Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai năm 2014 - Pdf 31

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

BÙI THỊ THANH HUYỀN

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI
NĂM 2014

LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA I

HÀ NỘI 2015


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

BÙI THỊ THANH HUYỀN

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI
NĂM 2014
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
MÃ SỐ: CK. 60 72 04 12

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Thị Song Hà

HÀ NỘI 2015

Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chƣơng 1: TỔNG QUAN
1.1. Thực trạng sử dụng thuốc tại các bệnh viện ở Việt Nam trong
những năm gần đây
1.1.1. Cơ cấu giá trị tiền thuốc sử dụng
1.1.2. Thực trạng kê đơn và thực hiện quy chế kê đơn thuốc ngoại trú
1.2. Một số phương pháp phân tích dữ liệu về sử dụng thuốc
1.2.1. Phương pháp phân tích ABC
1.2.2. Phương pháp phân tích theo nhóm điều trị
1.3. Các chỉ số đánh giá việc sử dụng thuốc
1.3.1. Các chỉ số về kê đơn ngoại trú
1.3.2. Các chỉ số sử dụng thuốc cơ bản
1.4. Vài nét khái quát về bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Cửu
1.4.1. Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Cửu
1.4.2. Tình hình khám chữa bệnh và hoạt động chuyên môn tại bệnh
viện đa khoa huyện Vĩnh Cửu năm 2014
1.4.3. Chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức khoa Dược bệnh viện
đa khoa huyện Vĩnh Cửu năm 2014
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: mô tả
2.3.2. Phương pháp chọn mẫu
2.3.3. Phương pháp thu thập số liệu
2.3.4. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

24
24


2.4.2. Các chỉ số trong phân tích thực trạng kê đơn trong điều trị ngoại
trú được BHYT chi trả
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Phân tích cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng tại BVĐK huyện
Vĩnh Cửu năm 2014
3.1.1. Gía trị tiền thuốc sử dụng
3.1.2. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng theo phương pháp phân
nhóm điều trị
3.1.3. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc theo phương pháp phân tích ABC
3.1.4. Cơ cấu tiêu thụ thuốc hạng A theo nhóm TD dược lý
3.1.5. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng thuốc nguồn gốc
3.2. Phân tích thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú được BHYT chi trả
3.2.1. Thực hiện quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú
3.2.2. Các chỉ số sử dụng thuốc
3.2.3. Các chỉ số tương tác thuốc trong đơn
Chƣơng 4: BÀN LUẬN
4.1. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa huyện
Vĩnh Cửu năm 2014
4.1.1. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng theo phương pháp phân
nhóm điều trị
4.1.2. Phân tích cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng theo phương phấp
phân tích ABC
4.1.3. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng thuốc nguồn gốc
4.1.4. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc đơn thành phần – đa thành phần
4.2. Phân tích thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú được BHYT chi trả
4.2.1. Thực hiện quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú



CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17

Các chữ viết tắt
BHYT
BV
BVĐK
ĐK
DMTBV
DMTCY



DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
Nội dung
Trang
1 Bảng 1.1. Các chỉ số sử dụng thuốc cơ bản
12
Bảng 1.2. Cơ cấu nhân lực bệnh viện Đa khoa huyện Vĩnh Cửu,
2
13
tỉnh Đồng Nai năm 2014
Bảng 1.3. Số liệu hoạt động chuyên môn tại BVĐK huyện Vĩnh
3
15
Cửu năm 2014
4 Bảng 3.1. Gía trị tiền thuốc sử dụng tại BV ĐK huyện Vĩnh Cửu
31
5 Bảng 3.2. Cơ cấu 08 nhóm thuốc có giá trị lớn nhất
32
Bảng 3.3. Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng theo phân tích
6
34
ABC
7 Bảng 3.4. Cơ cấu các thuốc nhóm A theo tác dụng dược lý
36
Bảng 3.5. Các thuốc kháng sinh được sử dụng trong nhóm A tại
8
38
bệnh viện ĐK huyện Vĩnh Cửu năm 2014

21 Bảng 3.18. Chỉ số tương tác thuốc trong đơn
53


DANH MỤC HÌNH

STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14

Nội dung
Hình 1.1. Cơ cấu tổ chức của bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh
Cửu tỉnh Đồng Nai
Hình 1.2. Sơ đồ tổ chức Khoa Dược – bệnh viện Đa khoa
huyện Vĩnh Cửu năm 2014
Hình 2.1. Sơ đồ tóm tắt nội dung nghiên cứu
Hình 3.1. Gía trị tiền thuốc sử dụng tại BV ĐK huyện Vĩnh
Cửu



ĐẶT VẤN ĐỀ
Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng công tác chăm lo sức khỏe toàn dân, hàng
năm đầu tư ngân sách nhà nước cho chăm sóc sức khỏe, ngày 10/01/2013, Thủ
Tướng Chính Phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng
cao sức khỏe cho nhân dân giai đoạn 2011- 2020, tầm nhìn 2030 trong đó chỉ rõ
mục tiêu “ tăng nhanh đầu tư công cho y tế”, vì đầu tư cho sức khỏe nhân dân là
đầu tư cho sự phát triển kinh tế đất nước một cách bền vững. Vì vậy việc chăm sóc
sức khỏe là trách nhiệm toàn dân, toàn xã hội và mang tính chất cần thiết của một
quốc gia, trong đó có ngành Y tế đóng vai trò chủ đạo.
Trong những năm qua, ngành y tế nước ta có nhiều nỗ lực trong việc chăm sóc
sức khỏe nhân dân.Thị trường thuốc đã đáp ứng đủ thuốc cho nhu cầu khám chữa
bệnh. Tiền thuốc bình quân đầu người ngày một tăng (năm 2010 là 22.5 USD/
người/ năm). Gía trị thuốc sản xuất trong nước năm 2012 ước tính đạt 1200 triệu
USD, tăng 5,3% so với năm 2011, đáp ứng được 234/314 hoạt chất trong danh mục
thuốc thiết yếu của Việt Nam và đầy đủ 29 nhóm tác dụng dược lý theo khuyến cáo
của WHO. Tổ chức thành công diễn đàn “ Người Việt Nam ưu tiên dùng thuốc Việt
Nam”, nhằm hỗ trợ cho ngành Dược Việt Nam phát triển bền vững, bảo đảm ổn
định nguồn cung thuốc, giảm sự lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu từ nước ngoài. Tình
hình cung ứng, quản lý sử dụng thuốc trong điều trị đã được chấn chỉnh. Công tác
dược bệnh viện có nhiều bước phát triển cơ bản về tổ chức.
Nhà nước có khung pháp lý và quản lý chất lượng thuốc, sử dụng thuốc an
toàn hợp lý, hiệu quả. Nhiều văn bản liên quan đến quản lý chất lượng thuốc đã
được thiết lập và đi vào hoạt động thường xuyên góp phần không nhỏ nhằm nâng
cao chất lượng khám và điều trị tại các cơ sở y tế [12].

1



1.1.1. Cơ cấu giá trị tiền thuốc sử dụng

1.1.

Theo báo cáo của Cục Quản Lý Dược trong những năm gần đây, giá trị tiền
thuốc sử dụng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kinh phí bệnh viện. Nhu cầu sử dụng
thuốc của người dân ngày càng được nâng cao; sử dụng thuốc bình quân đầu người
tăng từ 29,6 USD/ người năm 2012, đến 33 USD/ người năm 2013 [09]
DMTBV phải đáp ứng được thuốc cho điều trị tại bệnh viện. Danh mục thuốc
sử dụng trong bệnh viện là danh mục đặc thù cho mỗi bệnh viện. Danh mục này
được xem xét cập nhật điều chỉnh từng thời kỳ theo yêu cầu điều trị. Việc bổ sung
hoặc loại bỏ thuốc ra khỏi danh mục cần phải được cân nhắc thận trọng. Danh mục
thuốc phản ánh sự thay đổi trong thực hành thuốc để điều trị nhằm đạt hiệu quả cao
[07]
Kết quả khảo sát tại bệnh viện E năm 2009 cho thấy, kinh phí mua thuốc
chiếm gần 50% tổng chỉ tiêu thường xuyên của bệnh viện [37]. Tại bệnh viện Hữu
Nghị từ năm 2004 đến năm 2010, tổng tiền thuốc sử dụng chiếm tỷ lệ từ 29,4%(
năm 2010) đến 41,2% (năm 2007) trong tổng kinh phí bệnh viện [17].
Các báo cáo của Bộ Y tế qua các năm cho thấy tiền mua thuốc của các bệnh
viện tăng cả về số lượng và tỷ trọng so với tổng chi phí các bệnh viện. Theo báo
cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2009, 2010 của Cục quản lý khám chữa
bệnh - Bộ Y tế, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện chiếm tỷ trọng
47,9% ( năm 2009) và 58,7% (năm 2010) tổng giá trị tiền viện phí hàng năm trong
bệnh viện [5],[15].

3


Thuốc không thể thiếu trong KCB, luôn gắn chặt với quyền lợi BHYT, nhưng
rất phức tạp trong quản lý, sử dụng. Chi phí về thuốc cả tân dược và thuốc Y học cổ

28%, tại các bệnh viện chuyên khoa tỉnh (15 bệnh viện) là 34% và tại các bệnh viện
đa khoa tuyến tỉnh (bệnh viện) là cao nhất (43%) [32].
Kết quả phân tích kinh phí sử dụng một số nhóm thuốc tại bệnh viện trung
ương Quân Đội 108 trong năm 2008 và 2009 cho thấy, nhóm thuốc kháng sinh có
kinh phí sử dụng lớn nhất trong các nhóm thuốc, chiếm tỷ lệ trung bình là 26,4%
tổng giá trị tiền thuốc sử dụng [30]. Tương tự, tại bệnh viện C Thái Nguyên năm
2011, kinh phí sử dụng nhóm kháng sinh cũng chiếm tỷ lệ cao nhất (33%) trong
tổng giá trị tiền thuốc sử dụng [27].
Theo một nghiên cứu về thực trạng thanh toán thuốc BHYT tổng cả nước năm
2010, trong số 30 hoạt chất thuốc nhóm kháng sinh, chiếm tỷ lệ cao nhất (21,92%)
tiền thuốc BHYT) [31].
Với các thuốc có nguồn gốc nhập khẩu do phải chi phí về bảo quản, vận
chuyển xa hoặc do các hãng thuốc cố tình nâng giá cao. Do vậy, các thuốc này
thường có giá thành cao hơn so với các thuốc được sản xuất trong nước với cùng
dược chất, dạng bào chế. Đồng thời với thuốc trong nước thì nguồn cung ứng thuốc
được chủ động hơn,…Nên việc sử dụng nhiều thuốc được sản xuất trong nước sẽ
đem lại nhiều lợi ích cho bản thân bệnh viện cũng như lợi ích chung của ngành
Dược nước ta và của toàn ngành kinh tế. Tuy nhiên, hiện nay các bệnh viện đều sử
dụng thuốc có nguồn gốc nhập khẩu chiếm tỷ lệ rất cao về chi phí so với tổng chi
phí mua thuốc của bệnh viện. Năm 2012, theo báo cáo của 1018 bệnh viện thì tiền
thuốc tiêu thụ có nguồn gốc trong nước chỉ chiếm 38,7% trong tổng số 15 nghìn tỷ
đồng chi mua thuốc, còn lại là chi phí cho các thuốc có nguồn gốc nhập khẩu. Nếu
so với năm 2009, tỷ lệ này có tăng lên nhưng mức độ tăng không đáng kể (năm

5


2009 là 38,2%). Tuy nhiên, tỷ lệ chi phí cho thuốc có nguồn gốc trong nước cũng
có sự khác nhau giữa các tuyến bệnh viện.
- Tại các bệnh viện tuyến trung ương: năm 2010, theo thống kê của 34 bệnh

viết sai, viết thiếu tên thuốc, nồng độ (hàm lượng) và sửa chữa đơn; đặc biệt ở một
số bệnh viện còn có cả tên hoạt chất kèm theo tên biệt dược trong đơn thuốc cùng
hướng dẫn cụ thể về cách dùng và thời gian dùng. Tuy nhiên vẫn còn một số bệnh
viện chưa có mạng vi tính nội bộ và phần mềm để quản lý và kê đơn thuốc nên vẫn
còn nhiều sai sót trong đơn như: viết sai tên thuốc, sai lỗi chính tả, viết thiếu nồng
độ hàm lượng, viết không rõ ràng, tẩy xóa …
Tại bệnh viện Trung ương Huế năm 2012, thực hiện kê đơn điện tử nên đã làm
tốt theo quy chế kê đơn, 100% đơn ghi đầy đủ các khoản mục về thông tin bệnh
nhân, chẩn đoán bệnh, ghi tên thuốc và các thủ tục hành chính khác. Số thuốc trung
bình trong một đơn là 2,9; tỷ lệ sử dụng kháng sinh chiếm 24,8%; tỷ lệ phối hợp
kháng sinh chỉ chiếm 4,0%; tỷ lệ đơn thuốc có sử dụng vitamin chiếm 15,5%; có
20,8% đơn thuốc sử dụng các thuốc có tác dụng bổ trợ và 59/400 đơn xảy ra tương
tác mong muốn trong đó chủ yếu là tương tác thuốc mức độ trung bình và mức độ
nhẹ [22].
Năm 2004, Bộ Y tế tổ chức hội nghị đánh giá thực hiện chỉ thị 05/2004/CTBYT ngày 16/04/2004 về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong
BV đã cho thấy việc kê quá nhiều thuốc cho người bệnh, dẫn đến tương tác thuốc
khi điều trị. Bệnh viện Thống Nhất có nhiều đơn kê 14 đến 16 thuốc trong một
ngày cho người bệnh, thậm chí có đơn kê đến 20 loại thuốc một ngày cho bệnh
nhân [02].

7


Bên cạnh đó, kết quả khảo sát của Cục Quản lý Khám chữa bệnh - Bộ Y tế tại
một số bệnh viện năm 2009 cho thấy: mỗi bệnh nhân trong một đợt điều trị đã được
sử dụng từ 0-10 thuốc, trung bình là 3,63 + 1,45 thuốc. Nhóm bệnh nhân không có
BHYT có số lượng thuốc trung bình trong một đợt điều trị (4,00 ± 2,00 thuốc/ đợt)
tăng hơn so với nhóm bệnh nhân có BHYT (3,63 ± 2,10 thuốc/ đợt).
Một nghiên cứu khác về tình hình kê đơn thuốc ngoại trú của Bệnh viện Bạch
Mai năm 2011 cũng có tỷ lệ tương tự với số thuốc trung bình trong một đơn là 4,7

tên bệnh nhân; chẩn đoán bệnh cho bệnh nhân có ghi nhưng còn viết tắt nhiều, 62%
số đơn ghi tên thuốc theo tên hoạt chất, 83% số đơn ghi đầy đủ, hàm lượng, nồng
độ, số lượng thuốc, 99% số đơn ghi đầy đủ hướng dẫn sử dụng trong đơn, 100% số
đơn ghi đầy đủ liều dùng, 95% số đơn có ghi thời điểm dùng [26].
Ở bệnh viện Trung ương quân đội 108 năm 2012, tỷ lệ đơn ghi đầy đủ địa chỉ
là 85,3%, ghi tên thuốc theo tên biệt dược một thành phần chiếm 61,3%, có 97,0%
đơn thuốc ghi hướng dẫn sử dụng đầy đủ; chỉ có 0,8% đơn thuốc không ghi đường
dùng; số thuốc trung bình đơn ở đối tượng bệnh nhân bộ đội là 4,9 và bảo hiểm y tế
là 5,2; tỷ lệ sử dụng vitamin thuốc bổ chiếm 63,2%, kháng sinh là 12,0% [20].
Hiện nay, nhiều bệnh viện đã ứng dụng phần mềm trong kê đơn nên đã thực
hiện tốt hơn quy chế kê đơn ngoại trú. Một nghiên cứu can thiệp tại bệnh viện
Nhân Dân 115 cho thấy việc áp dụng kê đơn điện tử đã cải thiện rõ rệt chất lượng
kê đơn thuốc tại khoa Khám bệnh. Số đơn ghi thiếu thông tin về bệnh nhân đã giảm
từ 98% xuống còn 33,6%, trong đó số đơn ghi thiếu thông tin về bệnh nhân đã
giảm từ 97,8% xuống còn 33,6%, các thông tin về họ tên, tuổi, giới giảm từ 96,2%
đến không còn (0%) khi áp dụng kê đơn điện tử. Tỷ lệ đơn ghi thiếu thông tin về
thời điểm dùng thuốc giảm từ 54% xuống còn 33,5% [19].

9


1.2. Một số phương pháp phân tích dữ liệu về sử dụng thuốc
Trong nghiên cứu sử dụng thuốc, các dữ liệu tổng hợp sử dụng thuốc có thể
được phân tích theo 4 phương pháp chính, bao gồm: phân tích ABC và phương
pháp phân tích theo liều xác định trong ngày (DDD). Tất cả các phương pháp này
là công cụ hữu hiệu giúp HĐT và ĐT quản lý danh mục và phát hiện được các vấn
đề trong sử dụng thuốc bất hợp lý.

1.2.1. Phương pháp phân tích ABC
Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa số lượng tiêu thụ

trong các nhóm thuốc điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế.
Tương tự như phân tích ABC, một số ít nhóm điều trị chiếm phần lớn chi phí.
Có thể tiến hành phân tích cụ thể hơn cho mỗi nhóm điều trị chi phí cao để xác
định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có thể có chi phí hiệu quả
cao [33].
1.3. Các chỉ số đánh giá việc sử dụng thuốc
1.3.1. Các chỉ số về kê đơn ngoại trú
Số thuốc trung bình cho 01 đơn thuốc
Tỷ lệ % thuốc kê đơn tên gốc
Tỷ lệ % đơn có kháng sinh
Tỷ lệ % đơn có vitamin
Tỷ lệ % đơn có thuốc tiêm
Tỷ lệ % các thuốc có trong danh mục thuốc chủ yếu
1.3.2. Các chỉ số sử dụng thuốc cơ bản
Các chuyên gia của WHO đã đưa ra các chỉ số sử dụng thuốc nhằm đánh giá
việc thực hiện tại các cơ sở y tế tập trung 3 lĩnh vực liên quan đến sử dụng thuốc
trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, đó là: thực hành kê đơn thuốc của các thầy

11


thuốc, các yếu tố cơ bản trong việc chăm sóc người bệnh và khả năng sẵn sàng có
các yếu tố cần thiết để hỗ trợ cho việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn. Các chỉ số
này đã được tiêu chuẩn hóa cao, phù hợp với mọi quốc gia, được áp dụng trong bất
cứ nghiên cứu sử dụng thuốc nào. Chúng tôi không đánh giá tất cả các khía cạnh
quan trọng của việc sử dụng thuốc, nhưng thay vào đó, các chỉ số này trang bị một
công cụ cơ bản cho phép đánh giá nhanh chóng và đáng tin cậy một số vấn đề cốt
lõi của việc sử dụng thuốc trong chăm sóc sức khỏe ban đầu. Các kết quả thu được
các chỉ số chỉ ra những vấn đề cơ bản trong sử dụng thuốc cần kiểm tra, giám sát
chặt chẽ hơn [9].

1992 bệnh viện được chuyển sang Trung tâm y tế huyện. Ngày 07/03/2007, thực
hiện Quyết định số 532/QĐ- UBND tỉnh Đồng Nai chuyển thành bệnh viện Đa
khoa huyện Vĩnh Cửu. Đến năm 2012 bệnh viện được công nhận là bệnh viện hạng
III, tuyến huyện.
1.4.1. Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện Đa khoa huyện Vĩnh Cửu:
Bệnh viện Đa khoa huyện Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai là bệnh viện hạng III tuyến
huyện có chức năng nhiệm vụ: Cấp cứu khám chữa bệnh ban đầu, đào tạo cán bộ y
tế, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật, phòng bệnh.
Với quy mô 200 giường bệnh có 16 khoa phòng và 198 cán bộ công nhân viên
chức.
Bảng 1.2. Cơ cấu nhân lực bệnh viện Đa khoa huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai
năm 2014
Trình độ học vấn

STT

Số lượng

1

Bác sĩ chuyên khoa I

05

2

Bác sĩ

15


8

Kỹ thuật viên

10

9

Cán bộ khác

34

Tổng

198

13


BAN LÃNH ĐẠO

-

Hội đồng KHKT
Hội đồng
thuốc và điều
trị

KHOA LÂM SÀNG
-

Phòng Tài
Chính Kế
Toán

KHOA CẬN LÂM
SÀNG
-

-

Khoa Xét
Nghiệm&
Chẩn Đoán
Hình Ảnh
Khoa Kiểm
Soát Nhiễm
Khuẩn
Khoa Dinh
Dưỡng
Khoa Dược

Hình 1.1. Cơ cấu tổ chức của bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Cửu
tỉnh Đồng Nai

14


1.4.2. Tình hình khám chữa bệnh và hoạt động chuyên môn tại bệnh viện đa
khoa huyện Vĩnh Cửu:
Bảng 1.3. Số liệu hoạt động chuyên môn tại BVĐK huyện Vĩnh Cửu năm 2014

Phẫu thuật
Tổng số đẻ
Đẻ thường
Đẻ khó
Đẻ can
thiệp phẫu
thuật
Siêu âm
Nội soi
thực quản –
dạ dày
X Quang
Điện tim
Tổng số xét
nghiệm

15

Đơn vị
Lượt

Năm 2014
131.404

Lượt
Lượt
Lượt
Bệnh nhân

100.251

Lượt

11.631
4.901
121.359


1.4.3. Chức năng, nhiệm vụ và mô hình tổ chức khoa Dược bệnh viện Đa khoa
huyện Vĩnh Cửu năm 2014:
Ngày 10/06/2011, Bộ y tế ban hành thông tư 22/2011/TT-BYT quy định tổ
chức và hoạt động của Khoa Dược bệnh viện. Từ đó, Khoa Dược bệnh viện huyện
Vĩnh Cửu đã nghiêm túc thực hiện với những quy định cụ thể như sau:
* Chức năng:
Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh
viện. Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về
toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời
thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp
lý.
* Nhiệm vụ:
- Lập kế hoạch, cung ứng thuốc bảo đảm đủ số lượng, chất lượng cho nhu cầu
điều trị và thử nghiệm lâm sàng nhằm đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các
yêu cầu chữa bệnh khác (phòng chống dịch bệnh, thiên tai, thảm họa).
- Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều trị và các
nhu cầu đột xuất khác khi có yêu cầu.
- Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị.
- Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc”.
- Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc, tham
gia công tác cảnh giác dược, theo dõi, báo cáo thông tin liên quan phản ứng có hại
của thuốc.
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status