1
VIN hàn lâm KHOA HC Xã HI VIT NAM
Học VIN khoa học xã hội
Nguyễn Tuấn Minh
văn hóa kinh doanh hoa kỳ
và bài học kinh nghiệm đối với việt nam
luận án tiến sĩ kinh tế
Hà nội - 2013
2
VIN hàn lâm KHOA HC Xã HI VIT NAM
Học VIN khoa học xã hội
Nguyễn Tuấn Minh
văn hóa kinh doanh hoa kỳ
và bài học kinh nghiệm đối với việt nam
Chuyên ngành :
Mã số
:
Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc tế
62.31.07.01
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................9
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA KINH
DOANH ....................................................................................................................21
1.1. Khái quát về văn hóa kinh doanh ................................................................. 22
1.1.1. Định nghĩa văn hóa kinh doanh ................................................................22
1.1.2. Các lớp cấu thành của văn hóa kinh doanh ..............................................25
1.1.3. Các đặc trưng của văn hóa kinh doanh .....................................................29
1.2. Tầm quan trọng của văn hóa kinh doanh trong hoạt động kinh doanh
quốc tế .................................................................................................................... 33
1.3. Hai xu hƣớng nghiên cứu văn hóa kinh doanh ........................................... 39
1.3.1. Văn hóa công ty: Lý thuyết và mô hình của Edgar H. Schien .................40
1.3.2. VHKD quốc tế: Lý thuyết và mô hình so sánh của Richard Lewis .........45
CHƢƠNG II: VĂN HÓA KINH DOANH HOA KỲ VÀ TÍNH CÁCH CỦA
NGƢỜI MỸ TRONG KINH DOANH ..................................................................55
2.1. Về văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ .................................................................... 55
2.2. Những nhân tố tác động đến việc hình thành và phát triển VHKD Hoa
Kỳ............................................................................................................................ 57
2.3. Thực tiễn VHKD Hoa Kỳ và so sánh qua một số mô hình ........................ 79
2.3.1. Mô hình của Edward T. Hall ....................................................................80
2.3.2. Mô hình của Geert Hofstede.....................................................................85
2.3.3. Mô hình của Fons Trompenaars ...............................................................89
2.4. Các đặc trƣng tiêu biểu của VHKD Hoa Kỳ ............................................... 95
5
CHƢƠNG III: VĂN HÓA KINH DOANH VIỆT NAM- HOA KỲ: SO SÁNH
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ...........................................................................101
3.1. Văn hóa trong kinh doanh Việt Nam và Hoa Kỳ: góc nhìn lịch sử, kinh tế
và xã hội ............................................................................................................... 101
CSR
Corporate Social Responsibility
Trách nhiệm xã hội của công ty
EXIMBANK
Export and Import Bank
Ngân hàng xuất nhập khẩu Mỹ
FCPA
The U.S. Foreign Corrupt Practices Act
Đạo luật về tham nhũng của Hoa Kỳ
FDI
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
IDV
Individualism versus Collectivism
Chỉ số so sánh chủ nghĩa cá nhân/ chủ nghĩa tập thể
LTO
Long - Term Orientation
Định hướng dài hạn
Research and Development
Nghiên cứu và phát triển
RVS
Rokeach Value Survey
Hệ thống phân loại giá trị
TNC
Transnational Corporation
Công ty xuyên quốc gia
P- Time
Polychronic Time
Thời gian đa tuyến
DN
Doanh nghiệp
KH-CN
Khoa học công nghệ
KH-KT
Khoc học kỹ thuật
Bảng 1.1
Đặc tính doanh nhân trong ba loại hình văn hóa (Đơn tuyến – Đa tuyến –
Phản hồi) của Lewis
48
Bảng 2.1
So sánh của Hall về đặc tính doanh nhân Hoa Kỳ (Văn hóa đơn tuyến)/
Châu Á (Văn hóa Đa tuyến)
84
Bảng 2.2
So sánh của Hofstede về đặc tính doanh nhân Hoa Kỳ và một số quốc gia
châu Á
89
Bảng 3.1
Các chiều so sánh đặc tính doanh nhân Hoa Kỳ và Việt Nam
109
Bảng 3.2
Khác biệt đặc tính văn hóa kinh doanh Việt Nam và Hoa Kỳ
(Dựa trên mô hình của Hall, Hofstede, Trompenaars ,và Lewis)
120
DANH MỤC HÌNH VẼ
hiện của cái chung và cái riêng, của những đặc tính chung và những đặc trưng riêng
của văn hóa kinh doanh quốc tế. Mỗi một quốc gia đều có cách thức, tập quán kinh
doanh riêng của mình; điều hiển nhiên đó là do mỗi quốc gia đều có nền văn hóa
với những đặc tính riêng biệt, không giống nhau. Đồng thời khi giao lưu hội nhập
quốc tế trong tiến trình toàn cầu hóa của nhân loại, những đặc tính chung, giống
nhau sẽ phát huy tác dụng. Sự dung hòa những đặc tính chung và riêng trong văn
hóa kinh doanh của quốc gia dân tộc với thế giới, sẽ tạo nên những điều kiện, cơ hội
to lớn cho các nước thu được lợi ích trong kinh doanh toàn cầu; ngược lại, cũng sẽ
gây nên nhiều thách thức to lớn, nếu không biết vượt qua, nhiều nước sẽ không thể
vượt qua bẫy nghèo nàn và lạc hậu.
Với mục tiêu đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp, Việt Nam đang
không ngừng nỗ lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, mở rộng
hợp tác kinh tế quốc tế, nhất là với các đối tác lớn.
Trong các thị trường kinh tế chiến lược của Việt Nam hiện nay, Mỹ là thị
trường quan trọng bậc nhất. Kim ngạch thương mại Việt Nam và Mỹ tăng nhanh, từ
gần 1,6 tỉ đô-la năm 2001 lên hơn 21,5 tỉ đô-la năm 2011 [102]. Đầu tư của Mỹ vào
Việt Nam cũng khá lớn, với 480 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký là 12,8 tỉ đô la, xếp
10
thứ 7 trong số các nhà đầu tư nước ngoài [42, tr.24] (Theo số liệu của phía Mỹ, đầu
tư của Mỹ là 15,4 tỷ, đứng thứ 5 trong danh sách các nhà đầu tư [103]).
Những số liệu này cho thấy, Hoa Kỳ có một vai trò rất quan trọng trên con
đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
(Tham khảo thêm phụ lục 1, phụ lục 2).
Việt Nam đã có thể xuất nhập khẩu nhiều hơn, hiệu quả hơn, hợp tác kinh
doanh với Hoa Kỳ tốt hơn, nhưng sự hợp tác kinh tế của Việt Nam với Hoa Kỳ vẫn
chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước. Có nhiều nguyên nhân hạn chế tiềm
lực hợp tác phát triển kinh tế giữa hai bên, và một trong những nguyên nhân này
và văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ nói riêng, đã được nghiên cứu sâu và có tính khái
quát cao ở nước ngoài. Do vậy, luận án trước hết sẽ trình bày tổng quan các công
trình nghiên cứu cụ thể về văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ, thực tiễn biểu hiện của văn
hóa kinh doanh Hoa Kỳ; và các công trình nghiên cứu có tính khái quát hóa cao về
mặt lý thuyết và mô hình trong nghiên cứu văn hóa kinh doanh quốc tế, trong đó có
Hoa Kỳ. Việc khái quát như vậy sẽ giúp cho việc đánh giá, đối chiếu, so sánh sự
khác biệt trong văn hóa kinh doanh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ phù hợp hơn. Từ đó
mở ra hướng nghiên cứu và cách tiếp cận mang tính thực tiễn cho luận án.
2.1. Nghiên cứu trong nƣớc
Văn hóa kinh doanh luôn được xem là một nhân tố quan trọng trong kinh
doanh, cũng như trong sự nghiệp phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Chính vì vậy,
việc nghiên cứu văn hóa kinh doanh (VHKD) đã được các nhà khoa học, các nhà
quản lý và các doanh nhân đặc biệt quan tâm . Tại Việt Nam đã có nhiều công trình
khoa học nghiên cứu về vấn đề văn hóa kinh doanh , tuy nhiên chưa có nhiều công
trình mang tính nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về văn hóa kinh doanh quốc
tế, nhất là so sánh văn hóa kinh doanh của Việt Nam với các quốc gia khác
, trong
đó có Hoa Kỳ.
Các công trình khoa học tập trung chủ yếu vào nghiên cứu văn hóa kinh doanh
của Việt Nam , đặc biệt liên quan đến ba vấn đề sau: (1) Nghiên cứu cơ sở lý luận
của VHKD; (2) Phân tích hiện trạng VHKD Việt Nam và (3) Phân tích ảnh hưởng
của cơ chế chính sách, môi trường văn hóa xã hội đối với doanh nhân, doanh nghiệp
Việt Nam, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm khai thác các nhân tố văn hóa trong
hoạt động kinh tế, kinh doanh của Việt Nam. Ngoài ra, trong các tài liệu về nghiên
12
13
một bức tranh chung về VHKD Việt Nam. Tuy nhiên, để đánh giá được những xu
hướng biến đổi của VHKD Việt Nam trong tương lai sẽ tiếp tục cần phải có những
điều tra qui mô hơn, hệ thống hơn, và tập trung hơn.
Bảng 1. Cấu trúc VHKD Việt Nam
Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Nguồn: Phùng Xuân Nhạ (2011). “Nhân cách doanh nhân và văn hóa kinh doanh ở Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới và hội nhập”. NXB ĐHQG Hà Nội
14
Về phân tích ảnh hưởng của cơ chế, chính sách, môi trường văn hóa xã hội
tới doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam và đề xuất các biện pháp nhằm khai
thác các nhân tố văn hóa trong hoạt động kinh tế, kinh doanh của Việt Nam
Hướng nghiên cứu này cũng được khá nhiều tác giả tập trung chú ý, trong đó
nổi bật là các nghiên cứu của Phùng Xuân Nhạ (2006, 2010); Nguyễn Mạnh Quân
(2009); Đỗ Minh Cương (2009); Lê Quý Đức (2005); Nguyễn Quang Vinh (2002);
Vũ Quốc Tuấn (2001); Nguyễn Anh Dũng (2000); Đỗ Huy (1996). Các nghiên cứu
của các tác giả này đã giới thiệu và đề xuất được một số cách thức, phương pháp cải
thiện môi trường kinh doanh, phát huy vai trò các nhân tố của VHKD Việt Nam,
cũng như bước đầu chỉ ra những hướng và giải pháp cụ thể để phát triển VHKD
Việt Nam.
Về nghiên cứu về VHKD Hoa Kỳ , so sánh VHKD Hoa Kỳ với VHKD Việt
Nam
Hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu theo hướng này, có
một số công trình nêu vấn đề, nhưng cũng chỉ đề cập ở một số khía cạnh và mang
2.1. Nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Cùng với các công trình nghiên cứu trong nước, có thể thấy có khá nhiều công
trình nghiên cứu của nước ngoài về văn hóa kinh doanh quốc tế nói chung, và văn
hóa kinh doanh Hoa Kỳ nói riêng. Các công trình này có tính chuyên sâu, và khái
quát rất cao. Phần dưới đây sẽ tổng quan lại các công trình nghiên cứu nước ngoài
về văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ theo các hướng sau: (1) Nghiên cứu thực tiễn biểu
hiện của văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ; (2) Về xây dựng các cơ sở lý thuyết và mô
hình nghiên cứu văn hóa kinh doanh quốc tế, trong đó có Hoa Kỳ; (3) Văn hóa kinh
doanh Hoa Kỳ - Việt Nam.
Hướng nghiên cứu về thực tiễn biểu hiện văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ
Các công trình nghiên cứu theo hướng này, như cuốn “Working With
Americans: How to Build Profitable Business Relationships” của Allyson StewartAllen and Lanie Dansnow (2002) (NXB Prentice Hall), cuốn “Americans at Work:
A Guide to the Can-Do People” của Craig Storti (2004) (NXB Nicholas Brealey
Publishing), cuốn “Trust and Honesty: America's Business Culture at a Crossroad”
của Tamar Frankel (2008) (NXB Oxford University Press), hay cuốn “When we are
the foreigners: What Chinese think about working with Americans”, của Orlando R.
16
Kelm, John N. Doggett, Haiping Tang (2011), NXB CreateSpace v.v., đã đưa ra
những minh chứng cho sự khác biệt giữa tính cách của người Mỹ, văn hóa kinh
doanh Mỹ, với văn hóa kinh doanh của các quốc gia khác. Các nghiên cứu trên đã
trình bày một cách khái quát những đặc tính biểu hiện chung trong văn hóa kinh
doanh của Hoa Kỳ, như các giá trị, niềm tin, nghi thức, thậm chí là “ngôn ngữ”
trong kinh doanh của người Mỹ v.v. Từ việc nêu lên thực tiễn biểu hiện của văn hóa
kinh doanh Hoa Kỳ, các tác giả đã đưa ra những gợi ý trong việc làm thế nào để xây
dựng các mối quan hệ và làm ăn giao dịch với người Mỹ. Sự hiểu biết, đánh giá
đúng các hành vi, cách cư xử trong kinh doanh của người Mỹ là rất quan trọng cho
sự thành công khi làm việc với người Mỹ. Các nghiên cứu này có thể được xem như
doanh giữa hai nước, vẫn còn ít về số lượng công trình nghiên cứu của các học giả
nước ngoài, có thể lý giải do Việt Nam tham gia vào toàn cầu hóa và hội nhập quốc
tế chưa lâu. Mặc dù vậy, đã có một số cuốn sách viết về kinh doanh tại Việt Nam,
có so sánh phần nào văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ và Việt Nam, nhưng chủ yếu
mang tính giới thiệu khái quát. Như cuốn“Vietnam: The New Asian Dragon" (1st
edition, Castlebury Press, 2007) của Kenneth Pounds; “Doing Business in Vietnam”
(Prima Publishing, 1995) của Robinson; “Doing business in the New Vietnam”
(Prentice Hall, 1995) của Engholm v.v.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài có ý nghĩa tham khảo, đối
chiếu, so sánh hết sức cần thiết cho đề tài. Các công trình kể trên cũng đã góp phần
quan trọng cho việc gợi ý suy nghĩ, nêu phương pháp tiếp cận, và thôi thúc tác giả
cần phải đi sâu tìm hiểu văn hóa kinh doanh của Mỹ, có so sánh với văn hóa kinh
doanh của Việt Nam, trên cơ sở đó, đưa ra những đề xuất thiết thực cải thiện nhận
thức về văn hóa kinh doanh, tạo thêm điều kiện cho các doanh nhân, các tổ chức
kinh doanh của Việt Nam có thể giao thoa với hoạt động kinh tế Mỹ, giảm thiểu
những rủi ro kinh doanh do thiếu hiểu biết về văn hóa Mỹ, cũng như cách thức làm
ăn của người Mỹ, trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và thực hiện đẩy nhanh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Đây chính là sự khác biệt của đề tài
so với các công trình đã được công bố về văn hóa kinh doanh Mỹ và khả năng gợi
mở đối với Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục dích nghiên cứu
18
Mục đích của luận án là nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn
về VHKD Hoa Kỳ để làm rõ những đặc tính tiêu biểu của VHKD Hoa Kỳ. Trên cơ
sở đó, so sánh và tìm ra những nét tương đồng và khác biệt giữa VHKD Hoa Kỳ và
Việt Nam; từ đó đưa ra một số bài học kinh nghiệm cho các nhà quản lý, doanh
cứu có tính lịch sử văn hóa kinh doanh ở một số nơi cần thiết.
- Về mặt không gian: Phạm vi nghiên cứu của luận án là Hoa Kỳ và Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Trong việc nghiên cứu luận án, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin được sử dụng làm cơ sở phương pháp
luận nghiên cứu.
- Phương pháp lôgic, phân tích, tổng hợp, và so sánh được sử dụng trong luận
án để phân tích, đánh giá các hệ thống lý thuyết và thực tiễn VHKD Hoa Kỳ của các
học giả hàng đầu về văn hóa kinh doanh, qua các tiêu chí và hệ thống đánh giá
VHKD, xu hướng phát triển của chúng.
- Phương pháp thống kê được sử dụng để phân tích, tổng hợp các dữ liệu liên
quan đến VHKD của các học giả được nêu và kết quả điều tra.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành như khoa học quản lý, kinh tế, lịch sử, xã
hội học, văn hóa kinh doanh, được sử dụng để làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên
cứu.
- Phương pháp điều tra: được thực hiện bằng bảng hỏi với một định hướng và
số lượng nhất định để làm rõ hơn vấn đề VHKD Hoa Kỳ, có so sánh với VHKD
Việt Nam.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: trong quá trình thực hiện luận án, tác giả kết
hợp việc thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, với việc trao đổi lấy ý kiến các
chuyên gia, các nhà quản lý, các doanh nhân am hiểu về VHKD Hoa Kỳ để kiểm
nghiệm kết quả nghiên cứu của mình.
6. Những đóng góp của đề tài
Với việc nghiên cứu văn hóa kinh doanh của Mỹ, luận án có một số đóng góp
như sau:
- Thứ nhất, khái quát và hệ thống hóa một cách khoa học và khách quan những
vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu VHKD quốc tế, VHKD Hoa Kỳ, trên cơ sở
đó làm rõ những đặc tính tiêu biểu của văn hóa kinh doanh Hoa Kỳ trên khía cạnh
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ VĂN HÓA KINH DOANH
Với tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang phát triển mạnh
mẽ, các mối quan hệ kinh tế và kinh doanh quốc tế ngày một được mở rộng và đưa
lại nhiều lợi ích to lớn cho các bên tham gia.
Mặc dù vậy, thực tế phát triển kinh doanh và trao đổi thương mại quốc tế cũng
cho thấy, nhiều cơ hội hợp tác kinh doanh còn bị hạn chế do các nước chưa vượt
qua được những khác biệt về văn hóa dẫn đến những “cú sốc văn hóa”, những “va
chạm giữa các nền văn minh” trong tiến trình hội nhập quốc tế của mình.
Có thể cho rằng, mỗi một quốc gia với lịch sử hình thành và phát triển của
mình đều có kinh nghiệm, tập quán kinh doanh riêng, do mỗi quốc gia đều có nền
văn hóa, văn hóa kinh doanh với những đặc tính riêng biệt, không giống nhau.
Nhưng các nền văn hóa đó cũng có những nét chung, phổ quát; sự dung hòa những
đặc tính chung và riêng trong văn hóa và văn hóa kinh doanh của quốc gia dân tộc
với thế giới, sẽ tạo nên những điều kiện, cơ hội cho các nước thu được lợi ích trong
kinh doanh toàn cầu; ngược lại, nếu không có được sự dung hòa sẽ gây nên nhiều
thách thức và cản trở to lớn.
Do vậy, càng hội nhập kinh doanh quôc tế, càng phải có nhiều tri thức hơn về
văn hóa kinh doanh của những nơi chúng ta muốn mở rộng hợp tác kinh doanh
.
Chính vì vậy , việc nghiên cứu văn hóa kinh doanh và so sánh văn hóa kinh doanh ,
để có thể hội nhập thuận lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng. Tìm được sự dung hợp
cứ thế liên tục phát triển đi lên. Trong khi đó, ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ,
23
từ văn hóa bào gồm hai từ “văn” và “hóa”. “Văn” để chỉ cái đẹp của con người về
mặt nhân cách, trí tuệ, tri thức. Còn “hóa” để chỉ việc cảm hóa, giáo dục con người
trong đời sống xã hội thông qua cái “văn” (cái đẹp, cái tốt, cái đúng). Như vậy, từ
gốc văn hóa của cả phương Tây và phương Đông đều có nghĩa chung căn bản là sự
vun trồng, giáo hóa nhân cách con người ngày càng phát triển và thích nghi với môi
trường sống.
Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, từ cái gốc chung
quan niệm về văn hóa này, đã xuất hiện rất nhiều cách diễn giải và cách hiểu khác
nhau. Đây chính là nguồn gốc của những khó khăn khi cần có một định nghĩa thống
nhất về văn hóa, khi thuật ngữ là thống nhất (“Cultus”), nhưng định nghĩa (định rõ,
chính xác, không khó hiểu về nội dung của thuật ngữ) lại rất khó thống nhất, do nội
hàm phức tạp của bản thân “văn hóa”.
Trong rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, có một định nghĩa kinh điển
được nhiều người chấp nhận và phát triển thêm, đó là của Edward Tylor (1871):
"Văn hoá là tổng thể phức hợp bao gồm kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức,
luật pháp, thói quen và bất kỳ năng lực, hay hành vi nào khác mà mỗi một cá nhân
với tư cách là thành viên của xã hội đạt được".
Chủ tịch Hồ Chí Minh (1943) cũng đã xem xét văn hóa với nghĩa rất rộng của
nó. Người cho rằng, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài
người tạo ra trong tiến trình lịch sử phát triển của mình: “Vì lẽ sinh tồn, cũng như
mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ , chữ
viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho
sinh hoạt hàng ngày về mặc , ăn, ở và các phương thức sử dụng . Toàn bộ những
sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương
thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích
nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa kinh doanh, và chưa có một định nghĩa thống
nhất nào về văn hóa kinh doanh.
Từ đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, đã bắt đầu xuất hiện các nghiên cứu về văn
hóa kinh doanh, như của Harrison (1972), hay Handy (1978) .v.v.. Các nghiên cứu
này gắn hoạt động kinh doanh với doanh nghiệp, và xem xét VHKD dưới lăng kính
văn hóa doanh nghiệp hay văn hóa tổ chức, do vậy đã hình thành nên một xu hướng
nghiên cứu VHKD đơn thuần dưới góc độ là văn hóa doanh nghiệp. Tuy nhiên từ
25
cuối những năm 1980 trở lại đây, các nghiên cứu về VHKD, như của Geert
Hofstede (1980, 2001, 2005, 2010); Charles M. Hampden-Tuner and Fons
Trompenaars (1997, 2000, 2004) và của Richard D.Lewis (1996, 1999, 2006)…, đã
nhìn nhận kinh doanh không chỉ là hoạt động liên quan đến doanh nghiệp, mà còn
liên quan tới mọi thành viên trong xã hội, do vậy VHKD đã được xem xét trên bình
diện rộng hơn, mang tầm quốc gia, còn văn hóa doanh nghiệp chỉ là một bộ phận
trong VHKD. Xu hướng này đã trở thành xu hướng chủ đạo trong nghiên cứu
VHKD hiện nay.
Với cách tiếp cận về VHKD theo hướng nghiên cứu phổ biến hiện nay, cũng
như dựa trên định nghĩa khái quát về văn hóa ở phần trước, chúng tôi cho rằng: Văn
hoá kinh doanh là một hệ thống các biểu trưng cụ thể về vật chất, các giá trị, các
chuẩn mực, các quan niệm và các khuôn mẫu qui định hành vi, hay cách ứng xử
trong hoạt động kinh doanh của các thành viên trong một cộng đồng, hay một xã
hội nhất định.
Hệ thống này được chia sẻ và phổ biến rộng rãi giữa các thế hệ thành viên
trong một quốc gia, một khu vực, hay một doanh nghiệp, như một chuẩn mực để
nhận thức, tư duy, cảm nhận và hành động trong mối quan hệ với các vần đề sản
xuất kinh doanh mà các thành viên phải đối mặt. Văn hoá kinh doanh không chỉ tạo
ra tiêu chí cho cách thức kinh doanh hàng ngày, mà còn tạo ra những khuôn mẫu