BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----------------
BÙI ĐĂNG KHƯƠNG
TÍCH HỢP GIÁO DỤC AN TOÀN VỆ SINH
LAO ĐỘNG TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn hoá học
Mã số : 60.14.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ VĂN NĂM
VINH – 2013
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
- Thầy giáo PGS.TS. Lê Văn , đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn và tạo mọi
điều kiện thuận lợi nhất cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
- Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Khắc Nghĩa và PGS.TS. Cao Cự Giác đã
dành nhiều thời gian đọc và viết nhận xét cho luận văn.
- Ban chủ nhiệm khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Hoá học cùng các
thầy giáo, cô giáo thuộc Bộ môn Lí luận và phương pháp dạy học hoá học khoa Hoá
học trường ĐH Vinh và ĐHSP Hà Nội đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất
môi trường, tránh ảnh hưởng nguy hại trong việc sử dụng hóa chất ngày càng được
sự quan tâm rộng rãi trên thế giới cũng như ở nước ta. Đã có nhiều văn bản về an
toàn sức khỏe có liên quan đến an toàn hóa chất được ban hành như: Công ước của
Tổ chức Lao động quốc tế ILO số 170 về an toàn trong sử dụng hóa chất tại nơi làm
việc (năm 1990); Quy phạm An toàn trong sản xuất, sử dụng, bảo quản và vận
chuyển hóa chất nguy hiểm TCVN-5507 (năm 1991).
Giáo dục an toàn vệ sinh lao động là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất
kinh tế nhất và có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu phát
triển bền vững. Thông qua giáo dục từng người và cộng đồng được trang bị kiến
thức về giáo dục an toàn vệ sinh lao động góp phần hình thành nhân cách và thái độ
của người lao động mới, coi trọng sức khỏe của bản thân và cộng đồng, có trách
nhiệm đến việc giữ gìn môi trường, có thái độ thân thiện với môi trường.
Việc trang bị các kiến thức về giáo dục an toàn vệ sinh lao động cho học sinh là
cách nhanh nhất và hiệu quả nhất giúp xã hiện nay và tương lai không xa hiểu biết
về giáo dục an toàn và vệ sinh lao động. Thực tế ở trường phổ thông hiện nay việc
đưa nội dung an toàn vệ sinh lao động vào chương trình môn học còn sơ sài, vì vậy
việc hiểu biết của các em về an toàn vệ sinh lao động còn nhiều hạn chế và thực sự
chưa mang lại hiệu quả.
Với đặc thù hóa học là một môn khoa học thực nghiệm có liên quan đến thực
tiễn cuộc sống nên hóa học cũng thuận lợi cho việc giáo dục an toàn vệ sinh lao
động cho học sinh. Qua giảng dạy hóa học chúng ta có thể lồng ghép những nội
dung vệ sinh an toàn lao động để qua đó khai thác kiến thức, lồng ghép với thực tế
làm cho giờ học trở nên sinh động và có ý nghĩa thực tiễn cao. Qua đó giúp cho mỗi
chúng ta có ý thức hơn về việc bảo vệ sức khỏe bản thân cũng như cộng đồng.
Trong giảng dạy hoá học ở trường phổ thông nếu chúng ta khai thác được kiến thức
lồng ghép những hiện tượng trong thực tế, bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn lao
động trong chính bài học sẽ làm cho giờ học trở nên sinh động, học sinh trở nên yêu
và hứng thú với môn học, từ đó có được kiến thức, thái độ tình cảm, ý thức về an
tập thực tiễn về an toàn vệ sinh lao động.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể: Quá trình dạy học hóa học, hệ thống các phương pháp dạy học hóa
học.
Đối tượng: Các biện pháp tích hợp về giáo dục an toàn vệ sinh lao động trong
dạy học hóa học ở trường THPT.
5. Phương pháp nghiên cứu
a. Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
Phân tích và tổng hợp lý thuyết qua các sách giáo khoa, tài liệu, các văn bản có
liên quan đến đề tài.
b. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra, phỏng vấn, dự giờ.
+ Thực nghiệm sư phạm.
c. Phương pháp sử dụng thống kê toán học để xử lí kết quả thực nghiệm sư
phạm
6. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được hệ thống các biện pháp tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao
động tích hợp trong giảng dạy hoá học thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc
dạy và học theo hướng hình thành và phát triển những hiểu biết, thái độ, kỹ năng an
toàn vệ sinh lao động cho học sinh.
7. Đóng góp của đề tài
Về mặt lí luận: Góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa nội dung hóa học với
việc tích hợp giáo dục an toàn vệ sinh lao động cho học sinh.
Về mặt thực tiễn: Xây dựng một hệ thống các biện pháp tích hợp giáo vệ sinh
an toàn lao động trong dạy học hóa học, qua đó góp phần nâng cao nhận thức hành
động và đạo đức về an toàn vệ sinh lao động cho học sinh THPT. Đào tạo được con
người mới có ý thức, trách nhiệm với việc làm của mình để bảo vệ môi trường, sức
khỏe cộng đồng.
l. Ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy
m. Độc hại đến môi trường
• Hóa chất độc
Là hóa chất nguy hiểm có ít nhất một trong các đặc tính nguy hiểm được quy định
từ mục e đến mục m ở trên.
• Hóa chất mới
Là hóa chất chưa có trong danh mục hóa chất quốc gia, danh mục hóa chất nước
ngoài được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thừa nhận.
• Hoạt động hóa chất
Là hoạt động đầu tư, sản xuất, sang chai, đóng gói, mua bán, xuất khẩu, nhập
khẩu,vận chuyển, cất giữ, bảo quản, sử dụng, nghiên cứu, thử nghiệm hóa chất, xử
lí hóa chất thải bỏ, xử lí chât thải hóa chất.
• Sự cố hóa chất
Là tình trạng chất, nổ, rò rỉ, phát tán hóa chất gây hại hoặc có nguy cơ gây hại cho
người, tài sản và môi trường.
• Sự cố hóa chất nghiêm trọng
Là sự cố hóa chất gây hại hoặc có nguy cơ gây hại lớn, trên diện rộng cho người, tài
sản và môi trường.
• Đặc tính nguy hiểm mới
Là đặc tính nguy hiểm được phát hện nhưng chưa được ghi trong phiếu an toàn
hóa chất.
• Chất nguy hại
Là những chất có tính độc hại tức thời đáng kể hoặc tiềm ẩn đối với con người
sinh vật khác do: không phân hủy sinh học, hay tồn tại lâu bền trong tự nhiên; gia
tăng số lượng đáng kể không thể kiểm soát; liều lượng tích lũy đến một mức độ nào
đó sẽ gây tử vong hay gây ra những tác động tiêu cực.
Các chất có một trong các đặc tính nguy hại sau khi được xác định được gọi là
chất nguy hại:
được sử dụng trong quá trính sản xuất sản phẩm hay không còn cung cấp một giá trị
sản phẩm thương mại hay dịch vụ tại chỗ và đúng thời điểm xác định. Nghĩa là chất
thải là những chất bị hỏng hay không đạt chất lượng, xuất hiện không đúng lúc,
không đúng nơi. Chất thải chỉ là khái niệm tương đối, mỗi khi chất thải được đưa
đến đúng nơi sử dụng, có mặt đúng lúc, đúng yêu cầu chất lượng thì nó lại là
nguyên liệu hay nhiên liệu và được con người sủ dụng để sản xuất hàng hóa. Tương
tự như vậy thì chất thải nguy hại cũng chỉ là khái niệm tương đối so với hàng hóa
nguy hại.
1.1.2. Một số thuật ngữ và kiến thức về an toàn và vệ sinh lao động
• An toàn lao động (ATLĐ)
Tình trạng nơi làm việc đảm bảo cho người lao động làm việc trong điều kiện
không nguy hiểm đến tính mạng, không bị tác động xấu đến sức khỏe. Tình trạng
điều kiện lao động không gây ra sự nguy hiểm trong sản xuất.
• Vệ sinh lao động (VSLĐ)
Hệ thống các biện pháp và phương tiện về tổ chức, vệ sinh và kỹ thuật vệ sinh
nhằm phòng ngừa sự tác động của các yếu tố có hại trong lao động, sản xuất đối với
người lao động.
Trong sản xuất, lao động, thí nghiệm: con người có thể phải tiếp xúc với những
yếu tố có ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, các yếu tố này gọi là tác hại nghề
nghiệp.
Ví dụ: Nghề hàn, yếu tố tác hại là nhiệt độ cao. Khai thác đá, sản xuất xi măng thì
yếu tố tác hại chính là tiếng ồn và bụi…
Tác hại nghề nghiệp ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động ở nhiều mức độ
khác nhau như gây ra mệt mỏi, suy nhược, giảm khả năng lao động, làm tăng bệnh
thông thường, thậm chí còn có thể gây ra bệnh nghề nghiệp.
• An toàn hóa chất (ATHC)
Một bảng chỉ dẫn an toàn hóa chất (tiếng anh viết tắt là MSDS: Material Safety
Data Sheet) là một dạng văn bản chứa các dữ liệu có liên quan đến các thuộc tính
Bệnh do nhiễm trùng (infections)
- Bệnh gây ra do chất độc, chất độc này có thể do vi sinh vật tạo ra, do nguyên liệu
(chất độc có nguồn gốc sinh học), do hóa chất từ quá trình chăn nuôi, trồng trọt, bảo
quản, chế biến. Các chất độc này có trong thực phẩm trước khi người tiêu dùng ăn
phải.
- Bệnh nhiễm trùng do thực phẩm là trong thực phẩm có vi khuẩn gây bệnh, vi
khuẩn này vào cơ thể bằng đường tiêu hóa và tác động tới cơ thể do sự hiện diện
của nó cùng các chất độc của chúng tạo ra.
• Những độc hại hóa học thường gây ô nhiễm trong thực phẩm
- Các chất ô nhiễm trong công nghiệp và môi trường như: CO 2, các chất phóng xạ,
các kim loại nặng
- Các chất hóa học sử dụng trong nông nghiệp: thuốc bảo vệ thực phẩm, động vật,
thuốc thú y, chất tăng trưởng, phân bón, thuốc trừ giun sán, chất hun khói…
- Các chất phụ gia sử dụng không đúng quy định, liều lượng như: chất tạo màu, tạo
mùi, tạo ngọt, tăng độ kết dính, ổn định, bảo quản, chất chống oxi hóa, chất tẩy
rửa… và các hợp chất không mong muốn trong vật liệu bao gói, chứa đựng thực
phẩm.
- Các chất độc hại tạo ra trong quá trình chế biến thịt hun khói, dầu mỡ bị cháy khét,
các hợp chất tạo ra do phản ứng hóa học trong thực phẩm, sự sản sinh độc tố trong
quá trình bảo quản, dự trữ bị nhiễm nấm mốc (độc tố vi nấm) hay biến chất ôi hỏng.
- Các độc tố tự nhiên có sẵn trong thực phẩm như mầm khoai tây, sắn, đậu, măng,
nấm độc, cá nóc…
- Các chất gây dị ứng trong một số hải sản, nhộng tôm,… các độc hại nguồn gốc vật
lý như mảnh thủy tinh, gỗ, kim loại, đá sạn, xương, móng, lông, tóc và các vật lạ
khác lẫn vào thực phẩm cũng gây nguy hại đáng kể như gãy răng, hóc xương, tổn
thương niêm mạc dạ dày, miệng…
1.1.4. Ảnh hưởng của hóa chất đối với con người và môi trường[8], [15], [26],
[27]
+ Các kim loại và á kim độc như: chì, thủy ngân, mangan, cadimi, hợp chất asen...
* Các loại hoá chất dùng bảo quản thực phẩm có ảnh hưởng tới sức khoẻ con người:
+ U rê
+ Phoc mon
* Các loại hoá chất có thể phòng chống ngộ độc thực phẩm:
+ Than hoạt tính
+ dd KMnO4
• Sự độc hại của hóa chất
Các yếu tố quyết định mức độ độc hại của hóa chất bao gồm độc tính, đặc tính
vật lý của hóa chất, trạng thái tiếp xúc, đường xâm nhập vào cơ thể và tính mẫn cảm
của cá nhân và tác hại tổng hợp của các yếu tố này.
Đường xâm nhập của hóa chất vào cơ thể con người
- Qua đường hô hấp: Vào cơ thể qua đường hô hấp là các hóa chất dạng bùi, hơi,
khí. Bụi được hình thành trong quá trình xay, nghiền, cắt, mài,…Hơi được tạo ra
bởi sự đốt nóng chất lỏng, rắn. Mù được tạo ra từ các hoạt động sơn, mạ điện, đun
sôi…
-Qua da: Sự hấp thụ qua da thường là các hóa chất lỏng, sau khi hóa chất này tiếp
xúc trực tiếp với cơ thể người. Thường xảy ra trong quá trình lao động sản xuất và
học tập có sự tiếp xúc với chất lỏng.
-Qua đường tiêu hóa: Độc tính dính trên môi, tay, đồ vật hay dụng, thức ăn… sẽ có
cơ hội vào cơ thể theo đường tiêu hóa.
•Tác hại của hóa chất đối với cơ thể con người
Kích thích (da, mắt, hô hấp…)
Dị ứng (da, đường hô hấp)
Gây ngạt (ngạt đơn thuần, ngạt hóa học)
Gây mê, gây tê
Gây tác hại tới hệ thống các cơ quan của cơ thể
Ung thư, hư thai ảnh hưởng đến các thế hệ
• Các qui định khi sử dụng hoá chất:
Ngoài qui định chung, khi sử dụng hoá chất, tuyệt đối tuân thủ theo các thủ tục
sau:
- Chỉ được phép sử dụng các hoá chất đã được dán nhãn, hoặc theo kí hiệu
riêng;
- Khi làm việc với hoá chất phải mang dụng cụ bảo hộ lao động, tuyệt đối
không được đùa nhất là khi làm việc với các hoá chất độc hại.
- Phải biết được các kí hiệu trên chai chứa hoá chất do nhà sản xuất qui định;
như là:
Chất độc sức khỏe Chất dễ cháy Chất ăn mòn
Không phải
Nơi nguy hiểm về điện
nước uống
Chất độc môi trường
Nơi có bình chữa
vòiNơi giữ hóa chất
cháy
độc
Nơi có chất phóng
xạ
Lối thoát hiểm
Nơi có tác nhân nguy
Các thiết bị đường ống chứa hóa chất dễ ăn mòn phải được làm bằng vật liệu thích
hợp, phải đảm bảo kín.
Tại nơi làm việc có hóa chất ăn mòn phải có vòi nước, bể chứa dung dịch NaHCO 3
0,3%, dung dịch CH3COOH 0,3% hoặc các chất khác có tác dụng cấp cứu kịp thời
tại chỗ sau khi tại nạn
Tất cả các thiết bị đều được xử lý không còn tác dụng ăn mòn trước khi đưa ra
ngoài…
- Hóa chất độc
Khi tiếp xúc với hóa chất độc, phải có mặt nạ phòng độc tuân theo những quy định
sau:
+ Phải chứa chất khử độc tương xứng
+ Chỉ được dùng loại mặt nạ lọc khí độc khi nồng độ hơi khí không vượt quá 2% và
nồng độ oxi không dưới 15%
+ Đối với cacbon oxit (CO) và những hỗn hợp có nồng độ CO cao phải dùng loại
mặt nạ lọc khí đặc biệt.
Tiếp xúc bụi độc phải mặc quần áo kín may bằng vải bông dày có khẩu trang
chống bụi, quần áo bảo vệ chống hơi, bụi chất lỏng độc cần phải che kín cổ tay
chân, ngực. Khi làm việc với dung môi hữu cơ hòa tan thì phải mang quần áo bảo
vệ chống thấm và mặt nạ cách ly.
Cấm hút dung dịch hóa chất độc bằng miệng. Không được cầm nắm trực tiếp hóa
chất độc.
Các thiết bị chứa hóa chất độc dễ bay hơi, phải thật kín va nếu không co quy trình
sản xuất bắt buộc thì không được đặt cùng chỗ với bộ phận khác không có hóa chất
độc…
1.1.6. Ô nhiễm môi trường. Các biện pháp bảo vệ môi trường[8], [15], [20],
[26], [36]
1.1.6.1. Khái niệm ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường hóa học
• Ô nhiễm môi trường
Là hiện tượng làm thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phần và đặc tính
vật lý, hóa học, sinh thái của bất kỳ thành phần nào của môi trường hay toàn bộ môi
Về nguyên nhân gây ô nhiễm: có 2 nguồn cơ bản gây ô nhiễm môi trường không
khí:
- Nguồn gây ô nhiễm do thiên nhiên.
Nguồn ô nhiễm thiên nhiên là nguồn do các hiện tượng thiên nhiên gây ra như
đất sa mạc, đất trồng bị mưa gió bào mòn và gió thổi thành bụi. Các núi lửa phun ra
bụi nham thạch cùng với nhiều hơi khí từ lòng đất thoát ra là nguồn ô nhiễm không
khí đáng kể, cháy rừng cũng gây ra những đám khói lớn và bụi rộng. Nước biển bốc
hơi cùng với sóng biển tung bot mang theo bụi muối biển lan truyền vào không khí.
Các quá trình thối rữa của xác động vật ở tự nhiên cũng đưa vào không khí các chất
khí ô nhiễm.
- Nguồn do hoạt động của con người.
Nguồn gây ô nhiễm do con người chủ yếu tạo ra từ:
+ Khí thải công nghiệp: Do quá trình đốt nhiên liệu và sự rò rỉ, thất thoát khí độc
trong quá trình sản xuất, các chất thải công nghiệp thường có nồng độ cao.
+ Khí thải do hoạt động giao thông vận tải, các chất khí độc hại phát sinh trong quá
trình đốt cháy nhiên liệu của động cơ, kèm thao bụi và tiếng ồn làm ô nhiễm không
khí trên các tuyến giao thông.
+ Khí thải do sinh hoạt: chủ yếu phát sinh từ đun nấu lò sưởi do sử dụng nhiên liệu
kém chất lượng, nguồn thải các khí độc nhỏ nhưng phân bố dày đặc cục bộ trong
từng không gian hẹp nên gây độc hại trực tiếp đến con người
*. Tác hại của ô nhiễm không khí là rất lớn
- Trước hết là “hiệu ứng nhà kính’’ gây ra do sự tăng nồng độ CO 2, NO2, CH4, O3,
CFC… làm cho nhiệt độ của trái đất nóng lên. Mặt trái của hiệu ứng nhà kính là gây
ra sự khác thường về khí hậu, gây hạn hán lũ lụt, ảnh hưởng đến môi trường sinh
thái và cuộc sống của con người.
- Ngoài ra ô nhiễm không khí ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ con người: gây ra
bệnh tật đặc biệt là các bệnh về tim, phổi. Không khí bị ô nhiễm nặng có thể gây tử
vong cho con người.
Tuỳ theo mức độ ô nhiễm khác nhau, các chất gây ô nhiễm có tác hại khác nhau
đến sự sinh trưởng, phát triển của động, thực vật, ảnh hưởng đến sức khoẻ con
người. Chẳng hạn, kim loại nặng và các chất nguy hại khác chậm phân huỷ sẽ tích
luỹ theo thức ăn vào cơ thể động vật và người gây nên những tác hại cho sức khoẻ
các loại vi khuẩn, kí sinh trùng, sinh vật gây bệnh theo nguồn nước bị ô nhiễm lan
truyền bệnh cho người và động vật. Hoạt động thăm dò và khai thác dầu, hiện tượng
rò rĩ dầu từ các dàn khoan, hiện tượng tràn dầu trên biển cả là những sự cố gây ô
nhiễm môi trường nước nghiêm trọng đe doạ sự sống trong một phạm vi rộng.
• Một số bệnh ở người do nước bị ô nhiễm gây nên
Bệnh
Tác nhân truyền Loại
Bệnh dịch tả
bệnh
Vibrio cholerae
sinh Triệu chứng
vật
Vi khuẩn
Ỉa chảy nặng, nôn mửa, cơ thể
mất nước nhiều, bị chuột rút và
Bệnh kiết lỵ
Bại liệt
gan A
không ngon, đau đầu
Siêu vi trùng bại Siêu vi trùng Đau cuống họng, ỉa chảy, đau
liệt
chịu, ăn không ngon hay bị
cột sống và chân tay
• Một số chất hữu cơ tổng hợp trong nước bị ô nhiễm
Hợp chất
Thuốc trừ sâu
Benzen (dung môi)
Cacbon tetraclorua (dung môi)
Một số tác động đến sức khỏe
Tác động đến hệ thần kinh
Rối loạn máu, bệnh bạch cầu
Ung thư, làm hại gan và có thể tác động
Cloroform (dung môi)
Đioxin (TCDD)
Etylen đibromti (EDB)
đến thận và thị giác
Ung thư
Quái thai, ung thư
Nước ngầm là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu ở nhiều quốc gia và vùng
dân cư trên thế giới. Do vậy ô nhiễm nước ngầm có ảnh hưởng lớn đến chất lượng
cuộc sống con người.
Tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước ngầm có thể là:
-Tác nhân tự nhiên: Nhiễm mặn, nhiễm phèn, hàm lượng ion kim loại trong nước
cao.
- Tác nhân nhân tạo: các anion, cation các vi sinh vật…
• Ô nhiễm biển
Biển là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục địa theo các dòng chảy sông,
suối, các chất thải từ hoạt động của con người trên biển: khai thác khoáng sản, giao
thông vận tải trên biển. Trong thời gian dài biển còn là nơi đổ các chất độc hại như
chất thải phóng xạ của nhiều quốc gia trên thế giới.
• Ô nhiễm đất
Bình thường hệ sinh thái đất luôn luôn tồn tại ở trạng thái cân bằng. Tuy nhiên
khi có mặt của một số chất và hàm lượng của chúng vượt quá khả năng chịu tải của
đất thì hệ sinh thái sẽ mất cân bằng và môi trường đất bị suy thoái và ô nhiễm
Nguồn gốc gây ô nhiễm môi trường đất:
- Nguồn gốc tự nhiên: núi lửa, ngập úng, đất bị mặn do xâm nhập thủy triều, đất bị
vùi lấp do cát bay.
- Nguồn gốc nhân sinh: Ảnh hưởng của chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp,
giao thông và hoạt động nông nghiệp.
Đặc thù của ô nhiễm đất là sự tồn tại các chất thải rắn trong các chất thải công
nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt, trong đó chất thải công nghiệp đóng vai trò quan
trọng nhất. Các chất thải công nghiệp có thể có các nguồn gốc khác nhau. Trước hết
đó là các chất thải của nghành khai thác dầu mỏ. Các quặng mỏ thường nằm sâu
trong lòng đất, do đó để khai thác chúng, trước hết phải bóc đất đá. Đôi khi lượng
đất đá còn lớn hơn lượng quặng cần khai thác. Tiếp theo quá trình làm giàu quặng
sẽ thải ra đất đá và các khoáng vật phụ, đông hành với khoáng vật chính trong quá