầu
hội nhập Quốc tế và Khu vực;
Hai là, phù hợp với quy hoạch chung và quy hoạch các ngành khác
liên quan của địa phương;
Ba là, phù hợp với quy mô, cơ cấu và phân bố dân số;
Bốn là, kết hợp trước mắt và lâu dài, có tính toán bước đi cụ thể
tới mức có thể và cần thiết, xác định rõ những vấn đề bức xúc trọng
điểm đầu tư, thứ tự ưu tiên;
Năm là, xử lý tốt mối quan hệ với các ngành, các lĩnh vực khác,
thể hiện được đặc thù của ngành ở chỗ vừa là phúc lợi xã hội (do Nhà
nước cung cấp), vừa là ngành cung cấp dịch vụ, nên cần phân biệt rõ vai
trò, nhiệm vụ của Nhà nước và của các tổ chức, các cá nhân khác trong
xã hội. Xác định cơ chế quản lý và cơ chế hoạt động,nhằm đảm bảo hiệu
quả công bằng và dân chủ.
1.2.3. Vị trí và mối quan hệ giữa quy hoạch GD - ĐT với các ngành,
lĩnh vực khác của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
- Quy hoạch phát triển và phân bố ngành GD - ĐT của địa phương
là một bộ phận hữu cơ của quy hoạch phát triển GD - ĐT của vùng và
của cả nước, có quan hệ chặt chẽ với quy hoạch ngành, lĩnh vực khác
trên địa bàn lãnh thổ. Do đó cần có sự phối hợp chặt chẽ để xử lý tốt
những vấn đề liên ngành, liên vùng.
Sáu là, GD - ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và toàn dân.
* Dân số và số dân trong độ tuổi các cấp TH và THCS
17
Đây là cơ sở rất quan trọng và cơ bản làm căn cứ để xây dựng quy
hoạch phát triển GD - ĐT. Bởi mức tăng, giảm dân số nói chung, sự di
cư dân số, thành phần dân tộc và phân bố dân cư ở thành thị, nông thôn,
vùng lãnh thổ, .v.v… đều ảnh hưởng đến dân số học đường. Nếu dân số
tăng nhanh thì học sinh các lớp đầu cấp sẽ tăng rất nhanh ở các lớp tiểu
học. Nếu quá trình tăng dân số được kiểm soát chặt chẽ, có kế hoạch, tỷ
lệ sinh đẻ giảm dần thì qui mô học sinh TH sẽ giảm. Tỉ lệ tăng dân số
ổn định thì sẽ tính được nhu cầu chính xác của các lớp TH.
* Quy mô học sinh.
Quy mô học sinh phát triển bình thường thì việc xây dựng quy
hoạch sẽ thuận lợi, nếu quy mô học sinh giữa tiểu học và THCS chênh
lệch nhau quá lớn, không ổn định sẽ ảnh hưởng đến công tác quy hoạch.
Do vậy cần quan tâm đến các lớp đầu cấp tiểu học, tạo điều kiện cho các
em đến tuổi được đi học, đó là căn cứ để xây dựng quy hoạch các cấp
học tiếp theo. Quy mô học sinh còn phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khác
như mặt bằng dân trí của khu vực, đời sống KT -XH của cộng đồng dân
cư địa phương sở tại, …
* Cơ sở vật chất trường lớp.
Cơ sở vật chất, trường lớp đó chính là một bộ phận của cơ sở hạ
tầng, nó ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục và đào tạo, quyết định đến
số lượng các lớp học, có ý nghĩa rất quan trọng như: để xác định quy mô
từng lớp, việc bố trí giáo viên cho phù hợp, v.v…
Ví dụ: với một quy mô học sinh nhất định, nếu cơ sở vật chất thiếu
thốn, số lớp học được xây dựng ít thì số lượng học sinh trên một lớp sẽ
cao, ảnh hưởng đến chất lượng học tập, nếu số lớp học tăng thì việc bố
trí số học sinh trên lớp sẽ được đảm bảo theo đúng quy định, học sinh sẽ
có điều kiện học tập tốt hơn.
số giáo viên trên một lớp …
19
+ Phân tích đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên (theo từng cấp
học) về: biến động số lượng giáo viên một lớp, phân tích nguyên nhân
của sự biến động về số lượng giáo viên, đánh giá chất lượng đội ngũ
giáo viên (đánh giá chung), tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn và cơ cấu giáo viên
theo từng bộ môn …
+ Phân tích, đánh giá thực trạng, chất lượng và sự phân bố hệ
thống cơ sở vật chất của các cấp học (số trường, lớp học), số học sinh
tính cho một phòng học, trang thiết bị cơ sở vật chất khác như phòng thí
nghiệm, trang thiết bị dạy học, thư viện, cung cấp nước sạch, điện và hệ
thống chiếu sáng, công trình vệ sinh …
- Thực trạng tài chính cho phát triển giáo dục phổ thông:
+ Đánh giá, phân tích nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước:
Tổng chi phí ngân sách cho GD - ĐT, trong đó chi cho giáo dục
phổ thông, tỉ trọng chi cho giáo dục phổ thông so với tổng chi ngân sách
GD - ĐT và tổng chi ngân sách của địa phương nói chung, phân tích
tính hợp lý của tỉ lệ trên;
Cơ cấu chi ngân sách phổ thông: phân tích cơ cấu chi theo các cấp
học và những mục tiêu giáo dục như: chi cho TH, THCS, xoá mù chữ,
nâng cao chất lượng giáo viên …; cơ cấu chi cho mục đích sử dụng như:
chi thường xuyên, chi xây dựng cơ bản …
+ Đánh giá, phân tích nguồn tài chính, nguồn ngân sách:
Ngân sách nhà nước;
Đóng góp của gia đình học sinh;
Đóng góp của các tổ chức xã hội.
- Phân tích đánh giá hiệu quả phát triển giáo dục phổ thông:
+ Hiệu quả “trong” (được xem xét từ bên trong ngành giáo dục,
phân tích tính hiệu quả kinh tế vĩ mô của việc sử dụng các nguồn lực)
được phân tích đánh giá bằng những chỉ tiêu sau: tỉ lệ học sinh hoàn
21
+ Dự báo nhu cầu trường lớp, cơ sở vật chất trường lớp và sự phân
bố theo các điểm dân cư; nhu cầu đầu tư.
- Tổng hợp dự báo nhu cầu vốn phát triển giáo dục phổ thông:
+ Tổng nhu cầu và cơ cấu theo từng cấp, bậc học;
+ Theo nguồn huy động (ngân sách trung ương, ngân sách địa
phương, chương trình mục tiêu, sự đóng góp của dân …);
+ Luận chứng phân bố hệ thống các trường gắn bó với hệ thống
các điểm dân cư và lập danh mục các chương trình, dự án và công trình
ưu tiên đầu tư nhu cầu vốn vác nguồn vốn.
* Kiến nghị hệ thống chính sách và biện pháp phát triển hệ thống
giáo dục phổ thông
- Các chính sách khuyến khích người đi học, hỗ trợ giáo dục đối
với người nghèo, các vùng sâu, vùng núi cao.
- Các chính sách khuyến khích giáo viên (đặc biệt là các giáo viên
ở vùng sâu, vùng xa hải đảo, …)
- Các chính sách huy động vốn ( tăng cường vốn đầu tư của ngân
sách Nhà nước, cơ cấu hợp lý các khoản chi ngân sách cho GD - ĐT,
huy động vốn từ các nguồn khác, tư nhân và nhân dân đóng góp …)
- Các chính sách đầu tư xây dựng hệ thống trường và trang thiết bị
trường học, đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục và công bằng xã hội.
- Kiến nghị về cơ cấu hoàn thiện của hệ thống.
Từ những nội dung cơ bản được phân tích ở trên đây, chúng ta
thấy nội dung quy hoạch và phân bố hệ thống giáo dục phổ thông là một
bộ phận của quy hoạch phát triển phát triển GD -ĐT. Để cung cấp
những căn cứ khoa học cho việc xây dựng quy hoạch phát triển GD -
ĐT, một trong những vấn đề quan trọng là phải tiến hành công tác dự
báo.
1.2.6. Vị trí vai trò của giáo dục Tiểu học và THCS trong sự
nghiệp phát triển KT - XH.
pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiếu về
kỹ thuật và hướng nghiệp ”.
Giáo dục TH và THCS là nền tảng văn hoá của một nước, có vai
trò quan trọng trong việc tạo dựng mặt bằng dân trí, là nhân tố hết sức
cơ bản để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động,
góp phần đưa đất nước nhanh hoà nhập vào cuộc cách mạng khoa học
kỹ thuật, sự phát triển KT - XH của các nước trong khu vực và quốc tế.
1.2.7. Mối quan hệ giữa giáo dục Tiểu học, Trung học cơ sở với
kinh tế - xã hội.
Trong đời sống con người, mối quan hệ giữa giáo dục và KT - XH
luôn gắn liền với nhau, thúc đẩy sự phát triển lẫn nhau. Mỗi sự kiện
giáo dục đều chứa đựng những nội dung kinh tế nhất định, đồng thời
mỗi sự kiện KT - XH cũng đều có thành quả của hoạt động giáo dục
đóng góp và bởi giáo dục là một hệ thống quan trọng trong hệ thống lớn
KT- XH. Sự phát triển của giáo dục luôn gắn chặt với sự phát triển của
kinh tế, sự tiến bộ xã hội. Giáo dục vừa là mục tiêu phát triển của nền
KT - XH vừa là nhân tố đóng góp vào sự phát triển của nền KT - XH.
Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò của giáo dục, Nghị
quyết Đại hội VI (1986) của đảng Đã chỉ rõ: Giáo đục vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của sự phát triển KT - XH. Đường lối phát triển của
Đảng ta, luôn coi trọng vai trò nhân tố con người, trong đó GD - ĐT là
nhân tố quyết định đến việc nâng cao dân trí, bối dưỡng và phát huy
nguồn lực to lớn của con người Việt Nam, là nhân tố quyết định thắng
lợi của sự nghiệp CNH - HĐH. Đảng ta xác định GD - ĐT cùng với KH
- CN là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GD - ĐT là đầu tư cho phát
triển .
Bản thân giáo dục không thể trực tiếp tạo ra sự tăng trưởng kinh
tế, nhưng nó góp phần quan trọng và có tính quyết định đến sự tăng
trưởng đó. Vì vậy, tích lũy vốn con người và đặc biệt là trí thức sẽ tạo
24