IỈỘ Y TỄ
TRƯỜNG ĐẠĨ HỌC Dược IIẢ NỘI
GÓP PIIẨN NGHIÊN
cứu ĐẶC «IỂM
I h ụ c v ậ t VÀ
c
>
LỜI CẢM Ơ N
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo :
TS. Nguyễn Thị Sinh
Bệnh nấm và các thuốc điều trị
2
2.2.
Khảo sát sơ bộ các cAy thuốc có khả năng kháng nấm
5
2.3.
Cây Bạch hạc
6
Phần III.
Thực nghiệm và kết quả
8
3.1.
Nguyên liệu và phương pháp
8
3.1.1.
Thực nghiệm và kết quả
11
3.2.1.
Đặc điểm thực vật
11
3.2.2.
Thử hoạt tính kháng nấm
17
a.
Thăm dò hoạt tính kháng nấm trên các chủng nấm bệnh
khác nhau
17
b.
Thăm dò khả năng kháng nấm trên chủng Candida
albicans các bộ phận của cây ở các thời điểm khác nhau
18
Phần I : ĐẶT VẤN ĐỂ
Các bệnh nấm ở người trong vòng 20 năm trở lại đây phát triển mạnh.
Đó là do điều kiện khí hậu của nước ta nóng ẩm, rất thích hợp cho sự phát
triển của nấm. Đồng thời còn do những tiến bộ trong y học như : Chiếu tia X,
thay thế phủ tạng, sử dụng nhiều thuốc Corticoiđ, hóa trị liệu ung thư, do HI V.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu các thuốc mới chữa nấm vẫn tiến triển rất chậm.
Có những thuốc trị nấm từ những năm 40 đến nay, trải qua 60 năm vẫn được
xem là chuẩn mực trong điều trị nấm.
Trong khi đó, nước ta nguồn thuốc nam lại rất dồi dào, có nhiều cây
thuốc được nhân dân ta sử dụng để chữa nấm rất phổ biến. Trước thực tế đó
chúng tôi đã lựa chọn để nghiên cứu một trong số các cây thuốc nam nliằm
khẳng định giá trị chữa nấm đã được nhân dân ta quen dùng. Đó là cây Bạch
hạc, có tên khoa học : Rhinacanthus nasutus (L.) Lindau họ Ôrô Acanthaceae
với các mục tiêu sau :
+ Mô tả đặc điểm cấu tạo hình thái và giải phẫu của cây Bạch hạc.
+ Thử hoạt tính kháng nấm trên một sô chủng nấm bệnh.
+ Bước đầu so sánh khả năng kháng nấm bệnh vói một sô dạnẹthuỏc
tổng họỊ> chữa nấm p h ổ biến hiện nay.
Do thời gian quá ngắn, khóa luận còn nhiều vấn đề cần khảo sát, song
chúng tôi cùng mong muốn được góp một phần nhỏ trong việc tìm kiếm và
bảo tồn nguồn tài nguyên làm thuốc ở nước ta.
I
Phần I I : TỔNG QUAN
2
những người bình thường, khỏe mạnh có thể phát hiện thấy vi nấm trong
miệng (30%), trong ruột (38%), âm đạo (39%), các nếp gấp ở hậu môn (46%),
phế quản (17%)[ 13]. Dạng sống của Candida chủ yếu là hoại sinh và do có sự
cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột nên số lượng vi nấm ở đây rất ít. Trong một
số điều kiện nhất định, vi nấm Candida có thể chuyển từ dạng sống hoại sinh
sang dạng sống ký sinh và gây bệnh. Các điều kiện thuận lợi cho vi nấm
Candida gây bệnh là:
- Yếu tố sinh lý : Khi phụ nữ có thai, do có sự gia tăng các hormon nên
dãn đến thay đổi môi trường ở âm đạo, cộng thêm sự duy giảm miễn dịch tạm
thời khiến vi nấm có điều kiện phát triển hơn.
- Yếu tố bệnh lý : Như mắc chứng đái đường, chứng béo phì, suy đinh
dưỡng.
- Yếu tố thuốc men : Do lạm dụng kháng sinh dùng không đúng quy
định, dùng các loại Corticoid liều cao và lâu dài, các loại thuốc ức chế miễn
địch, các thuốc điều trị ung thư, do HIV, cấy ghép cơ quan ...
Đãy là một bệnh nấm nội tạng có thể biểu hiện cấp tính hay mãn tính.
Các bộ phận tổn thương có thể là da, niêm mạc, máu, nội tâm mạc và màng
não. Bệnh Candida phổ biến khắp nơi trên thế giới, bệnh thuộc mọi lứa tuổi,
mọi chủng tộc và ở cả 2 giới nam và nữ.
Bệnh nấm Trichophyton ký sinh trên tóc, lông, da nhẵn, móng tay.
móng chân[13]. Trichophyton mentagrophytes là một loại nấtn sợi gây bệnh ở
da khô, da mịn và các vùng khác trên cơ thể, nhất là tổn thương mưng mủ ở
lâu, ở da đầu, ở chânf 16]. Ngoài ra có thể gây ra một số bệnh: Chốc đầu mưng
mủ, bệnh hắc lào, nấm bẹn, nấm móng.
•Các thuốc
- ức chế chuyển hóa.
- Tác dụng lên chức năng acid Nucleic và sự tổng hợp acid Nucleic.
- ức chế sự tổng hợp thành tế bào.
- ức chế sự tổng hợp Ergosterol.
- Quá trình phân chia tế bào.
- Quá trình tổng hợp protein.
Tuy vậy, tất cả các chất đó đều tương tác và ức chế Ergosterol chủ yếu
của màng Plasma của nấm. Những kháng sinh Polyen do loài Streptomyces
sản sinh ra Amphotericin B, Nystatin, Primaiicin ... liên kết với các Sterol của
màng làm tăng tính thấm của màng làm thoát ra nhiều chất trong bào tương và
gây chết tế bào. Đối với các chất azol, nó có tác dụng diệt nấm ở nồng độ cao
4
nhưng lại gây hại cho tế bào cơ thể. Ớ nồng độ thấp, các chất này có tác dụng
kìm hãm nấm. Các azol [12] tác dụng chủ yếu vào sự sinh tổng hợp
Ergosterol, nó có tác dụng ức chê các Enzym gắn ở màng tế bào nấm là : Các
Cytochrome P450 Oxydase cần thiết cho sự Demethyl hóa của các 14a methyl sterol bằng quá trình oxydase ; Cytochrome c - oxydase ở ty lạp thể và
ATPase cần cho sự hô hấp của tế bào.
Các chất Aỉlylamin [17] ức chế enzym squalenepioxyđase dẫn đến kết
quả là sự thiếu hụt ergosterol làm tổn hại đến cấu trúc màng và chức năng của
Ketoconazol [12] thuộc nhóm chất azol là thuốc trị nấm có hoạt phổ
lộng và có hoạt lực mạnh đùng để điều trị một số bệnh nấm bề mặt đường tiêu
hóa và nấm toàn thân. Ngoài ra còn được dìing để phòng bệnh nấm ở bệnh
nhãn bị suy giảm miễn dịch và phòng nấm ký sinh.
2.2. Kliảo sát sơ bộ các cây thuốc có khả năng kháng nấm.
đông [2, 3, 7].
Thành phần hóa học [4, 7] : Từ năm 1881 Liborius đã nghiên cứu bấy
trong rễ cây này có 1,87% chất gần giống acid Cryzophanic và acid Frnngulic.
Tác giả cho đó là hoạt chất của cây và gọi là rinacantin C)4H l80 4 (theo Phnnn.
Zeitcho fur Russl) đây là một chất màu đỏ anh đào, không mùi, không vị, tan
trong cồn và dung dịch kiềm, khi đun sôi với acid Clohydric không cho
Glucoza.
Tính vị, tác dụng [5, 14] : Cây có vị ngọt dịu, tính bình có tấc dụng
chống ho, sát trùng, chống ngứa, trừ phong thấp
Thường dùng trị : Lao phổi khởi phát, ho, viêm phế quản cấp và mạn
tính, phong thấp, tê bại, nhức gân đau xương, viêm khớp, huyết áp cao. Liều
dùng : 9-15 gam, dạng thuốc sắc [3].
Dùng ngoài trị bệnh V Ecpet mảng tròn, eczema, hắc lào, ngứa lở bằng
cách lấy lá tươi giã đắp hoặc lấy nước rửa[5, 4], ở Trung Quốc [5], người ta
dùng cành lá tươi sắc lên hòa thêm đường phèn uống chữa viêm phổi hay lao
6
xơ nhiễm. Lá tươi giã với dầu hỏa hay rượu dùng xát đắp chữa hắc lào và mẩn
ngứa. Nhân dân ta dùng rễ tươi ngñm rượu hay ngâm giấm 7 - 1 0 ngày chữa
hắc lào, chốc lở hay eczema mạn tính. Sau khi đã rửa sạch với nước nóng, có
thể nấu thành cao để dùng[7]. Rễ Bạch hạc còn được dùng để chữa phong thấp
với tên Nam uy linh tiên phối hợp với Thiên niên kiện, Thổ phục linh, Tỳ giải,
Cỏ xước, Cẩu tích, Cốt toái bổ mỗi vị 10 - 15 gam sắc uống [5]
Lá tươi hay khô cây Bạch hạc [1] (5 cái) rửa sạch hãm với 50ml nước
sôi trong 30 phút uống một lần để hạ huyết áp. Viện Quân y 108 và bệnh viện
Sùng Chính Thành Phố Hồ Chí Minh còn nấu lá Bạch hạc thành cao lỏng rồi
cho uống liền trong 15 -3 0 ngày. Người bệnh đùng cao lỏng này thấy dễ chịu
hơn là dùng Reserpin. Viện Y học Dãn tộc Đà Nẩng phối hợp lá cây Bạch hạc
1,0 %
Glucose
2,0 %
Thạch
1,5 - 1,6 %
Nước cất vừa đủ
pH = 6,0 ± 0,2 (dung dịch NaOH 3N và dung dịch HC1 3N để điều
chỉnh pH môi trường). Môi trường được hấp tiệt trùng ở 118°c / 30 phút
3.1.2. Phương phấp nghiên cún.
a. Mỏ tả đặc điểm thực rật.
•
Mô tả đặc điểm hình thái : Quan sát cãy tại nơi mọc, mô tả hình thái, chụp
ảnh cây, cành mang hoa và lá.
•
Phân tích hoa : Xem xét cấu tạo đầy đủ một hoa, xác định kích thước hoa
và các bộ phậnkhác của hoa dưới kính hiển vi soi nổi.
8
Ketoconazol 1% theo công thức :
Ketoconazol
[%
Cồn 70° vừa đủ
c. Phương pháp thủ tác dụng kháng nârn của cây.
Chúng tôi sử dụng phương pháp đục lỗ trên đĩa thạch đặc để thử tác
dụng kháng nấm của cây Bạch hạc [9,15].
•
Nguyên tắc : Trên lớp thạch dinh dưỡng đã cấy vi sinh vật kiểm định ta cho
dịch thử vào các lỗ thạch (đã được đục). Trong thời gian nuôi cấy, hoạt
chất kháng vi sinh vật sẽ khuếch tán trên lớp thạch ức chế sự phát triển của
9
vi sinh vật kiểm định để tạo thành vòng vô khuẩn, vòng vô khuẩn càng lớn
chứng tỏ hoạt tính càng lớn.
* Tiến hành :
- Pha dung dịch treo bào tử : Đối với Candida ,Trichophyton dùng dung
dịch NaOH 0,9% vô trùng để làm dịch treo bào tử nấm.
- Pha môi trường Sabouraund : Cân pepton, glucose, thạch theo tỷ lệ đã
ghi, cho nước cất vào xoong sau đó cho các chất trên vào. Đun cho tan hết
đường và pepton rồi điều chỉnh pH bằng dung dịch NaOH 3N và dung dịch
HCl 3N, sau đó đun sôi 3 phút cho tan hết thạch, lọc, phân vào các bình nón
250ml và 500ml lượng môi trường thích hợp. Hấp khử trùng 118°c / 30 phút.
- Chuẩn bị đĩa thạch và thử hoạt tính : Môi trường ở bình nón sau khi
l-3m, có
nhiều cành, thân non có lông
mịn. Lá có cuống ngắn mọc
đối.
Phiến
lá hình trứng
thuôn dài, gốc lá tù, đẩu
nhọn dài 2-4 cm, rộng 1-3
cm, mép lá nguyên, mặt trên
nhẫn, mặt Uüó'i hơi có lông
mill, cụm Hoa nhỏ màu
trắng, hơi điểm hồng hình
xitn ở kẽ lá hay đẩu cành non
như đàn hạc đang bay nên
gọi là cây Bạch hạc. Quả
nang có lông, phía dưới dẹp
không chứa hạt, phía trên có
2 - 4 hạt. Hạt hình trứng.
Ảnh ì : Cây Bạch học mọc hoang ở Ra 17
Phân tích hoa : Hoa mọc
thành chùm ở ngọn, lá bắc
hình chỉ có lông dài khoảng
lệ nhỏ so với toàn bộ tiêu bản (Hình 4) với nhiều tinh thể canxi oxalat nằm
trong tế bào.
• Đặc điểm cấu tạo giải phẫu thân cây : Thân cây với lát cắt ngang có tiết
diện hình đa giác với 6 góc lồi đều đặn. Ngoài cùng là lớp biểu bì gồm
những tế bào hình chữ nhật xếp sít nhau. Phía trên có một lớp cutin mỏng.
Ở những chỗ lồi của thân tập trung nhiều lớp tế bào mô dày với các góc
dày lên rõ rệt có thể nhìn thấy cả vân tăng trưởng. Mô mềm vỏ gồm nhiều
lớp tế bào đa giác, không đều, xếp lộn xộn, để hở nhiều khoảng gian bào
và có nhiều tinh thể canxi oxalat nằm rải rác; Vòng tế bào nội hì chỉ có
một lớp xếp xen kẽ với lớp trụ bì. Các hổ libe gỗ nằm riêng rẽ, phía trên là
libe gồm 3 - 4 lớp tế bào nhỏ bắt màu hổng sẫm, được ngăn cách với bó gỗ
bằng 2-3 lớp lế bào có màng mỏng xếp sít nhau, đó là tầng phát sinh libe
gỗ cấp 2. Bó gỗ gồm nhiều mạch gỗ nhỏ nằm xen kẽ với mô mềm gỗ có
màng dày và bắt màu xanh. Trong cùng là mô mềm ruột khá lớn với những
tế bào đa giác to xếp lộn xộn (Hình 5).
• Đặc điểm cấu tạo giải phẫu lá cây : Cấu tạo lá cây được chia làm 2 phần :
Phần gân lá và phần phiến lá. Gân lá lồi đều lên cả phía trôn và phííí
dưới. Ngoài cùng là lớp tế bào biểu bì ít khi thấy có lỗ khí. Dưới biểu bì là mô
dày góc gồm nhiều lớp tế bào. ở một số lá già, mô day phía trên không tao
thành một cung liên tục mà chia thành 2 đám ở 2 phía, ở giữa là mô mềm. Đặc
biệt, dưới lớp *TIÔdày cổ một hàng mô dậu chạy liên tục từ phiến lá sang. Tiếp
đến là mô mềm vỏ. Rất ít khi nhìn thấy các tế hào mô cứng ở đây. Hệ thống
dẫn gồm có 3 bó libe gỗ, bó lớn ở giữa, 2 bó nhỏ 2 bên nhưng gần như xếp
liền nhau và thường libe ở phía dưới, gỗ nằm ở phía trên tạo thành một hình
cung. Phần phiến lá không có gì đặc biệt, ngoài cùng là biểu bì, lỗ khí lập
trung nhiều ở biểu bì dưới. Có I -2 lớp tế bào mô dậu nằm ngay dới lớp hiểu
bì trên, tiếp đến là mô xốp với nhiều khoảng gian bào. (Hình 6)
13
1. Lông che chở
7. Trụ bì
2. Biểu bì
8. Li be
3. Mô dày
9. Tầng phát sinh libe - gỗ
4. Tinh thể canxi oxalat
10. Mạch gỗ
5. Mô mềm vỏ
11. Mô mềm gỗ
6. Nôi bì
12. Mô mềm ruột
15
Hình 6: Cấu tạo chi tiết vi phẫu lá
Rễ
Thân
Lá
(Ộ, cm)
(ệ, cm)
(4>, cm)
0
0
0
2,98
2,08
2,47
Trichophyton
mentagrophytes
Candida albicans
Nhân x é t:
- Qua kết quả bảng trên, chúng tôi thấy dịch ép tươi của rễ, thân, lá cây
24h
48h
72h
Dịch ép rễ
2,98
2,97
2,97
Dịch ốp thân
2,08
2,07
2,07
Dịch ép lá
2,47
2,42
2,44
này có tác đụng kéo dài.
c. Dịch ngâm giâm :
Theo các tài liệu [3,5...], trong dân gian có sử dựng dạng ngâm giấm lừ 7
10 ngày để trị nấm. Chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm, kết quả cho thấy với
dịch ngâm giấm trên đĩa thạch nuôi cấy Candida albicans hoàn toàn khổng
mọc được. Chúng tôi làm chứng bằng mẫu giấm thấy nấm cũng không mục
được. Có lẽ trong môi trường hẹp, nồng độ axit quá cao, không thích nghi với
sự phát triển Candida albicans một loài nấm bệnh chỉ phù hợp với pH - 4-7,
do đó có lẽ cần phái thẩm định thêm khả năng kháng nấm của các dịch ngArn
giấm các bộ phân của cây Bạch hạc để có kết quả thỏa đáng hon.
20
Ảtìỉì 9: So sánh tác (Jụm> kháng nấiì!
dịch !ìí>âm ỹấtn lá Ctĩy Bạch hạc
và mấu trấn i
Ảnh 8: So sánh tác dụng kháng nấm
dịch iiíỊâni íỊĨấni rễ cây Bạch hạc và
mầu trắng
Ánh 10: So sánh tác dụng kììáng nấm dich ngâm giấm thân cây Bạch hục và
mẫu trắng (a- Dịch lễ, b- Dịch lá, c- Dịch (hân, 1- del Acid Acelic 5%).
21
d. Dịch nước sắc :
Chúng tôi thử nghiệm khả năng kháng nấm của cây Bạch hạc