Biện pháp nâng cao công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Việt Nam là một nước đang phát triển và đang hội nhập mạnh mẽ với thế giới. Trong
bối cảnh đó, nước ta có những cơ hội để phát triển, đồng thời đang và sẽ gặp không ít khó
khăn, thách thức. Khi tham gia hội nhập kinh tế thế giới, xuất phát điểm phát triển của Việt
Nam còn quá thấp. Gần 80% dân số sống ở nông thôn và trên 70% lao động nông nghiệp,
nông thôn, trong đó đa phần có kỹ năng nghề rất thấp; sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng
tính truyền thống. Trong cơ cấu GDP, nông nghiệp vẫn chiếm 25%, trong khi đó ở các nước
phát triển, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP chỉ còn 3%. Điều này cho thấy để bắt kịp trình
độ của thế giới, Việt Nam phải nỗ lực rất nhiều để tạo ra sự bứt phá mạnh mẽ, trong đó quan
trọng nhất là đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn. Trong Chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2020 được Đại hội Đảng lần thứ XI thông qua,
một trong những giải pháp có tính đột phá thực hiện được mục tiêu đưa nước ta trở thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng, ngày 28-10-2008 Chính phủ đã ra Nghị
quyết số 24/2008/NQ- CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ, trong đó có
mục tiêu: “Tập trung đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, chuyển một bộ phận lao động
nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của dân
cư nông thôn tăng lên 2,5 lần so với hiện nay”. Một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong
Chương trình hành động của Chính phủ là: “Xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về
đào tạo nguồn nhân lực nông thôn. Tập trung xây dựng kế hoạch và giải pháp đào tạo cho
bộ phận con em nông dân đủ trình độ, năng lực vào làm việc ở các cơ sở công nghiệp, thủ
công nghiệp và dịch vụ và chuyển nghề; bộ phận nông dân còn tiếp tục sản xuất nông
nghiệp được đào tạo về kiến thức và kỹ năng để thực hành sản xuất nông nghiệp hiện đại;
đồng thời tập trung đào tạo nâng cao kiến thức cho cán bộ quản lý, cán bộ cơ sở”.
Để cụ thể hoá Chương trình hành động, ngày 27-11-2009, Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định số 1956/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
đến năm 2020”(gọi tắt là Đề án 1956). Trong Quyết định này đã thể hiện rõ quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta là: “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà
- Lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa.
5. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện khoá luận này tôi đã sử dụng phương
pháp sau:
5.1. Các phương pháp: phân tích, tổng hợp.
- Nghiên cứu chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước về công tác đào
tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm
cho lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa dựa trên các báo cáo tình hình thực hiện nhiệm
vụ KT- XH của địa phương và của Hội nông dân thị trấn.
5.2. Các phương pháp khảo sát, đánh giá thực trạng đào tạo nghề và giải quyết việc
làm cho lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa hiện nay
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp điều tra: Thăm dò ý kiến của lao động nông thôn trên địa bàn thị trấn
Phú Đa
5.3. Các phương pháp khác:
- Phương pháp thống kê: xử lý các thông tin, số liệu điều tra .
6. Cấu trúc khoá luận
Khoá luận được cấu trúc gồm 3 phần:
+ Phần thứ nhất: Mở đầu.
+ Phần thứ hai: Nội dung, gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận của công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm.
Chương II: Thực trạng công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn ở thị trấn Phú Đa.
Chương III: Các giải pháp nâng cao công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm
cho lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa.
+ Phần thứ ba: Kết luận và khuyến nghị.
- Tài liệu tham khảo.
- Phụ lục.
2
Việc làm là một phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều
kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó .
Điều 13, chương II (việc làm) Bộ Luật lao động của nước CHXHCN Việt Nam có ghi
rõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa
nhận là việc làm”.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cũng đưa ra khái niệm: Việc làm là những hoạt động
lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật.
1.1.4. Tạo việc làm
Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và
chất lượng lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác để kết hợp tư liệu sản xuất và sức
lao động.
Cơ chế tạo việc làm: Cơ chế ba bên, đòi hỏi sự tham gia tích cực của người lao động;
3
Biện pháp nâng cao công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa
Nhà nước và người sử dụng lao động.
Cơ chế tạo việc làm cho người lao động đòi hỏi sự tham gia tích cực của cả 3 phía :
Nhà nước, người sử dụng lao động và của chính bản thân người lao động. Sao cho cơ hội
việc làm và mong muốn nguyện vọng được làm việc của người lao động gặp nhau trên thị
trường đúng lúc, đúng chỗ.
1.2. SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM.
1.2.1. ĐTN góp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực
Con người yếu tố hết sức quan trọng trong tăng trưởng kinh tế. Nhờ có nền tảng giáo
dục-đào tạo, trong đó có đào tạo nghề, người lao động có thể nâng cao được kiến thức và kỹ
năng nghề của mình, qua đó nâng cao năng suất lao động, góp phần phát triển kinh tế. Như
vậy có thể thấy, đào tạo nghề là một thành tố và là thành tố quan trọng nhất, có ý nghĩa
cách hiệu quả nhất là đầu tư vào giáo dục, đào tạo nghề. Như vậy, đào tạo nghề trở thành
một nhân tố làm giảm số lượng những người “yếu thế”trên thị trường lao động và như vậy,
xét ở khía cạnh quốc gia, an sinh xã hội được đảm bảo hơn, do nghèo đói, do không có việc
làm...
- Thứ tư, vai trò của đào tạo nghề đối với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
được thể hiện thông qua chính nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Nhu cầu của nền kinh
tế công nghiệp đòi hỏi phải phát triển đội ngũ lao động có kiến thức, có kỹ năng nghề
nghiệp cao, có khả năng làm chủ được các phương tiện, máy móc, làm chủ được công nghệ.
Quá trình công nghiệp hoá dài hay ngắn, ngoài các yếu tố về cơ chế, chính sách và thể chế
còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của đội ngũ lao động kỹ thuật. Đây có thể nói là nhu
cầu khách quan của nền kinh tế, đòi hỏi Chính phủ các nước phải đầu tư cho đào tạo nghề.
- Thứ năm, vai trò của đào tạo nghề tác động trực tiếp tới đảm bảo an sinh xã hội,
nhất là đối với nhóm lao động nông thôn, lao động nghèo. Thông qua việc trang bị các
kiến thức, kỹ năng tối thiểu về nghề nghiệp từ các khoá đào tạo ngắn hạn, người lao động
nông thôn, nông dân đã có khả năng nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập, thoát được
nghèo một cách bền vững. Qua thực tiễn gần 2 năm thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao
động nông thôn của Chính phủ ( đề án 1956), ở nhiều địa phương, sau khi người nông dân
được học nghề, năng suất vật nuôi, cây trồng được nâng lên từ 1,5- 2 lần; chất lượng và
phẩm cấp sản phẩm hàng hoá cũng được nâng lên. Điều quan trọng nữa, thông qua các khoá
đào tạo, người nông dân, nhất là những chủ trang trại, chủ hộ, được trang bị những kiến
thức về khởi sự doanh nghiệp, nên sau khi khoá học đã mạnh dạn tổ chức sản xuất theo
hướng sản xuất hàng hoá, thu hút thêm lao động tại địa phương vào làm việc. Đây chính là
sự tác động rõ nhất, trực tiếp nhất của đào tạo nghề đối với an sinh xã hội ở nông thôn nước
ta.
Nhận thức rõ được vai trò của, đào tạo nghề nghiệp đối với việc nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực và qua đó tạo ra sự phát triển tương lai, Chính phủ của nhiều nước đã có
chiến lược dài hạn phát triển và đầu tư thoả đáng ngân sách cho lĩnh vực này. Chẳng hạn,
hàng năm, Mỹ đã chi khoảng 5%-7% GDP cho việc đào tạo và phát triển nhân tài, các nước
công nghiệp phát triển khác cũng đầu tư cho giáo dục- đào tạo rất lớn, như Hà Lan 6,7%
yếu tố quyết định để lao động tự khẳng định chính mình với gia đình và xã hội.
6
Biện pháp nâng cao công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI THỊ TRẤN PHÚ ĐA.
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA THỊ TRẤN PHÚ ĐA
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Phú Đa là một địa phương đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang đầm phá của huyện Phú
Vang, nằm dọc theo phá Tam Giang nên chịu ảnh hưởng lớn về thời tiết trong phát triển
kinh tế - xã hội. Thị trấn Phú Đa có 9 thôn, trong đó có 6 thôn chuyên sản xuất Nông
nghiệp, 02 thôn vừa sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, 01 thôn chủ yếu bằng
nghề ngư nghiệp. Trình độ dân trí thấp, cuộc sống định canh định cư chưa ổn định, còn một
số bộ phận dân cư đang còn sống lênh đênh trên mặt nước (bằng thuyền, đò). Vấn đề ăn ở,
sinh hoạt, kiếm sống của họ đều ở trên thuyền hoặc đò nay đây mai đó, chính vì vậy nó đã
tác động rất lớn đến việc công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho Nông dân để phát
triển kinh tế tại địa phương.
Tổng diện tích tự nhiên của thị trấn là: 2.996,66 ha trong đó:
- Đất Nông nghiệp: 1.312 ha gồm có:
+ Đất trồng lúa: 902,8 ha.
+ Đất trồng cây hàng năm: 1.242,36 ha.
+ Đất rừng sản xuất: 230 ha.
- Đất Nuôi trồng thuỷ sản: 148 ha.
- Đất phi Nông nghiệp: 1.162,95 ha.
- Đất chưa sử dụng: 261,74 ha.
- Đất khu dân cư: 260,42 ha.
kinh tế cao vào trong lao động sản xuất kinh doanh, động viên khuyến khích các cá nhân, hộ
gia đình sản xuất dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp mở rộng thêm nhà xưởng thu hút thêm lao
động tạo việc làm cho con em địa phương.
Bảng 1: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu của thị trấn năm 2011
và 6 tháng đầu năm 2012
Năm 2011
6 tháng đầu năm 2012
Kết quả
Tỉ lệ %
đạt
được
Kết quả
Tổng giá trị các ngành và lĩnh vực
220,078 tỷ
133,2
127,347 tỷ
49,5%
Sản lượng lương thực có hạt
6.031 tấn
119,3%
1.485 triệu
35,3%
GDP bình quân đầu người đạt
838 USD
128,9%
-
-
Tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới còn
14,8
211,4%
-
-
Tỉ lệ phát triển dân số tự nhiên
0,916
đạt được
Nguồn: Báo cáo tình hình KTXH năm 2011 và 6 tháng đầu năm 2012
Qua bảng số liệu và kế hoạch đặt ra của thị trấn thì 2011 và 6 tháng đầu năm 2012
được đánh giá là có nhiều biến động. Tuy tình hình thời tiết khí hậu có nhiều diễn biến phức
tạp, khô hạn kéo dài, không có nguồn nước để gieo cấy do đó giá trị sản xuất nông nghiệp
chưa đạt kế hoạch đề ra. Năm 2011 và đầu năm 2012 Việt Nam bị ảnh hưởng của dịch cúm
gia cầm, lỡ mồm, long móng ở gia súc đã làm cho giá trị sản xuất nông nghiệp giảm mạnh,
Phú Đa là một trong những vùng cũng bị ảnh hưởng khá nặng vì vậy làm phá vỡ kế hoạch
phát triển chăn nuôi của địa phương.
Bình quân thu nhập đầu người đạt 13,700.000đ/người/năm (tăng 9,6% so với kế
hoạch).
8
Biện pháp nâng cao công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC
LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI THỊ TRẤN PHÚ ĐA.
2.2.1 . Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn hiện nay.
Hiện nay, tổng số lao động đang làm việc trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân
là trên 47 triệu người, trong đó lao động đang làm việc trong nông thôn chiếm gần 70%, làm
việc trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 51%. Để đáp ứng nhu cầu nhân lực của một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại, cần phải chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu lao động trong
nông thôn (mục tiêu đến năm 2020 chỉ còn 30% lao động trong nông nghiệp) và đào tạo
nghề có sứ mạng rất lớn, góp phần rất quan trọng vào việc chuyển dịch này. Trong Nghị
quyết số 26-NQ/TW ngày 05-8-2008 của Ban chấp hành Trung ương (khoá X) về nông
nghiệp, nông dân và nông thôn có đề ra: “Giải quyết việc làm cho nông dân là nhiệm vụ ưu
tiên xuyên suốt trong mọi chương trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; bảo đảm hài
thiện đời sống cho gia đình .
9
Biện pháp nâng cao công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa
Thực tế ở Phú Đa hiện nay đang đặt ra rất nhiều khó khăn, thách thức phải giải quyết
trong quá trình phát triển. Trước hết, là việc sản xuất nông nghiệp, nhất là lúa, hoa màu,
nuôi trồng thuỷ sản phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, thời vụ nên rất bấp bênh, khả năng
chống chịu với thiên tai dịch bệnh kém..., cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp phát triển bền
vững chưa bảo đảm, từ hệ thống đê sông, đê biển, hệ thống thuỷ lợi từ công trình đầu mối
đến kênh mương máng, hệ thống thu hoạch, bảo quản cơ sở chế biến. Thiệt hại vật chất do
thiên tai, dịch bệnh hàng năm rất lớn. Có năm lên tới trên, dưới 1%GDP, tác động chủ yếu
đối với ngành nông, thuỷ sản. Cùng với thiên tai, lũ lụt có chiều hướng gia tăng trong mấy
năm gần đây do tác động của biến đổi khí hậu, dịch cúm gia cầm, dịch lỡ mồm long móng,
dịch lợn tai xanh... liên tiếp xảy ra.
Đây là vấn đề cốt lõi đối với dạy nghề cho lao động nông thôn, nhất là đối với nhóm
lao động cần phải chuyển sang làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp, công nghiệp. Nếu không
gắn được với việc làm sẽ dẫn đến việc người nông dân sẽ không hưởng ứng tham gia học
nghề nữa và nguồn lực xã hội sẽ bị lãng phí. Do đó, trong quá trình đào tạo nghề rất cần
thiết có sự kết hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp, hợp tác xã, các cơ sở sản xuất để họ một
mặt tham gia vào quá trình đào tạo; mặt khác có thể tạo cơ hội cho người học được tham gia
vào quá trình kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp, hợp tác xã từ khi còn học và sau khi
học nghề xong là có thể làm việc được ngay với nghề nghiệp của mình.
Một vấn đề khác là diện tích đất trồng lúa đang giảm mạnh trong khi dân số hàng năm
vẫn đều đặn tăng, tình trạng này diễn ra trong một thời gian khá dài, khiến cho nông dân rơi
vào tình trạng không có đất canh tác. Phần lớn số tiền đền bù mà người nông dân nhận được
chủ yếu được dùng vào việc mua sắm, xây dựng nhà ở, rất ít người dùng khoản tiền này để
đầu tư chuyển sang ngành nghề khác. Tình hình trên đã dẫn đến tình trạng số lao động dôi
hàng không trả được.
Một vấn đề nữa cần quan tâm là một số con em đến tuổi trưởng thành, lập gia đình
tách hộ, không đủ điều kiện làm nhà ở và không có nghề nghiệp gì ngoài nghề đánh bắt thuỷ
sản nên lại xuống thuyền đi làm ăn trên sông nước, làm cho số hộ dân thôn Định Cư tăng
lên so với số điều tra ban đầu. Số hộ làm nông do không có nghề nghiệp được đào tạo, khi
xảy ra mất mùa phải đi làm thuê với nhiều nghề nghiệp không ổn định .
Kết quả trong năm 2011 và 6 tháng 2012 đã phối hợp mở đào tạo nghề cho 480 lao
động.
Trong đó:
- May công nghiệp: 03 lớp gồm 150 lao động.
- Chăm sóc cây cảnh: 01 lớp gồm 80 lao động.
- Nghề thêu ren: 02 lớp gồm 110 lao động.
- Tổ chức tập huấn: 05 lớp gồm 150 lao động.
Hầu hết những người được đào tạo nghề và tham gia các lớp tập huấn ngắn hạn đều
tập trung vào lực lượng lao động nông thôn đang trực tiếp lao động sản xuất tại địa phương,
nội dung tập huấn chủ yếu là kỹ thuật nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi gia súc
gia cầm... Đây là cơ hội để cho lao động nông thôn tiếp cận với khoa học kỹ thuận để họ
vận dụng vào công việc của mình nhằm phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả nuôi trồng và
tăng thu nhập cho bản thân và gia đình.
Số liệu lao động qua đào tạo trong năm 2011 và 2012
Lĩnh vực đào tạo
Số
người
Số người đang áp
dụng kiến thức
vào công việc
Tỉ lệ %
Kỹ thuật
21
21
100
21
100
Xã hội
16
14
87.5
15
93.8
Nông nghiệp
45
45
Kết quả khảo sát cho thấy, hầu hết những người được đào tạo đã có kinh nghiệm thực
tiễn, kết hợp với kiến thức được học, họ đã vận dụng rất tốt vào công việc, kết quả mang lại
rất lớn và hiệu quả rất cao. Họ đều có nhu cầu muốn học tiếp để nâng cao kiến thức chuyên
môn của mình.
Qua thí điểm một số mô hình đào tạo nghề cho lao động vùng chuyên canh ở một số
địa phương cho thấy, kỹ năng nghề của người nông dân đã được nâng lên, do đó năng suất
lao động, chất lượng cây trồng và thu nhập đã tăng lên rõ rệt. Đặc biệt, trong quá trình đào
tạo, người nông dân còn được cung cấp những kỹ năng về hội nhập kinh tế, về các tiêu
11
Biện pháp nâng cao công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa
chuẩn an toàn, vệ sinh thực phẩm, bước đầu còn được trang bị cho người học những kiến
thức về khởi sự doanh nghiệp.
Những kết quả bước đầu này đã tạo động lực để thu hút những lao động nông thôn
khác trong thôn, làng và địa phương tham gia các khoá đào tạo nghề được tổ chức tại địa
bàn. Các doanh nghiệp, các cơ sở dạy nghề tham gia dạy nghề cho nông dân và lao động
nông thôn, không chỉ thuần tuý dạy nghề mà còn tư vấn, hướng dẫn người nông dân cách
thức tổ chức sản xuất kinh doanh, bảo đảm “đầu ra” hoặc là sản phẩm hoặc là tiếp nhận lao
động sau khi được học nghề. Tại những địa bàn nghèo, các doanh nghiệp ngoài việc hỗ trợ
kinh phí đào tạo nghề, còn hỗ trợ đầu tư các công trình xã hội, như trường học, xây dựng
đường liên thôn, liên bản…, góp phần xoá đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, xây
dựng nông thôn mới.
2.2.2.3. Về công tác giải quyết việc làm:
Cơ chế tạo việc làm cho người lao động đòi hỏi sự tham gia tích cực của cả 3 phía :
Nhà nước, người sử dụng lao động và của chính bản thân người lao động. Sao cho cơ hội
việc làm và mong muốn nguyện vọng được làm việc của người lao động gặp nhau trên thị
trường đúng lúc, đúng chỗ.
và giải quyết việc làm.
12
Biện pháp nâng cao công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa
Hầu hết các dự án hỗ trợ việc làm được triển khai trong các lĩnh vực chăn nuôi gia
súc, gia cầm, thuỷ hải sản, cải tạo môi trường, phát triển ngành nghề, làng nghề truyền
thống, dịch vụ…, tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập ổn định cho lao động trên địa bàn
toàn thị trấn. Thông qua các dự án vay vốn, nhận thức về việc làm, nghề nghiệp của nông
dân cũng có sự thay đổi. Từ chỗ trước đây trông chờ được vào công việc nhà nông thì nay
một bộ phận lao động nông thôn đã chủ động tìm hiểu, tự tạo việc làm cho chính mình và
giúp cho người khác có việc làm, thu nhập và gắn bó với đồng đất quê hương. Thông qua
các dự án, sản xuất phát triển, đã xuất hiện thêm nhiều điển hình lao động mới, các chủ cơ
sở sản xuất, trang trại nhỏ có thành tích sản xuất, kinh doanh giỏi, góp phần phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương
Để đẩy mạnh các hoạt động tư vấn về dạy nghề và việc làm cho lao động nông thôn, 2
năm qua địa phương đã tạo việc làm mới cho 570 người và xuất khẩu lao động 37 người,
giải quyết việc làm tại chỗ cho hàng nghìn lao động nữ góp phần nâng cao cuộc sống cho
lao động nông thôn cải thiện đời sống, tăng thu nhập trong thời gian nông nhàn.
Để góp phần giảm thiểu tỷ lệ lao động nông thôn không có việc làm hoặc thiếu việc
làm, thời gian tới, Đảng uỷ, HĐND, UBDN tiếp tục bám sát chỉ đạo các cấp, các đoàn thể
đồng thời tăng cường công tác thông tin tuyên truyền để người lao động có nhận thức đầy
đủ về các chủ trương, chính sách của Nhà nước về dạy nghề và giải quyết việc làm. Tiếp tục
các hoạt động hỗ trợ, trực tiếp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, mở rộng và nâng
cao hiệu quả cho vay từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, từ Ngân hàng Chính sách Xã hội
đối với các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ, các trang trại, các hộ gia đình có khả năng tạo việc
làm. Thực hiện có hiệu quả việc tạo việc làm cho lao động. Tiếp tục nhân rộng các mô hình,
điển hình nông dân làm kinh tế giỏi, thanh niên sản xuất - kinh doanh giỏi để giải quyết
được nhiều việc làm cho lao động ngay tại cơ sở, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã
TẠI THỊ TRẤN PHÚ ĐA
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
3.1.1. Mục tiêu tổng quát:
- Cụ thể hoá đề án 1956 của Thủ tướng chính phủ về đào tạo nghề cho lao động nông
thôn đến 2020 và tìm cách giải quyết việc làm cho lao động sau khi đã được đào tạo
nghề;mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo công ăn việc làm, chuyển đổi nghề
nghiệp cho số lao động dân thôn Định Cư và số lao động nông nhàn trong địa phương. Phấn
đấu đạt tiêu chí nông thôn mới theo Nghị quyết của Đảng uỷ thị trấn đề ra.
3.1.2. Mục tiêu cụ thể:
+ Phấn đấu năm 2012 đào tạo từ 300-350 lao động nông thôn đặc biệt ưu tiên khu vực
dân Định Cư.
+ Tăng cường tuyên truyền phổ biến các chính sách đào tạo nghề đến từng hộ dân.
+ Tìm hiểu nhu cầu thị trường và liên kết với một số doanh nghiệp làm hàng thủ công
để tổ chức đào tạo và thực hiện sản xuất tại thị trấn.
+ Tìm hiểu những ngành nghề phù hợp để bà con tận dụng được lợi thế tại địa phương
tự tổ chức sản xuất, nuôi trồng.
+ Kết hợp với các nhà máy, doanh nghiệp đào tạo và giới thiệu, tư vấn việc làm cho
bà con nông dân sau khi đã hoàn thành chương trình đào tạo.
3.2. CÁC BIỆN PHÁP
3.2.1. Đào tạo các nghề kỹ thuật và giới thiệu việc làm cho thanh niên nông thôn
tại nhà máy trên địa bàn.
Thuận lợi:
- Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các làng nghề ở Thừa Thiên Huế đang phát
triển, một số nhà máy rất cần công nhân, nên số lượng đầu vào là không hạn chế với điều
kiện đảm bảo tay nghề trong quá trình làm việc, do đó lao động có thể lựa chọn chỗ làm
thích hợp với khả năng của mình.
- Thu nhập ở các doanh nghiệp này tương đối ổn định phù hợp với nhu cầu chi tiêu tại
địa phương
Khó khăn:
nghiệp và phát triển nông thôn Phú Vang cần có chính sách; khoanh nợ đối với các hộ trước
đây nuôi tôm hiện nay không có khả năng chi trả.
- Đề xuất với Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện tạo điều kiện cho bà con sau khi
được đào tạo nghề vay vốn ưu đãi theo quy định của đề án 1956.
- Đề xuất UBND huyện bố trí kinh phí hỗ trợ cải tạo ao nuôi bằng nguồn vốn ngân
sách.
- Tạo điều kiện giao đất, chuyển đổi những diện tích trồng lúa không hiệu quả sang
làm ao nuôi cá.
3.2.3. Tổ chức đào tạo nghề và giải quyết việc làm tại chỗ, tăng thu nhập cho
nông dân.
Thuận lợi :
- Nông dân sau khi kết thúc vụ mùa thì thời gian nông nhàn khá nhiều, mặt khác tận
dụng các nguồn nguyên vật liệu sẵn có trong dân để tổ chức các lớp ĐTN tại chỗ như: Chăn
nuôi thú y, làm nấm, theu ren, làm nón lá... Ưu thế của việc tổ chức ĐTN và giải quyết việc
làm tại chỗ:
- Chi phí đầu tư ban đầu thấp
- Kỹ thuật không phức tạp, dễ làm.
- Thời gian thu hồi vốn nhanh (một chu kỳ khoảng 30-35 ngày ).
- Sản phẩm làm ra dễ tiêu thụ.
- Giá cả, và đầu ra tương đối ổn định.
- Tranh thủ được thời gian nông nhàn.
15
Biện pháp nâng cao công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa
- Diện tích sử dụng không lớn
- Giải quyết được việc làm cho nhiều trong gia đình.
Khó khăn :
Trong quá trình sản xuất, thu hoạch nếu gặp thời tiết không thuận lợi, địa phương bị
những nghệ nhân, người có tay nghề cao trong các làng nghề…
Bản thân người nông dân và lao động nông thôn là những đối tượng được thụ hưởng
chính sách cũng đã tích cực, ủng hộ chủ trương của Chính phủ, từ việc xác định được nhu
cầu học nghề của mình phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đến
việc tham gia đầy đủ các khoá đào tạo.
Để các hoạt động đào tạo nghề cho nông dân và lao động nông thôn thực sự hiệu quả,
tạo được sự đồng thuận cao của người dân, cần thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Thứ nhất, phải có sự “vào cuộc”mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị ở địa phương.
Nhận thức đúng về đào tạo nghề cho nông dân và lao động nông thôn là cơ hội để nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực cho địa phương, nâng cao chất lượng, năng suất lao động; góp
phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Thực tế thời gian vừa qua cho thấy, ở địa phương nào có sự quan tâm của cấp uỷ đảng, sự
chỉ đạo quyết liệt của chính quyền và sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã
hội… thì ở đó công tác dạy nghề cho nông dân và lao động nông thôn đạt được kết quả
mong muốn.
Thứ hai, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải sát với tình hình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước và từng địa phương, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh
doanh và có hiệu quả thiết thực. Thời gian qua, công tác đào tạo nghề cho lao động nông
thôn đã có những chuyển biến tích cực, đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước. Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng hiện có,
chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra và chưa gắn với nhu cầu sản xuất, kinh doanh, nhiều
trường hợp doanh nghiệp phải đào tạo lại mới có thể sử dụng được. Một số địa phương, nhu
cầu về công nhân kỹ thuật công nghiệp tại các huyện thị khá cao, trong khi ngành nghề đào
tạo cho lao động nông thôn của tỉnh lại thiên về kỹ thuật nông nghiệp. Có tỉnh, hệ thống các
khu công nghiệp phát triển nhanh, nhu cầu công nhân lành nghề về công nghiệp nặng tăng
nhưng tỉnh lại mở các lớp may công nghiệp, trồng cây cảnh, hoặc nuôi trồng thuỷ sản. Bên
cạnh đó, có tình trạng đúng chuyên môn đào tạo nhưng chất lượng nguồn nhân lực thấp
không đáp ứng được nhu cầu lao động của doanh nghiệp. Thực trạng đó đã gây ra tình trạng
vừa thừa, vừa thiếu không đáp ứng được nhu cầu lao động thực tế của địa phương. Nhiều
lao động đã được đào tạo nghề nhưng khi làm việc tại các doanh nghiệp, khu công nghiệp
kinh tế gia đình khó khăn, muốn học nghề để tìm kiếm, tự tạo việc làm ổn định cuộc sống )
- Cần ban hành chính sách khuyến khích DN tham gia dạy nghề (chi phí đào tạo được
tính trong chi phí giá thành; được miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc được trích
một phần thu nhập trước thuế để thực hiện đào tạo nghề).
2.2 Đối với cơ quan chức năng:
- Cần có cơ chế để các cơ sở, doanh nghiệp nhận lao động qua đào tạo và yêu cầu các
doanh nghiệp phải có kế hoạch tự đào tạo hoặc liên kết với các trường, trung tâm dạy nghề
để tổ chức đào tạo, sát hạch tay nghề và cấp chứng chỉ nghề cho số lao động chưa qua đào
tạo.
- Quy định một số nghề người hành nghề phải qua đào tạo có chứng chỉ , bằng cấp
mới được hành nghề (nhằm giúp người dân ý thức được học nghề thì mới để có cơ hội tìm
được việc làm ổn định và để nâng chất lượng nguồn nhân lực
Trong quá trình thực hiện,cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa
phương, các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp.Thực tế thời gian qua cho thấy, ở nơi nào có sự
phối hợp tốt giữa các đối tác này thì đào tạo nghề đạt được kết quả rất tích cực, người dân
có việc làm, năng suất lao động và thu nhập của người dân được nâng lên, giảm nghèo bền
vững.
18
Biện pháp nâng cao công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2011 và 6
tháng đầu năm 2012. Phương hướng và nhiệm vụ phát triển kinh tế của thị trấn Phú Đa.
2) Báo cáo kết quả hoạt động Hội nông dân thị trấn Phú Đa năm 2011 và 6 tháng đầu
năm 2012.
3) TS. Trần Thị Thu : Tạo việc làm cho lao động nữ , nhà xuất bản lao động và xã hội.
4) Luật dạy nghề năm 2006
1.2.2.
2.1.
2.1.1.
2.1.2.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
Lời cảm ơn
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Mục tiêu nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Cấu trúc báo cáo
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀVÀ GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
Nghề
1
1
2
2
2
2
2
3
Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn hiện nay
Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa
CHƯƠNG III: BIỆN PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI THỊ TRẤN PHÚ ĐA:
5
7
7
7
7
9
9
9
14
3.1.
PHƯƠNG HƯỚNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI THỊ TRẤN PHÚ ĐA:
14
3.1.1.
Mục tiêu tổng quát:
14
3.1.2.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ:
17
1.
Kết luận:
17
2.
Khuyến nghị
18
20
Biện pháp nâng cao công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm lao động nông thôn tại thị trấn Phú Đa
Tài liệu tham khảo
19
Mục lục
21
21