các phương pháp đo và kiểm tra không phá hủy - Pdf 31

Kiểm Tra Không Phá Hủy
Kiểm tra không phá hủy hay kiểm tra không tổn hại (Non-Destructive Testing-NDT), hay còn gọi là đánh giá không phá hủy
(Non-Destructive Evaluation-NDE), kiểm định không phá hủy (Non-Destructive Inspection-NDI), hoặc dò khuyết tật là việc sử
dụng các phương pháp vật lý để kiểm tra phát hiện các khuyết tật bên trong hoặc ở bề mặt vật kiểm mà không làm tổn hại đến
khả năng sử dụng của chúng .
Kiểm tra không phá hủy dùng để phát hiện các khuyết tật như vết nứt, rỗ khí, ngậm xỉ, tách lớp, không ngấu, không thấu trong
các mối hàn, kiểm tra ăm mòn của kim loại, tách lớp của vật liệu compoosit, đo độ cứng của vật liệu, kiểm tra độ ẩm của bê tông,
đo bề dày vật liệu, xác định kích thước và định vị cốt thép trong bê tông v.v
Phương pháp kiểm tra không phá hủy
Kiểm tra không phá hủy gồm rất nhiều phương pháp khác nhau, và thường được chia thành hai nhóm chính theo khả năng phát
hiện khuyết tật của chúng, đó là:



Các phương pháp có khả năng phát hiện các khuyết tật nằm sâu bên trong (và trên bề mặt) của đối tượng kiểm tra:
o Phương pháp chụp ảnh phóng xạ (Radiographic Testing- RT),
o Phương pháp kiểm tra siêu âm (Ultrasonic Testing- UT).



Các phương pháp có khả năng phát hiện các khuyết tật bề mặt (và gần bề mặt)
o Phương pháp kiểm tra thẩm thấu chất lỏng (Liquid Penetrant Testing- PT)
o Phương pháp kiểm tra bột từ (Magnetic Particle Testing- MT)
o Phương pháp kiểm tra dòng xoáy (Eddy Current Testing- ET)...

Ưu điểm của các phương pháp kiểm tra không phá hủy (NDT) so với các phương pháp phá hủy (DT).




NDT không làm ảnh hưởng đến khả năng sử dụng của vật kiểm sau này.

biến tử, một cho phát và một cho thu. Nhưng đầu dò dãy tổ hợp pha thường bao gồm từ 16 đến 256 biến tử nhỏ riêng biệt, mỗi
biến tử có thể tạo xung riêng rẽ. Chúng có thể được sắp đặt theo dải, vòng tròn, hoặc có hình dạng phức tạp hơn. Cũng như đối
với đầu dò thông thường, các đầu dò dãy tổ hợp pha có thể được thiết kế cho sử dụng tiếp xúc trực tiếp, hoặc kết nối với phần
nêm để tạo các đầu dò góc, hoặc sử dụng cho kỹ thuật nhúng với sóng âm truyền qua nước tới chi tiết kiểm tra. Tần số đầu dò
thường nằm trong dải từ 2 MHz đến 10 MHz. Hệ thống dãy tổ hợp pha cũng bao gồm thiết bị máy tính tinh vi có khả năng điều
khiển đầu dò đa biến tử, thu nhận và số hóa xung quay trở lại và biểu diễn thông tin của xung trên các khổ tiêu chuẩn khác nhau.
Không giống như các thiết bị dò khuyết tật siêu âm thông thường, Hệ thống dãy tổ hợp pha có thể quét chùm tia dưới cả dải góc
khúc xạ hoặc theo dọc theo đường thẳng, hoặc hội tụ ở những độ sâu khác nhau, do đó tăng tính linh hoạt và khả năng trong thiết
lập kiểm tra.
Các đầu dò dãy điển hình

Nguyên tắc hoạt dộng.
Hệ thống dãy tổ hợp pha sử dụng nguyên tắc vật lý của sóng để tạo pha, thay đổi thời gian giữa các sê- ri xung siêu âm theo cách
sao cho từng mặt sóng tạo bởi mỗi từng biến tử của dãy kết hợp với nhau để tăng thêm hoặc triệt tiêu năng lượng theo chiều có
thể dự đoán để hướng và tạo hình dạng cho chùm tia một cách hiệu quả.
Nó được thực hiện bởi dao động của các biến tử đầu dò ở những thời gian khác nhau chút ít. Thường thường các biến tử sẽ bị dao
động theo nhóm từ 4 đến 32 để tăng độ nhạy một cách hiệu quả bằng cách giảm độ mở chùm tia không mong muốn và có thể hội
tụ sắc nét hơn. Phần mềm sử dụng các định luật về hội tụ để thiết lập thời gian trễ phát xung cho từng nhóm các biến tử nhằm tạo
ra chùm tia có hình dạng như mong muốn phù hợp với khả năng của đầu dò, đặc tính của phần nêm cũng như kích thước hình
học và tính chất âm của vật liệu kiểm tra. Chuỗi xung được lập trình chọn bởi phần mềm hoạt động của thiết bị sau đó từng sóng
âm đó được đưa vào vật liệu kiểm tra. Những sóng âm đó sẽ kết hợp với nhau tăng thêm hoặc triệt tiêu để tạo thành một sóng đơn
sơ cấp truyền qua vật liệu kiểm tra và phản xạ lại từ các vết nứt, bất liên tục, mặt đáy và các mặt phân cách khác như sóng siêu
âm thông thường. Chùm tia có thể được hướng theo các góc, tiêu cự, kích thước tiêu điểm khác nhau theo cách mà một đầu dò
đơn có khả năng kiểm tra vật liệu với các phối cảnh khác nhau . Sự hướng chùm tia xảy ra rất nhanh nên quét với nhiều góc hoặc
độ sâu hội tụ khác nhau có thể thực hiện trong một phần nhỏ của giây.
Xung phản xạ lại được thu bởi các biến tử khác nhau hoặc nhóm các biến tử và thời gian được thay đổi cần thiết cho sự thay đổi
của phần trễ sau đó tổng hợp lại. Không giống như đầu dò một biến tử siêu âm thông thường hợp nhất tất cả thành phần chùm tia
đập vào biến tử, đầu dò dãy tổ hợp pha có thể chọn những sóng âm phản xạ về theo thời gian và biên độ tại mỗi biến tử. Khi phần
mềm của thiết bị đã xử lý, thông tin sẽ được hiển thị trên bất kì dạng nào.


mất ít năng lượng hơn rất nhiều so với khí nén. Chỉ cần thêm một giọt nước cũng có thể làm tăng áp suất trong bình lên 25Psi
trong khi sẽ phải cấp một lượng khí lớn để có cùng thay đổi áp suất như vậy.
Với các bình chứa nhỏ thường được kiểm tra thủy tĩnh bằng cách nhúng trong các bồn chứa nước sự thay đổi biến dạng bình
chứa được đo bằng cách theo dõi mực nước bên ngoài bồn chứa. Các cột đo mực nước bồn chứa ngoài sẽ theo dõi việc này. Bình
được kiểm tra bằng cách tăng áp suất nước và giảm áp suất nước theo chu kỳ thường là 30 hoặc nhiều hơn 2s. Hiện tượng tăng
mực nước trong bồn chứa xảy ra khi vật kiểm tra bị bóp méo do áp lực hoặc nước áp lực bơm vào vật kiểm tra bị rỉ ra bồn chứa
làm tăng mực nước. Trong cả hai trường hợp trên vật kiểm tra đều bị coi là không đạt và cần phải xem xét lại quá trình sản xuất.
Kiểm tra thủy tĩnh đường ống nhằm xác định hệ thống có thể hoạt động tốt với áp xuất thực tế. Thường các hệ thông ống dẫn yêu
cầu áp suất kiểm tra lên đến 125% so với áp suất vận hành tối đa trên bất kì đoạn nào của hệ thống đường ống.

Tại các quốc gia đều có các bộ luật yêu cầu việc kiểm tra định kỳ cho các hệ thống bình chứa khí nén ví dụ: kiểm tra 2 năm một
lần đối với các bình chứa khí nén áp xuất cao. Kiểm tra 5 đến 10 năm một lần đối với các bình chứa áp xuất thấp. Các bình chứa
không đạt kết quả kiểm tra thường bị phá hủy để tránh sử dụng lại vì có thể gây nguy hiểm khi sử dụng.
Videos kiểm tra thủy tĩnh cho bình gas
Video minh họa kiểm tra áp lực nước cho hệ thống đường ống

Kiểm tra mối hàn bằng siêu âm
Last Updated on Tuesday, 03 April 2012 08:22 Written by Administrator Tuesday, 03 April 2012 07:35


Phương pháp kiểm tra siêu âm sử dụng chùm sóng siêu âm chiếu
vào vật liệu cần kiểm tra. Chùm siêu âm đi qua môi trường đồng nhất theo đường thẳng cho đến khi gặp biên âm thanh, tại biên
âm thanh một phần âm thanh bị phản xạ trở lại. Cũng như vậy khi chùm siêu âm gặp chỗ không đồng nhất ( khuyết tật hàn ) nó sẽ
xảy ra các hiện tượng phản xạ, thẩm thấu (xuyên qua) và sự biến đổi sóng.Đo đạc âm thanh thu lại sau khi chuyền sẽ biết được
các khuyết tật hàn trong vật đo.
Trong kỹ thuật siêu âm có nhiều kỹ thuật khác nhau có thể được ứng dụng như :









Nó có thể chứng minh tất cả các dạng của các bất bình thường.
Nó hầu như có khả năng kiểm tra tất cả các vật liệu bằng siêu âm.
Kết quả kiểm tra, hồ sơ/văn bản dữ liệu kiểm tra có thể số hóa.
Kỹ thuật siêu âm được sử dụng tất cả các ngành công nghiệp.
Dưới các điều kiện xác định cũng có khả năng áp dụng kiểm tra các hệ thống trên không trung.
Các thiết bị siêu âm đời mới là các thiết bị với bộ ắc qui, thời gian kiểm tra có thể nhiều hơn 12 h (không nạp lại).

Nhược điểm của phương pháp :




Nó đòi hỏi rất nhiều về kinh nghiệm và kỹ năng chuyên môn của người tiến hành kiểm tra.
Kỹ thuật siêu âm và các trang thiết bị có giá thành rất cao, bởi vậy gây ra chi phí cao cho việc tiến hành kiểm tra.


Kiểm tra mối hàn bằng bức xạ
Last Updated on Tuesday, 03 April 2012 07:26 Written by Administrator Tuesday, 03 April 2012 07:04

Kiểm tra bằng bức xạ là phương pháp sử dụng bức xạ tia X hoặc
tia gamma với khả năng xuyên thấu đủ lớn được chiếu qua toàn bộ chiều dày vật mẫu cần kiểm tra. Một phần bức xạ bị hấp thụ,
phần cân bằng sẽ đi qua mẫu vật, lượng hấp thụ và lượng đi qua được xác định theo chiều dày của vật mẫu. Khi gặp khuyết tật
bên trong, chiều dày hấp thụ bức xạ sẽ giảm nó sẽ phản ánh nên hình ảnh bóng được gọi là ảnh bức xạ.
*Các loại nguồn bức xạ được sử dụng:
- Bức xạ đâm xuyên có thể được phát ra từ các chùm tia điện tử năng lượng cao – tia X.
- Hoặc sự phân rã hạt nhân (phát hạch nguyên tử ) - tia gamma.




Kiểm tra chiếu tia có thể thực hiện với bất cứ loại vật liệu nào và không có ngoại lệ.
Nó là phương pháp kiểm tra rất đúng (độ tin cậy cao) và có khả năng tái tạo, sao chép lại.
Nó có thể lưu trữ hồ sơ hình ảnh lâu dài trong các điều kiện bảo quản nhất định.

Nhược điểm của phương pháp:










Tất cả các trang thiết bị phải được cơ quan có thầm quyền cấp phép và chấp nhận.
Từ cơ sở kỹ thuật an toàn tia phóng xạ cần thiết phải ngăn chặn ở không gian rộng.
Nó chỉ được phép bố trí kiểm tra khi tuân thủ nghiêm ngặt điều kiện an toàn phóng xạ cho con người.
Khi chiếu tia với độ dày thành lớn thời gian chiếu tia kéo dài.
Nó là phương pháp kiểm tra phức tạp.
Sẽ gặp khó khăn khi đối tượng kiểm tra có chiều dày thành khác nhau.
Các thiết bị là hầu như rất lớn và nặng.

Kiểm tra mối hàn bằng chất lỏng thẩm thấu
Last Updated on Tuesday, 03 April 2012 04:00 Written by Administrator Tuesday, 03 April 2012 03:31

Kiểm tra bằng chất lỏng thẩm thấu là phương pháp sử dụng các chất lỏng có



Nó chỉ có thể chứng minh được các bất bình thường mở ra bề mặt.
Các bề mặt phải được làm sạch không có các lớp phủ ví dụ như : dầu, mỡ, lớp sơn phủ, gỉ, xỉ cháy vv...

Các điều kiện tiến hành kiểm tra :











Đạt được sự tiếp cận một phía.
Bề mặt phải không có các lớp phủ, khô không có dầu mỡ.
Bề mặt kiểm tra kim loại phải sáng.
Để đạt được khả năng kiểm tra cao nhất bề mặt phải ít được sửa chữa hay chịu tác động cơ học.
Nhiệt độ kiểm tra thông thường từ 10oC – 50oC, trong các trường hợp khác phải sử dụng hệ thống chất kiểm tra đặc
biệt.
Vật liệu của đối tượng kiểm tra không rỗ xốp, và không bị hư hỏng bởi các chất hóa học.
Khi tiến hành kiểm tra bằng chất thâm nhập màu, cường độ chiều sáng khi đánh giá phải lớn hơn 500 lux.
Khi tiến hành kiểm tra bằng chất thâm nhập phát quang, tiến hành đánh giá bằng đèn cực tím và trong buồng tối

Kiểm tra bột từ tính
Last Updated on Tuesday, 03 April 2012 03:19 Written by Administrator Tuesday, 03 April 2012 02:34
Phương pháp kiểm tra bằng từ tính ( kiểm tra bột từ ) được áp dụng cho các vật liệu từ tính có thể phát hiện các rạn nứt bề mặt dù

Nhược điểm của phương pháp :



Nó được tiến hành với nhiều trang thiết bị.






Nó luôn cần thiết nguồn dòng điện.
bề mặt phải làm sạch không dầu, mỡ, gỉ, các lớp sơn dày và lớp cắt cháy vv....
Nó không thể chứng minh các lỗi với chiều sâu hơn 1mm trong thể tích của chi tiết.

Các điều kiện tiến hành kiểm tra :








Vật kiểm tra phải có tính chất từ tính (có khả năng dẫn từ), độ từ thẩm mR > 300.
Phải đạt được sự tiếp cận một phía.
Bề mặt phải khô, không có dầu, mỡ, nước và bẩn gỉ.
Nhiệt độ kiểm tra trong các điều kiện đặc biệt tới 300oC.
Các lớp phủ không được dày quá 150 mm.
Đối tượng kiểm tra phải được từ hóa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status