Thành phần loài thực vật ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) trên núi đá vôi khu vực suối Cá thần xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa - Pdf 31

1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐỖ HÙNG SƠN

THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT CÓ HOA TRÊN
NÚI ĐÁ VÔI Ở SUỐI CÁ THẦN XÃ CẨM LƯƠNG
HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGHỆ AN, 2013


2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐỖ HÙNG SƠN

THÀNH PHẦN LOÀI THỰC VẬT CÓ HOA TRÊN
NÚI ĐÁ VÔI Ở SUỐI CÁ THẦN XÃ CẨM LƯƠNG
HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HÓA

Chuyên ngành Thực vật
Mã số: 60.42.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM HỒNG BAN

Tra
ng
Mở đầu
1
Chương 1. Tổng quan tài liệu
3
1.1. Nghiên cứu về đa dạng thực vật trên thế giới
3
1.2. Nghiên cứu đa dạng phân loại hệ thực vật ở Việt Nam
5
1.3. Nghiên cứu đa dạng thực vật tên núi đá vôi ở Việt Nam
9
1.4. Nghiên cứu đa dạng về phổ dạng sống của hệ thực vật
10
Chương 2. Điều kiện tự nhiên và xã hội khu vực nghiên cứu
13
2.1. Một số đặc điểm tự nhiên – xã hội của huyện Cẩm Thủy
13
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
13
a. Vị trí địa lí
13
b. Địa hình – địa chất
14
c. Khí hậu thủy văn
14


5
2.1.2. Kinh tế văn hóa xã hội

3.4.2. Phương pháp thu mẫu ngoài thiên nhiên
22
3.4.3. Xử lí và trình bày mẫu
23
3.4.4. Xác định và kiểm tra tên khoa học
23
3.4.5. Xây dựng bảng danh lục thực vật
24
3.4.6. Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật
25
+ Đánh giá đa dạng các taxon trong ngành
25
+ Đánh giá đa dạng loài của các họ
25
+ Đánh giá đa dạng loài của các chí
25
3.4.7. Phương pháp đánh giá đa dạng về dạng sống
25
3.4.8. Phương pháp đánh giá về giá trị tài nguyên và mức độ bị đe dọa
26
Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
27
4.1. Đa dạng về thành phần loài
27


7
4.2. Đa dạng về bậc họ
45
4.3. Đa dạng về bậc chi

Cryptophytes (Cr) - Cây có chồi ẩn


8
Th

Thérophytes (Th) - Cây chồi một năm

2. Công dụng
M

Cây làm thuốc

T

Cây cho gỗ

Or

Cây làm cảnh

Oil

Cây lấy tinh dầu

F

Cây ăn được

K


44
với Xuân Liên.
Bảng 5.

Thống kê 10 họ nhiều loài ở suối cá thần Cẩm Lương

Bảng 6.

Thống kê các chi đa dạng nhất của thực vật có hoa ở

45
46
Suối cá thần Cẩm Lương
Bảng 7.

Thống kê các dạng sống của các loài thực vật có hoa ở

47
Suối cá thần Cẩm Lương.
Bảng 8.

Thống kê các giá trị sử dụng của các loài thực vật suối cá thần

49
Cẩm Lương
Bảng 9.

Thống kê các loài bị đe dọa ở trên núi đá vôi suối cá thần


không những thế, thực vật còn có ý nghĩa quan trọng trong điều hòa lượng nước ngầm,
điều hòa khí hậu.
Việt nam nằm trong khu vực nhiệt đới châu Á, nơi có hệ thực vật phong phú đa
dạng. Với diện tích 330.000 km2 đến nay đã tìm ra khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao.
Tuy nhiên con số này còn khác xa so với thực tế vì còn rất nhiều loài chưa được biết
đến và chưa được thống kê đầy đủ.
Ngày nay, do tác động mạnh mẽ của nền công nghiệp tiên tiến, nhân loại đã tiến
hành khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung và nguồn tài nguyên trên núi đá
vôi nói riêng suy giảm một cách nhanh chóng. Điều này đã và đang làm ảnh hưởng xấu
đến môi trường sinh thái, nhiều loài trước đây khá phổ biến, nay trở nên cạn kiệt và
khu phân bố của chúng bị thu hẹp đáng kể.
Cẩm Thủy là một huyện miền núi bán sơn địa gồm 19 xã và 01 thị trấn. Trong
đó xã Cẩm Lương là một xã miền núi cao, nằm trong trương trình 135 của chính phủ.
Tạo hóa đã ban tặng cho người dân nơi đây dòng suối tiên với những con cá thần. Bên
cạnh đó xã Cẩm Lương hiện còn đang giữ được nguyên vẹn hệ thống rừng nguyên
sinh, với những loài động vật, thực vật đặc trưng của vùng nhiệt đới. Hệ thực vật nơi
đây, nhất là hệ thực vật trên núi đá vôi đã góp phần quan trọng trong việc tạo nguồn
sinh thủy cho đàn cá thần bí.
Việc bảo vệ hệ thực vật rừng đầu nguồn nói chung, hệ thực vật kề ngay bên suối
cá nói riêng là công việc hết sức cần thiết. Bởi nguồn tài nguyên thực vật trên núi đá
vôi nếu mất đi thì không bao giờ phục hồi, phát triển lại được như ban đầu. Và như thế,


12
nguồn tài nguyên trong hệ sinh thái này sẽ bị suy giảm, quỹ gen tự nhiên bị nghèo kiệt
làm mất đi tính đa dạng di truyền trong hệ sinh thái.
Vì vậy, việc nắm vững những đặc trưng cơ bản của hệ thực thực vật như lập
danh lục loài, tìm hiểu phổ dạng sống, các yếu tố địa lý, giá trị sử dụng để khai thác và
bảo vệ nguồn tài nguyên thực vật hợp lí, theo hướng phát triển lâu bền là một việc làm
hết sức cần thiết.

ước về đa dạng sinh vật và bảo vệ chúng. Từ đó nhiều hội thảo được tổ chức để thảo
luận và nhiều quấn sách mang tính chất chỉ dẫn ra đời. Năm 1990 WWF đã cho xuất
bản quấn sách nói về tầm quan trọng về đa dạng sinh vật (The importance ofbiological
diversity) [Theo 45], hay IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới
(World conservation strategy) Wri, IUCN and WWF đưa ra chiến lược sinh vật toàn
cầu (Global biological strategy) [Theo 47], Năm 1991 Wri, Wcu, WB, WWF xuất bản
cuốn “bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới” (Conserving the World's biological diversity)
[Theo 47], hoặc IUCN, UNEP và WWF xuất bản cuốn “ Hãy quan tâm tới trái đất”
(Caring for the earth) [Theo 45]. Cùng năm, Wri, IUCN và UNEP xuất bản cuốn
“Chiến lược đa dạng sinh vật và chương trình hành động” [Theo 45]; tất cả cuốn sách
đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền
tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai.


14
Năm 1992 – 1995 WCMC công bố một cuốn sách tổng hợp “Đánh giá đa dạng
sinh vật toàn cầu” các tư liệu về đa dạng sinh vật của các nhóm sinh vật khác nhau các
vùng khác trên toàn thế giới (Global biodiversity assessment) làm cơ sở cho việc bảo
tồn chúng có hiệu quả [Theo 45].
Bên cạnh đó, hàng ngàn tác phẩm, những công trình khoa học khác nhau ra đời
và hàng ngàn cuộc hội thảo khác nhau được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, về
phương pháp luận và thông báo các kết quả đã đạt được ở khắp mọi nơi trên toàn thế
giới. Nhiều tổ chức quốc tế hay khu vực được nhóm họp tạo thành mạng lưới phục vụ
cho việc đánh giá bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học.
Theo thời gian, con người ngày càng tích lũy thêm hiểu biết của mình về thế
giới thực vật phong phú xung quanh. Những công trình mô tả đầu tiên về thực vật xuất
hiện ở Ai Cập cổ đại cách đây hơn (3.000 năm TCN) [Theo 44] và Trung Quốc cổ đại
(2.200 năm TCN) sau đó là ở Hy Lạp cổ và La Mã cổ cũng xuất hiện hàng loạt các tác
phẩm về thực vật.
Théophraste (371 - 286 TCN) là người đầu tiên đề xướng ra phương pháp phân loại

(1699 - 1777) và Decandol (1778 - 1836) đã mô tả được 161 họ và đưa phân loại trở
thành một môn khoa học. Robert Brown(1773 - 1858) đã chia thực vật thành 2 nhóm
đó là hạt trần và hạt kín [Theo 44].
Bước sang thế kỷ XIX việc nghiên cứu các hệ thực vật đã thực sự phát triển
mạnh mẽ ở tất cả các quốc gia. Phân loại học ngày càng đi sâu nghiên cứu bản chất của
sinh vật. Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị các cuốn thực vật chí lần lượt ra đời :
Thưc vật chí Hồng Công, thực vật chí Anh (1869), thực vật chí Ấn Độ 7 tập (1872 1897), thực vật chí Vân Nam (1977), thực vật chí Malayxia (1922 - 1925), thực vật chí
Trung Quốc, thực vật chí Liên Xô, thực vật chí Australia, thực vật chí Thái Lan...
Đến năm 1993, Watters và Hamilton đã thống kê được trong các tác phẩm
nghiên cứu thì trong suốt 2 thế kỷ qua đã có 1,4 triệu loài thực vật đã được mô tả và đặt
tên. Cho đến nay vùng nhiệt đới đã xác định được khoảng 90.000 loài, trong đó vùng
ôn đới Bắc Mĩ và Âu – Á có 50.000 loài được xác định [36].
1.2. Nghiên cứu đa dạng phân loại hệ thực vật ở Việt Nam


16
Ở Việt Nam lịch sử phát triển môn phân loại thực vật diễn ra chậm hơn so với
các nước khác. Thời gian đầu chỉ có các nhà nho, thầy lang sưu tập các cây có giá trị
làm thuốc chữa bệnh như Tuệ Tĩnh (1623 - 1713) trong 11 quyển “Nam dược thần
hiệu” đã mô tả được 759 loài cây thuốc, Lê Quý Đôn (thế kỷ XVI) trong “Vân Đài loại
ngữ” 100 cuốn đã phân ra cây cho hoa, quả, ngũ cốc…Lê Hữu Trác (1721 - 1792) dựa
vào bộ “Nam dược thần hiệu” đã bổ sung thêm 329 vị thuốc mới trong sách “Hải
Thượng Y tôn tâm linh” gồm 66 quyển. Ngoài ra trong tập “Lĩnh nam bản thảo” ông đã
tổng hợp được 2.850 bài thuốc chữa bệnh [Theo 12].
Đến thời kì Pháp thuộc tài nguyên rừng nước ta còn rất phong phú và đa dạng,
thu hút nhiều nhà khoa học phương Tây nghiên cứu. Do đó, việc phân loại thực vật
được đẩy mạnh và nhanh chóng. Điển hình như các công trình của Loureiro năm 1790
“Thực vật ở Nam Bộ” ông đã mô tả gần 700 loài cây [Theo 44].
Gần đây phải kể đến bộ Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam do
Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960 - 1997) cùng với nhiều tác giả khác. Đến nay

Đình Đại, Phan Kế Lộc chủ biên (1984) [2]; “Danh lục thực vật Phú Quốc” của Phạm
Hoàng Hộ (1985) công bố 793 loài thực vật có mạch trong một diện tích 592 km 2 [20];
Nguyễn Nghĩa Thìn (1996) cùng các cộng sự với các công trình: “Tính đa dạng thực
vật Cúc Phương” đã công bố 1.944 loài thực vật bậc cao [26]; Phan Kế Lộc, Lê Trọng
Cúc (1997) đã công bố 3.858 loài thuộc 1.394 chi, 254 họ trong cuốn “Thực vật Sông
Đà” [29]; Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2.024 loài
thực vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sa Pa - Phan Si Pan
[37]; Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô công bố cuốn "Đa dạng sinh học khu hệ Nấm
và Thực vật ở Vườn Quốc gia Bạch Mã" (2003) [41]; Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn
Thanh Nhàn (2004) [45] đã công bố cuốn “Đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia Pù
Mát”. Nguyễn Nghĩa Thìn (2006) công bố cuốn Đa dạng hệ thực vật ở khu bảo tồn
thiên nhiên Na hang [47]. Đó là những kết quả nghiên cứu trong nhiều năm các tác giả,
nhằm phục vụ cho công tác bảo tồn của các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn ở Việt
Nam.


18
Dựa trên những công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới đã công bố
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã thống kê toàn bộ hệ thực vật Việt Nam bao gồm 11.373
loài thực vật bậc cao trong đó có 10.580 thực vật bậc cao có mạch [36]. Lê Trần Chấn
(1999) với trong công trình “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam” đã
công bố 10.440 loài thực vật [10].
Trên cơ sở các công trình nghiên cứu trên để phục vụ cho công tác bảo tồn nguồn
gen thực vật từ năm 1996 các nhà thực vật Việt Nam đã cho xuất bản cuốn “Sách đỏ Việt
Nam” phần thực vật đã mô tả 356 loài thực vật quý hiếm ở Việt Nam có nguy cơ tuyệt
chủng, được tái bản và bổ sung năm 2007 tổng số lên 464 loài thực vật, tăng 108 loài đang
bị đe dọa ngoài thiên nhiên [7].
Hiện nay, các nhà khoa học đang đi theo hướng là nghiên cứu các họ thực vật
dưới dạng thực vật chí các công trình như: Euphorbiaceae của Nguyễn Nghĩa Thìn
(1999,2007) [38],[ 48], Annonaceae của Nguyễn Tiến Bân (2000) [4], Lamiaceae của

(1992) về cấu trúc hệ thực vật Cúc Phương; Lê Trấn Chấn, Phan Kế Lộc, Nguyễn
Nghĩa Thìn, Nông Văn Tiếp (1994) về đa dạng hệ thực vật Lâm Sơn(Hòa Bình).
Đó là những kết quả nghiên cứu trong nhiều năm các tác giả, nhằm phục vụ cho
công tác bảo tồn của các Vườn Quốc gia và Khu bảo tồn ở Việt Nam.
1.3. Nghiên cứu đa dạng thực vật trên núi đá vôi ở Việt Nam
Việt Nam có diện tích rừng và rừng khoảng 19.164.000ha. Trong đó diện tích
núi đá vôi 1.152.500 ha, chiếm 6,01% tổng diện tích đất lâm nghiệp. Núi đá vôi chiếm
một tỷ lệ tương đối lớn phân bố chủ yếu ở khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Trong
1.152.500 ha núi đá vôi, núi đá vôi có rừng là 396.200 ha và diện tích núi đá vôi không
có rừng là 756.300 ha (theo tài liệu kiểm kê rừng năm 1995 của Viện điều tra quy
hoạch rừng) [52].
Theo thống kê bước đầu trong vùng núi đá vôi hiện có 20 khu rừng đặc dụng
bao gồm: 3 Vườn Quốc gia, 14 khu bảo tồn thiên nhiên, 4 khu bảo tồn di tích lịch sử
văn hoá và môi trường với diện tích là 366.371 ha. Do vậy hệ sinh thái rừng núi đá vôi
đã và đang đóng góp một phần rất quan trọng đối với môi trường, cảnh quan cũng như
nghiên cứu khoa học ở nước ta [40].
Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi ở Việt Nam đã được nhiều tác giả đề cập đến,
nhưng các tác giả chỉ đề cập theo từng chuyên đề riêng lẻ không tính đến luận chứng


20
kinh tế cũng như khoa học và kỹ thuật để xây dựng các Khu bảo tồn, Vườn Quốc gia
một cách có hệ thống.
Việc nghiên cứu hệ thực vật trên núi đá vôi một cách có hệ thống chưa nhiều,
ngay cả Vườn Quốc gia Cúc Phương từ khi Bác Hồ ký quyết định thành lập Vườn
Quốc gia đầu tiên 1962 đến nay ngoài những tài liệu về thực vật đã được hệ thống một
cách đầy đủ thì chưa có một thống kê nào mang tính hệ thống.
Nguyễn Nghĩa Thìn và các tác giả (1994, 2000, 2003, 2004); Phan Kế Lộc và
cộng sự (1999 - 2001) đã công bố một số công trình về hệ thực vật trên núi đá vôi như
Sơn La, Hòa Bình, Phong Nha-Kẻ Bàng, Ba Bể, Cát Bà, Na Hang... Các tác giả đã

4- Cây chồi ẩn(Cr)
5- Cây chồi một năm (Th)
Trong đó cây chồi trên đất (Ph) được chia thành 9 dạng nhỏ:
a. Cây gỗ lớn cao trên 30m (Mg)
b. Cây lớn có chồi trên đất cao 8 - 30m (Me)
c. Cây nhỏ có chồi trên đất 2 - 8m (Mi)
d. Cây có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na)
e. Cây có chồi trên đất leo cuốn (Lp)
f. Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep)
g. Cây có chồi trên đất thân thảo (Hp)
h. Cây có chồi trên đất mọng nước (Suc)
i. Cây có chồi trên đất ký sinh và bán ký sinh (Pp)
Để thuận tiện trong việc so sánh phổ dạng sống giữa các hệ thực vật với nhau,
Raunkiaer (1934) đưa ra một phổ dạng sống chuẩn dựa trên việc tính toán cho hơn
1.000 cây ở các vùng khác nhau trên thế giới:
SB = 48 Ph + 9Ch + 26 He + 8 Cr + 15 Th
Ở Việt Nam, trong công trình nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam, tác giả
Pócs Tamás (1965) [55] đã đưa ra một số kết quả như sau :
- Cây gỗ lớn cao trên 30m (Mg)

4,85%

- Cây lớn có chồi trên đất cao 8 - 30m (Me)

3,80%

- Cây có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na)

8,02%


Còn ở Vườn Quốc gia Pù Mát, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn
(2004) [45], đã lập được phổ dạng sống :
SB = 78,88Ph + 4,14Ch + 5,76Hm + 5,97Cr + 5,25Th
Năm 2006, Nguyễn Nghĩa Thìn đưa ra phổ dạng sống ở Khu bảo tồn Na Hang
[47].
SB = 70,14Ph + 4,33Ch + 3,50Hm + 11,98Cr + 10,05Th
Từ những dẫn liệu trên cho thấy: Vùng nhiệt đới ẩm đặc trưng bởi sự ưu thế của
nhóm dạng sống cây chồi trên (Ph), điều này cũng phù hợp với những kết quả nghiên
cứu và nhận xét của các tác giả như Raunkiaer (1934), Nguyễn Nghĩa Thìn (1996), Lê
Trần Chấn (1999)…


23
Chương 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Một số đặc điểm tự nhiên – xã hội của huyện Cẩm Thủy
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
a.Vị trí địa lý
Cẩm Thủy là một huyện trung du miền núi nằm ở phía Tây – Bắc của tỉnh thanh
hóa cách thành phố Thanh Hóa 76km.
Diện tích 425,03km2.
Phía Đông giáp huyện Vĩnh Lộc
Phía Bắc giáp huyện Thạch Thành
Phía Tây giáp huyện Bá Thước
Phía Nam giáp huyện Ngọc Lặc và Yên Định
Sơ đồ 1. Vị trí địa lí Huyện Cẩm Thủy.


24
b.Địa hình – địa chất

25
Toàn huyện có 72 trường học ở các cấp học phổ thông, trong đó có 03 trường
THPT, 01 trung tâm Giáo dục thường xuyên, 01 trung tâm dạy nghề, 10 trường đạt
chuẩn quốc gia (02 trướng THCS, 07 trường Tiểu học, 01 trường Mầm non), có 03
trường cận chuẩn. chất lượng học sinh ngày càng nâng cao.
Y tế: có một bệnh viện đa khoa, 01 trung tâm y tế dự phòng, 02 phòng khám đa
khoa và 20 trạm y tế xã, thị trấn (có 10 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế).
Trong báo cáo tóm tắt kinh tế xã hội huyện Cẩm Thủy năm 2007 với phó thủ
tướng Trương Vĩnh Trọng ngày 13/7/2007, huyện đã đưa ra một số chỉ tiêu quan trọng
trong việc phát triển suối cá Cẩm Lương, đó là “Tập trung huy động các nguồn lực,
đầu tư phát triển và xây dựng các công trình trọng điểm phục vụ sản xuất; phát triển
mạnh các loại hình dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ du lịch suối cá Cẩm Lương”. Huyện còn
đề nghị, kiến xuất lên Chính phủ “Hổ trợ đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng đồng
thời bảo tồn khu du lịch suối cá thần Cẩm Lương”.
2.2. Một số đặc điểm tự nhiên – xã hội xã Cẩm Lương
2.2.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Cẩm lương là một xã đặc biệt khó khăn nằm ở phía tây huyện cẩm thủy, cách thị
trấn huyện 12km. tổng diện tích tự nhiên1594,81 ha. Trong đó chiếm 2/3 là đồi núi đá
có cây. Đất sản xuất nông nghiệp 250 ha. Đất rừng đầu nguồn bảo vệ suối cá thần
363,96 ha. Đất quy hoạch suối cá 22 ha.
Phía bắc, tây bắc, đông bắc là dãy núi đá vôi và đất lâm nghiệp bao quanh giáp
lương trung- Bá Thước và xã Cẩm Quý.
Phía tây nam, nam, đông nam là dòng sông mã cắt ngang, chia tách cách ly với
vùng lân cận giáp xã Cẩm Thành, Cẩm Thạch, Cẩm Bình, Cẩm Giang.
b. Địa hình
Là một vùng gò đồi nên có địa hình khá đặc trưng. Trong xã có kiểu địa hình
núi đá chạy suốt từ đầu xã đến cuối xã; núi, đối đất xen kẽ bải bằng, thung lũng. Địa
hình thấp dần xuống thung lũng sông Mã theo hướng Tây bắc - Đông nam, độ cao
trung bình 200 - 400 m, độ dốc trung bình 25 - 300.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status