ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
TRẦN THỊ DUNG
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ Ô NHIỄM
CHÌ TRONG ĐẤT TẠI LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ CHÌ THÔN ĐÔNG MAI,
XÃ CHỈ ĐẠO, HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Lưu Đức Hải
Hà Nội - 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.
Lưu Đức Hải, người đã hướng dẫn tôi tận tình, chu đáo và tạo mọi điều kiện để tôi
hoàn thành tốt luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô giáo trường Đại học Khoa học Tự
nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức quý giá cho tôi
trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Dương Thị Tơ – Giám đốc Trung tâm
Môi trường và Phát triển cộng đồng, và các đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ
1.4.1. Phương pháp vật lý ................................................................................. 19
1.4.2. Phương pháp hóa học ............................................................................. 20
1.4.3 . Phương pháp sinh học ........................................................................... 21
1.5. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hoạt động sản xuất tái chế chì ở làng
nghề Đông Mai ................................................................................................... 22
1.5.1. Điều kiện tự nhiên................................................................................... 22
1.5.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ........................................................................ 24
1.5.3. Hoạt động sản xuất tái chế chì ................................................................ 26
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................... 31
2.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................... 31
2.2. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 31
2.2.1. Phương pháp kế thừa .............................................................................. 31
2.2.2. Phương pháp điều tra, khảo sát .............................................................. 31
2.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu trực tiếp .................................................... 32
2.2.4. Phương pháp bản đồ, biểu đồ ................................................................. 32
2.2.5. Phương pháp quan trắc .......................................................................... 32
2.2.6. Phương pháp xử lý số liệu ...................................................................... 40
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ........................................................... 41
3.1. Hiện trạng ô nhiễm chì trong đất tại làng nghề Đông Mai ............................ 41
3.1.1. Kết quả phân tích hàm lượng chì trong đất vườn .................................... 41
3.1.2. Đánh giá mức độ ô nhiễm chì trong đất vườn ở Đông Mai ..................... 42
3.2. Các nguồn gây phơi nhiễm chì ở Đông Mai ................................................. 44
3.2.1. Phơi nhiễm từ các hoạt động tái chế chì trong khu dân cư ...................... 44
3.2.2. Phơi nhiễm từ các hoạt động tái chế chì trong CCN làng nghề ............... 45
3.2.3. Phơi nhiễm từ các hoạt động khác .......................................................... 46
3.3. Các giải pháp xử lý ô nhiễm chì trong đất .................................................... 46
3.3.1. Các giải pháp công nghệ và kỹ thuật ...................................................... 46
3.3.2. Các giải pháp quản lý ............................................................................. 49
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các làng nghề truyền thống ở Việt Nam đã và đang có nhiều đóng góp cho
GDP của đất nước nói chung và đối với nền kinh tế nông thôn nói riêng. Tuy nhiên,
ở hầu hết các làng nghề hoạt động sản xuất đều phát triển theo cơ chế tự phát, quy
mô hộ gia đình, công nghệ sản xuất lạc hậu, do đó đã tạo ra vấn đề ô nhiễm môi
trường, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người lao động, của cộng đồng dân cư
sinh sống trong làng nghề. Năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 64/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng”, trong đó có làng nghề tái chế chì Đông Mai. Theo
quyết định này, đến hết năm 2007 làng nghề phải hoàn thành việc xử lý ô nhiễm
môi trường, thực hiện di dời hoạt động tái chế chì ra khỏi khu dân cư, xây dựng hệ
thống xử lý chất thải. Nhưng cho đến nay, việc xử lý vẫn chưa được thực hiện một
cách hoàn thiện.
Đông Mai nằm ở vị trí trung tâm của huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên với
dân số khoảng 2.600 người (637 hộ gia đình). Sau khi nghề đúc đồng truyền thống
bị mất thị trường, từ những năm 1970, làng Đông Mai chuyển sang nghề tái chế chì
từ các bình ắc quy hỏng của các phương tiện xe cộ như xe motor và xe máy. Công
việc tái chế chì được thực hiện ngay tại các hộ gia đình, thay cho ở các xưởng sản
xuất tập trung. Theo số liệu thống kê, trong các năm sau năm 2000, làng nghề có
hàng trăm xưởng tái chế chì hoạt động trong khu dân cư.
Trên thực tế, sự phát triển của làng nghề Đông Mai đã góp phần quan trọng
vào việc phát triển kinh tế của địa phương; bởi ngoài việc tăng thêm thu thập cho
người dân, còn giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động. Cùng với sự phát triển
đó, làng nghề Đông Mai cũng đã tạo ra vấn đề ô nhiễm môi trường nước và đất khá
nghiêm trọng. Nhằm mục đích tập trung các hoạt động tái chế chì và di dời các hộ
sản xuất ra khỏi làng Đông Mai, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Hưng Yên ban
hành Quyết định số 491/QĐ-UB ngày 27/2/2010 về việc xây dựng “Cụm công
nghiệp xã Chỉ Đạo”. Thực hiện Quyết định này, phần lớn các hộ tái chế chì đã
làng nghề và xác định các yếu tố ảnh hưởng tới môi trường đất của làng nghề;
-
Tiến hành lấy mẫu đất của một số hộ gia đình trong làng Đông Mai và phân
tích hàm lượng chì có trong các mẫu đất này theo phương pháp hóa học;
-
Tiến hành khảo sát và đo hàm lượng chì trong đất tại toàn bộ các hộ gia đình
còn đất, chưa bê tông hóa hoàn toàn trong làng Đông Mai bằng máy phân tích nhanh
XRF model α-4000;
-
Phân tích, đánh giá hiện trạng ô nhiễm chì trong đất tại làng nghề Đông
Mai, từ đó đưa ra các giải pháp về công nghệ và kỹ thuật để xử lý ô nhiễm chì trong
đất, cũng như các các giải pháp quản lý nhằm giảm thiểu phơi nhiễm chì cho người
dân địa phương, cải thiện môi trường làng nghề.
2
4. Kết quả chính đã đạt được
-
Đánh giá được thực trạng ô nhiễm chì trong đất của các hộ gia đình trong
làng Đông Mai. Đồng thời xác định cụ thể các nguồn gây phơi nhiễm chì, ảnh
hưởng trực tiếp đến sức khỏe của cộng đồng dân cư. Đó là cơ sở quan trọng giúp
-
Chương 1: Tổng quan tài liệu
-
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
-
Chương 3: Kết quả và thảo luận
3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình ô nhiễm chì trên Thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 .Tình hình ô nhiễm chì trên Thế giới
Viện Blacksmith – Hoa Kỳ, một tổ chức nghiên cứu môi trường quốc tế có trụ
sở tại New York (Mỹ), đã công bố danh sách 10 thành phố thuộc 8 nước được coi là
ô nhiễm nhất thế giới năm 2006, trong đó có thành phố Haina, ở Cộng hòa
Dominica (Châu Phi), nơi chuyên tái chế ắc quy chì. Năm 2000, Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường Dominica đã xác định Haina là một điểm nóng quốc gia về ô
nhiễm chì với hàm lượng chì trong đất lớn hơn 1000 lần so với tiêu chuẩn cho phép
của Mỹ. Hơn 90% dân số của Haina có hàm lượng chì trong máu cao, nồng độ trung
bình của chì trong máu của cư dân ở đây là 60 µg/dL (tiêu chuẩn nồng độ chì cho
phép trong máu của Mỹ là 10 µg/dL). Ước tính có khoảng 300.000 người bị ảnh
hưởng trực tiếp từ khu vực bị ô nhiễm chì. Theo Liên Hợp Quốc, dân số của Haina
được coi là có mức nhiễm chì cao nhất trên thế giới [31].
Đồng thời, Viện Blacksmith và một Tổ chức phi chính phủ của Indonesia đã
kiểm tra, lúa mỳ trồng ở Thiên Anh chứa hàm lượng chì cao gấp 24 lần chuẩn của
Trung Quốc [9].
Kabwe, Zambia khi các mỏ chì lớn được phát hiện gần Kabwe năm 1902,
Zambia là một thuộc địa của Anh, và có rất ít quan tâm tới ảnh hưởng của kim loại
độc hại với người dân nơi đây. Đáng buồn thay, tình trạng này tới nay hầu như
không được cải thiện. Và cho dù công việc khai thác, chế biến chì không còn hoạt
động nhưng mức ô nhiễm ở Kabwe là rất lớn. Tính trung bình, mức nhiễm chì ở trẻ
em cao hơn chuẩn cho phép của Cơ quan Bảo vệ môi trường Mỹ từ 5-10 lần, và có
thể thậm chí còn cao hơn mức gây tử vong. Song cũng có một tia hy vọng khi Ngân
hàng Thế giới gần đây đã thông báo một dự án làm sạch môi trường trị giá 40 triệu
USD cho thành phố [10].
Ở Châu Á là một trong những nơi có tình trạng ô nhiễm kim loại nặng cao trên
thế giới, trong đó đặc biệt là Trung Quốc với hơn 10% đất bị ô nhiễm chì, tại Thái
Lan theo Viện Quốc tế quản lý nước thì 154 ruộng lúa thuộc tỉnh Tak đã nhiễm chì
cao gấp 94 lần so với tiêu chuẩn cho phép. Tuy vậy, tại các nước phát triển vẫn phải
đối mặt với tình trạng ô nhiễm mà các ngành công nghiệp khác gây ra [10].
5
1.1.2. Tình hình ô nhiễm chì ở Việt Nam
Những năm 90 trở lại đây, quá trình công nghiệp hóa và cơ giới hóa nhanh
cùng với sự phát triển của các làng nghề, nền kinh tế của Việt Nam đã có bước nhảy
vọt đáng kể. Đi kèm với sự phát triển kinh tế đó là nguy cơ ô nhiễm môi trường, đặc
biệt tại các thành phố lớn và các làng nghề tái chế kim loại. Do đó, vấn đề nghiên
cứu về môi trường trở nên cấp thiết, đặc biệt là sự ô nhiễm kim loại nặng đang thu
hút sự quan tâm của các nhà quản lý, các nhà khoa học cũng như toàn cộng đồng
Ảnh hưởng của làng nghề tái chế kim loại đã làm tăng đáng kể hàm lượng chì
trong đất, thậm chí có nơi đã bị ô nhiễm. Theo nghiên cứu của Phạm Văn Khang và
cộng sự (2004), hàm lượng chì trong đất nông nghiệp tại khu vực tái chế chì ở thôn
những ruộng trên thì chỉ qua gạo thôi một người đã tiêu thụ lượng Pb cao hơn mức
an toàn 7 lần/ngày. Và nếu ăn rau muống hay dùng rau muống để nuôi lợn thì nguy
cơ bị ngộ độc Pb và các bệnh do Pb gây ra sẽ càng gia tăng [1].
Nghiên cứu của Hồ Thị Lam Trà (2005) cho thấy: hàm lượng Pb tổng số trong
đất phục vụ nông nghiệp chịu ảnh hưởng của các làng nghề đúc đồng và tái chế kẽm
tại xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên rất cao, dao động từ 51,2 - 313,0
mg/kg, trong đó có nhiều mẫu >200 mg/kg [20].
Theo tác giả Nguyễn Thị Lan Hương (2006) khi nghiên cứu về hàm lượng kim
loại nặng ở các khu công nghiệp ngoại thành Hà Nội với 15 mẫu đất nghiên cứu có
hàm lượng chì trong đất dao động từ 8,36 đến 93,39 mg/kg. Trong đó có 6 mẫu bị ô
nhiễm Pb với hàm lượng Pb trong đất là 75,39; 75,73; 78,03; 79,74; 88,02; 93,39,
đó là 3 mẫu đất lấy gần đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài và đường cao tốc số 5;
2 mẫu lấy tại bãi rác Kiêu Kị - Gia Lâm và bãi rác Nam Sơn - Sóc Sơn; 1 mẫu lấy
tại Tiên Dương - Đông Anh nơi có nhà máy sản xuất pin và phân sinh học. Nguyên
nhân dẫn đến tích tụ Pb trong đất tại các điểm trên chính là do hoạt động giao thông,
do quá trình chôn lấp rác lâu dài và do trong chất thải có hàm lượng Pb lớn nên đã
dẫn đến tích đọng hàm lượng chì trong đất [8].
Kết quả nghiên cứu của Lê Đức và cộng sự (2003) về môi trường đất vùng
đồng bằng sông Hồng, ở khu vực nhà máy Pin Văn Điển hàm lượng Pb trong các
nguồn nước thải là 0,012 mg/lít, trong đất là 30,737 mg/kg so với đối chứng là
7
18,240 mg/kg ; khu vực Hanel, Pb trong nước thải là 0,560 mg/lít, trong đất là
23,070 mg/kg so với đối chứng là 13,650 mg/kg; khu vực nhà máy Phả Lại, Pb trong
nước thải là 0,013 mg/lít, trong đất là 2,320 mg/kg và đối chứng là 2 mg/kg. Đặc biệt
tại làng nghề thì hàm lượng chì trong nước thải và đất tăng cao và mức ô nhiễm
(TCVN, 2002): ở làng nghề Phùng Xá, Pb trong nước thải là 5,2 mg/lít, trong đất là
304,59 mg/kg còn đối chứng là 30,76 mg/kg; ở làng nghề xã Chỉ Đạo, Pb trong nước
da. Ngược lại, chì vô cơ hấp thụ qua da rất ít, chỉ hấp thụ qua da khi bụi chì dính
vào vùng da bị tổn thương [3].
1.2.2. Sự phân bố, tích lũy và đào thải chì
Chì được phân bố chủ yếu ở máu, mô mềm và xương. Phần lớn (99%) lượng
chì máu được kết hợp với hồng cầu, 50% lượng chì trong hồng cầu liên kết với
hemoglobin. Chu kỳ bán phân hủy sinh học của chì máu là 25 - 28 ngày, sau đó chì
máu sẽ cân bằng với các thành phần khác. Có một phần nhỏ chì trong huyết thanh,
lượng chì này cân bằng với lượng chì trong mô mềm. Lượng chì chứa trong thận tăng
lên cùng với tuổi. Một số lượng lớn chì được giữ lại trong xương, chiếm khoảng 95%
tổng lượng chì trong cơ thể người lớn, 73% tổng lượng chì trong cơ thể trẻ em [28].
Chì xuất hiện trong xương sẽ chiếm chỗ của canxi. Nó được tích luỹ ở đây
một cách tạm thời, bộ xương như là “con thuyền” bảo vệ các cơ quan khác khi sự
tích luỹ chì mãn tính diễn ra. Đồng thời nó là nguồn tái phục hồi và tiếp tục gây
nhiễm độc sau khi kết thúc phơi nhiễm với chì [17].
Mặc dù chì được đào thải ra ngoài bằng một số đường (bao gồm cả mồ hôi,
móng và tóc), nhưng chỉ có đường tiết niệu và tiêu hoá là có tầm quan trọng thực
sự. Khoảng 75% chì hấp thụ vào cơ thể được đào thải ra ngoài qua nước tiểu, 25%
đào thải qua phân. Nhìn chung chì được đào thải ra ngoài cơ thể một cách chậm
chạp, nên tích luỹ chì trong cơ thể con người diễn ra một cách dễ dàng [30].
1.2.3. Tác động của chì đến sức khỏe con người
Trong các chất ô nhiễm môi trường thì chì là một trong những kim loại nặng, có
độc tính cao và rất nguy hiểm đối với cơ thể con người. Chì và các hợp chất của nó là
loại độc chất đa tác dụng, tác động lên toàn bộ các cơ quan và hệ cơ quan, những tổn
thương đặc biệt nặng xuất hiện trong hệ thống tạo máu, hệ tim mạch và thần kinh và
hệ tiêu hoá. Bộ Y tế Nga xếp chì cùng với asen, thuỷ ngân, cadimi, kẽm, flo vào
nhóm độc chất gây ô nhiễm môi trường nguy hiểm loại 1 [3].
9
>80
Tổn thương đường tiêu hóa
+ Người lớn
>60
+ Trẻ em
>60
b. Nhiễm độc mãn tính:
Trẻ em có nồng độ chì trong máu từ 30 µg/100ml máu trở lên, người lớn nếu
tiếp xúc kéo dài và nồng độ chì trong máu thấp hơn, có khi từ 7-35 µg/100ml sẽ tác
hại đến cơ quan tạo máu. Hệ thần kinh: bệnh não do chì, thần kinh ngoại biên. Thận:
tổn thương ống thận, xơ hóa kẽ lan tỏa quanh ống thận, bệnh thận tính không hồi
phục. Tiêu hóa: cơn đau bụng chì. Tim mạch: động mạch thận biến đổi, xơ hóa; tăng
huyết áp, viêm cơ tim. Sinh sản: trẻ đẻ non, chết yểu, giảm khả năng sinh sản ở nam
giới. Nội tiết: suy giảm chức năng tuyến giáp, thượng thận [3].
11
Bảng 2: Mức chì máu ảnh hưởng đến sức khỏe khi nhiễm độc mãn tính
Ảnh hưởng đến sức khỏe
Mức chì máu (µg/dl)
Thiếu máu:
+ Người lớn
thói quen cho tay hoặc các đồ dùng vào miệng, trẻ em hay bị rối loạn tiêu hoá và rối
loạn nồng độ canxi và sắt trong cơ thể. Ngoài ra trẻ em còn hít thở ở tầng không khí
sát mặt đất nên có nhiều bụi và ôxít chì hơn so với tầng trên [33].
Nguồn gốc chì thâm nhập vào cơ thể trẻ em là: (1) chì chứa trong bụi qua tay
và các vật nhiễm bẩn; (2) chì từ không khí; (3) chì trong nước ăn uống; (4) chì trong
thức ăn, đặc biệt là đồ hộp và hoa quả.
Trong một số báo cáo về giảm sức nghe của trẻ em, thần kinh thính giác cũng
được đề cập như một điểm đích gây độc của chì. Phân tích kết quả điều tra Dinh
dưỡng và Bệnh tật lần thứ II ở Mỹ, người ta nhận thấy chì máu có mối tương quan
(có ý nghĩa) với sức nghe tại tất cả các mức từ 5 tới 45 μg/dl ở trẻ 4-19 tuổi. Trong
đó ngưỡng nghe của những em có mức chì máu là 20 μg/dl tăng từ 10-20% so với
những em có mức chì máu là 4 μg/dl [30].
12
Các nghiên cứu ở trẻ em cho thấy chỉ số IQ (Intelligence quotient) giảm
khoảng 5 điểm ở mức chì máu là 50-70 g/dl, giảm 1-2 điểm ở mức chì máu từ 1530 g/dl.
Nghiên cứu những trẻ em từ khi sinh đến 7 tuổi ở vùng Port Pirie (gần với khu
vực luyện chì ở Australia) cho thấy nồng độ chì máu có liên quan nghịch đến chỉ số
IQ ở tất cả các lứa tuổi từ 2 trở lên. Ở 2 tuổi, chỉ số thông minh giảm 1,6 điểm nếu
nồng độ chì máu tăng lên 10 g/dl. Ở 6 tuổi, chỉ số thông minh giảm 7,2 điểm nếu
nồng độ chì máu tăng từ 10-30 g/dl và ở 7 tuổi thì chỉ số này giảm 4,4-5,3 điểm với
mức tăng chì máu tương tự [32].
Sử dụng một bộ thử nghiệm để xác định chỉ số IQ và kết quả học tập của trẻ em
thành phố Boston, Bellinger và cộng sư (1992) đã nhận thấy rằng nếu nồng độ chì
trong máu tăng lên 10 g/dl (từ 1-25 g/dl) thì chỉ số IQ của trẻ 24 tháng tuổi giảm
5,8 điểm, thành tích học tập của trẻ em 10 tuổi giảm 8,9 điểm. Stiles và Bellinger
(1993) nhận thấy thiếu hụt điểm số IQ có thể liên quan đến một vài chỉ số hoạt động
thần kinh tâm lý [15].
Ắc quy chì - axit là một thiết bị điện hóa, dùng để biến đổi năng lượng dưới
dạng điện năng thành hóa năng (khi nạp) và ngược lại biến hóa năng thành điện
năng (khi phóng).
b. Công dụng
Ắc quy chì - axit dùng để cung cấp năng lượng điện cho các phụ tải khi động
cơ không làm việc hoặc cung cấp điện cho motor khởi động và hệ thống đánh lửa
khi đang khởi động động cơ.
c. Cấu tạo
Hình 2: Cấu tạo của ắc quy chì - axit
14
-
Bình ắc quy được chia thành nhiều ngăn, thông thường là 6 ngăn. Mỗi
ngăn ắc quy đơn cho điện áp đầu ra là 2V. như vậy, nếu đem đấu nối tiếp cả 6 ngăn
với nhau ta sẽ có bộ nguồn ắc quy là 12V.
-
Vỏ bình ắc quy được chế tạo bằng vật liệu cứng có tính chịu axit, chịu
nhiệt, do đó mà người ta đúc bằng nhựa cứng hoặc ebonite. Phía trong vỏ bình có
các vách ngăn để tạo thành các ngăn riêng biệt, mỗi ngăn riêng biệt gọi là ắc quy
đơn. Dưới đáy bình ta làm hai yếm đỡ bản cực, mục đích là để các bản cực tỳ lên
đó, tránh bị ngắn mạch khi trong đáy bình có lắng đọng các cặn bẩn.
-
Nguyên lý nạp và phóng điện. Mỗi ắc quy nạp và phóng năng lượng điện qua
phản ứng hóa học với dung dịch điện phân.
Quá trình phóng điện diễn ra nếu như giữa hai cực ắc quy có một thiết bị tiêu
thụ điện, khi này xảy ra phản ứng hóa học sau:
Tại cực dương: 2PbO2 + 2H2SO4 → 2PbSO4 + 2H2O + O2
Tại cực âm:
Pb + H2SO4 → PbSO4 + H2
Phản ứng chung gộp lại trong toàn bình là:
Pb + PbO2 +
2H2SO4 → 2PbSO4 +
2H2O
Quá trình phóng điện kết thúc khi mà PbO2 ở cực dương và Pb ở cực âm hoàn
toàn chuyển thành PbSO4.
Quá trình nạp điện cho ắc quy, do tác dụng của dòng điện nạp mà bên trong ắc
quy sẽ có phản ứng ngược lại so với chiều phản ứng trên, phản ứng chung gộp lại
trong toàn bình sẽ là: 2PbSO4 + 2H2O → Pb + PbO2 + 2H2SO4.
Kết thúc quá trình nạp thì ắc quy trở lại trạng thái ban đầu: cực dương là PbO2 và
cực âm là Pb.
e. Phân loại
Thị trường hiện có hai loại ắc quy thông dụng là: ắc quy axít kiểu hở và ắc quy
axít kiểu kín khí. Sự khác nhau giữa hai loại ắc quy này thể hiện trong bảng sau:
Bảng 3: Phân loại ắc quy axít kiểu hở và ắc quy axít kiểu kín khí
Tiêu chí Ắc quy axít thông thường (loại hở) Ắc quy axít loại kín khí
Giá thành
khi phát dòng điện lớn thì ắc quy
kín khí thường phục hồi điện áp
Tương đương nhau
nhanh hơn, tuy nhiên điều này
điện
không ảnh hưởng đến hoạt động
của kích điện.
Trạng
- Khi nạp có thể phát ra khí cháy
thái khi
hoặc khí có mùi khói chịu.
nạp điện - Dòng điện nạp lớn nhất chỉ nên
và dòng
bằng 0,1 lần trị số dung lượng ắc quy
nạp cho
(Ví dụ loại 100Ah chỉ nên nạp với
phép
- Không phải bổ sung điện dịch
trong quá trình sử dụng.
- Phải nạp điện định kỳ trong thời
gian không sử dụng, nhưng chu
kỳ nạp định kỳ dài hơn so với loại
ắc quy axít thông thường.
Tuổi thọ thấp hơn so với loại ắc quy Thường có tuổi thọ cao hơn so với
kín khí.
ắc quy loại hở thông thường.
Nhìn vào bảng trên ta thấy, ắc quy axit kiểu kín khí sẽ có nhiều ưu việt hơn ắc
quy axit kiểu hở, tuy nhiên giá thành lại cao hơn, do đó phần đông người tiêu dùng
sẽ chọn mua loại ắc quy axit kiểu hở. Do tuổi thọ của loại ắc quy này thấp, loại ắc
quy tốt nhất cũng chỉ có thể làm việc không quá 5 năm nên sẽ có một lượng rất lớn
ắc quy hết thời hạn sử dụng bị thải loại và trở thành phế thải.
17
1.3.2. Thực trạng tái chế ắc quy chì phế thải ở Việt Nam [12]
Theo báo cáo từ Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường),
trong năm 2010 đã có khoảng 40.000 tấn ắc quy chì đã được thải ra môi trường.
Dự báo đến năm 2015, con số này sẽ là gần 70.000 tấn và sẽ còn tiếp tục tăng
trong tương lai.
Hiện nay, tái chế ắc quy chì phế thải chủ yếu tập trung ở các làng nghề, điển
hình nhất là làng nghề Đông Mai (huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên). Tại đây chì
được tái sinh theo phương pháp thủ công. Do làm theo phương pháp thủ công và chỉ
tính đến lợi nhuận nên không ai quan tâm đến các biện pháp bảo vệ môi trường. Kết
đáng cho vấn đề này.
1.4. Các biện pháp kỹ thuật xử lý đất ô nhiễm chì
Việc xử lý đất ô nhiễm chì nói riêng và đất ô nhiễm kim loại nặng nói chung là
quá trình đòi hỏi công nghệ phức tạp và vốn đầu tư cao. Có nhiều phương pháp xử
lý đất như: vật lý, hóa học, sinh học,…Tùy thuộc vào đặc điểm tính chất của từng
loại đất mà chọn phương pháp cho phù hợp như: rửa đất, bê tông hóa, đào đất bị ô
nhiễm chuyển đến nơi chôn lấp thích hợp, kết tủa hóa học, oxy hóa khử, phản hấp
phụ ở nhiệt độ thấp, xử lý nhiệt,…[9]
1.4.1. Phương pháp vật lý
Các phương pháp xử lý đất ô nhiễm chì theo con đường vật lý thường áp dụng
gồm các biện pháp cơ học như đào bỏ hoặc sử dụng các tác nhân vật lý như nhiệt,
hơi nước, nước nóng,…
a. Loại bỏ chất ô nhiễm
Phương pháp loại bỏ chất ô nhiễm bao gồm đào bỏ đất ô nhiễm, rửa và lôi
cuốn chất ô nhiễm. Mặc dù các phương pháp trên có một số ưu điểm nhưng nhược
điểm lớn nhất là đất sau xử lý không sử dụng lại được.
b. Phong tỏa chất ô nhiễm theo kiểu vật lý
Mục tiêu là giảm chất ô nhiễm tại chỗ phát sinh trong môi trường tự nhiên và
ngăn chặn không cho chất ô nhiễm lan tỏa. Trong trường hợp này, chất ô nhiễm
không bị phá hủy mà chỉ bị “giam giữ” tại một vị trí nào đó, sau khi phong tỏa, có
thể di chuyển chất ô nhiễm ra khỏi môi trường và xử lý, cũng có thể tiến hành xử lý
tại chỗ.
19
Ưu điểm của phương pháp này là dễ làm và không đòi hỏi kỹ thuật cao. Tuy
nhiên cũng còn những tồn tại như hệ thống phong tỏa không vĩnh cửu, có nhiều
nguy cơ rò rỉ ra môi trường xung quanh.
Có 3 kiểu phong tỏa khác nhau là vỏ bọc kín, trơ hóa chất ô nhiễm về mặt hóa