Ứng dụng phương pháp kiểm tra không phá hủy tại hiện trường phục vụ kiểm định chất lượng mối hàn với lớp phủ bề mặt cho các công trình cơ sở hạ tầng ngành năng lượng - Pdf 13

.
BỘ CÔNG THƯƠNG
TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN- KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
VIỆN CƠ KHÍ NĂNG LƯỢNG VÀ MỎ- VINACOMIN
BÁO CÁO TỔNG KẾT DỰ ÁN TÊN DỰ ÁN:
HOÀN THIỆN VIỆC ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP
KIỂM TRA KHÔNG PHÁ HỦY TẠI HIỆN TRƯỜNG
PHỤC VỤ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG MỐI HÀN VÀ
LỚP PHỦ BỀ MẶT CHO CÁC CÔNG TRÌNH
CƠ SỞ HẠ TẦNG NGÀNH NĂNG LƯỢNG,
CƠ KHÍ ĐÓNG TÀU VÀ KHAI KHOÁNGMÃ SỐ: 01DT-09

THS. BẠCH ĐÔNG PHONG

PHỤC VỤ KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG MỐI HÀN VÀ
LỚP PHỦ BỀ MẶT CHO CÁC CÔNG TRÌNH
CƠ SỞ HẠ TẦNG NGÀNH NĂNG LƯỢNG,
CƠ KHÍ ĐÓNG TÀU VÀ KHAI KHOÁNGMÃ SỐ: 01DT-09

Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương
Cơ quan chủ trì: Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ- Vinacomin Chủ nhiệm dự án
ThS. BẠCH ĐÔNG PHONG
Duyệt Viện

Hà Nội, 12-2010 Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ- Vinacomin
2

3.2. Mua sắm trang thiết bị phục vụ dự án ………………………………………
71
3.3. Triển khai ứng dụng các quy trình trên tại hiện trường ……………………
71
CHƯƠNG 4: SẢN PHẨM CỦA DỰ ÁN ………………………………………
72
4.1. Các thiết bị thí nghiệm NDT ………………………………………………
72
4.2. Nhân lực được đào tạo ………………………………………………………
72
4.3. Bộ tài liệu về Quy trình thí nghiệm NDT cho các kết cấu hàn ……………
73
4.4. Các hợp đồng thí nghiệm kiểm tra theo các quy trình trên với Ban quản lý
dự án Nhà máy Thủy điện Sơn La, Công ty Cơ khí Đóng tàu Vinacomin và
các công trình khác ………………………………………………………
73
CHƯƠNG 5: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ CỦA DỰ ÁN …………………………
74
5.1. Tình hình sử dụng kinh phí ……………………………………………………
74
5.2. Hiệu quả kinh tế- xã hội ……………………………………………………….
74
CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ …………………………………….
78
6.1. Kết luận ………………………………………………………………………
78
6.2. Kiến nghị ………………………………………………………………………
78
TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………
79

Hình 1.6(a): Quá trình tạo ra dòng điện xoáy trong vật thể kiểm tra
Hình 1.6(b): Dòng điện xoáy bị méo bởi khuyế
t tật
Hình 1.7: Các loại đầu dò dùng trong phương pháp kiểm tra bằng dòng điện xoáy
Hình 1.8: Cách bố trí trong phương pháp kiểm tra bằng chụp ảnh bức xạ.
Hình 1.10: Đầu đo cảm ứng từ.
Hình 1.11: Đầu đo dòng điện xoáy
Hình 1.12: Thiết bị đo siêu âm
Hình 1.13: Đo chiều dày lớp sơn bằng thiết bị đo từ trường
Danh mục bảng biểu
Bảng 3.1: Khối lượng kiểm tra vỏ tàu và các c
ơ cấu khác
Bảng 5.1: Bảng tổng hợp một số hợp đồng đã thực hiện của Dự án
Bảng 5.2: Bảng tổng hợp một số tài sản của Dự án
Bảng 5.3: Bảng tổng hợp đào tạo nhân lực cho Dự án

Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ- Vinacomin
4
LỜI MỞ ĐẦU
Phương pháp kiểm tra không phá hủy (Nondestructive Testing- NDT) phát triển từ
hơn nửa thế kỷ qua, xuất phát từ các nước Nga, Đức và Mỹ đã trở thành công cụ không
thể thiếu trong việc kiểm tra tính toàn vẹn của vật liệu trong các lĩnh vực sản xuất công
nghiệp. Ưu điểm nổi bật nhất là thời gian thí nghiệm nhanh, tiến hành ngay tại hiện
trường mà không làm hư hỏng m
ẫu.
Có nhiều phương pháp kiểm tra không phá hủy, trong đó phổ biến nhất là kiểm tra
siêu âm (UT), chụp ảnh bức xạ (RT), từ tính (MT), và thẩm thấu (PT). Cùng với sự tiến
bộ của công nghệ điện tử và thông tin, sự ra đời các bộ vi xử lý tốc độ ngày càng cao và
các bộ nhớ dung lượng ngày càng lớn, các thiết bị kiểm tra không phá hủy ngày càng gọn
nhẹ và dễ sử dụng.

Nhìn rộng hơn, để tăng cường năng lực của PTN về việc ứng dụng phương pháp
kiểm tra không phá hủy, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong lĩnh vực kiểm tra
chất lượng các sản phẩm đúc và các k
ết cấu hàn của các công ty trong Tập đoàn Công
nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam cũng như của các công trình thủy điện, nhiệt điện
EVN, các nhà máy đóng tàu Việc bổ sung trang thiết bị, đào tạo con người, các tiêu
chuẩn kỹ thuật quốc tế, các quy trình về NDT là nhiệm vụ cấp thiết, Viện Cơ khí Năng
lượng và Mỏ- Vinacomin đã đăng ký thực hiện dự án “Hoàn thiện việc ứng d
ụng
phương pháp kiểm tra không phá hủy tại hiện trường phục vụ kiểm định chất lượng
mối hàn và lớp phủ bề mặt cho các công trình cơ sở hạ tầng ngành năng lượng, cơ khí
đóng tàu và khai khoáng” theo hợp đồng số 04.09.SXTN/2009/HĐ KHCN ngày
05/03/2009, với thời gian thực hiện dự kiến là 2 năm (2009 và 2010).
Trong thời gian thực hiện, dự án đã mua về được một số thiết bị ki
ểm tra NDT tiên
tiến, phục vụ cho công tác kiểm tra tại hiện trường; đào tạo được nguồn nhân lực cho
PTN để có thể sử dụng cũng như phát huy trang thiết bị hiện có; xây dựng được bộ quy
trình thí nghiệm NDT kiểm tra các kết cấu hàn và lớp phủ bề mặt; đã và đang thực hiện
nhiều hợp đồng với các đơn vị trong và ngoài ngành.

Nhóm thực hiện dự án xin chân thành cảm ơ
n Vụ Khoa học Công nghệ - Bộ Công
Thương, Lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Ban quản lý
Công trình Thủy điện Sơn La, Công ty Cơ khí đóng tàu, các công ty đã quan tâm giúp đỡ
và tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành dự án này.

Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ- Vinacomin
6
PHẦN I: CÁC THÔNG TIN CHUNG VỀ DỰ ÁN
1. Tên Dự án: Hoàn thiện việc ứng dụng phương pháp kiểm tra không phá hủy tại

- Ban quản lý Công trình bô xít – Vinacomin
- V.v.

Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ- Vinacomin
7
10. Danh sách cá nhân tham gia dự án
TT Họ và tên Học vị, chuyên môn
1 Bạch Đông Phong Thạc sỹ Công nghệ Vật liệu
2 Nguyễn Minh Hồng
Tiến sỹ Vật Lý, Chuyên gia
kiểm định NDT bậc 3
3 Nguyễn Thu Hiền
Kỹ sư Luyện kim, kiểm định viên
NDT bậc 2
4 Vũ Chí Cao
Kỹ sư Cơ khí, kiểm định viên
NDT bậc 2
5 Nguyễn Văn Dũng
Kỹ sư Công nghệ Vật liệu,
kiểm định viên NDT bậc 2
6 Nguyễn Xuân Trường
Kỹ sư Công nghệ Vật liệu,
kiểm định viên NDT bậc 2
7 Phạm Thu Thủy Cử nhân kinh tế
8 Vương Văn Hiệp Thạc sỹ Vật lý
9 Đinh Thái Sơn Thạc sỹ Cơ khí
10 Hoàng Hiếu Minh Kỹ sư Cơ khí
11 Nguyễn Song Toàn Kỹ sư Cơ khí
12 Lê Thanh Bình Kỹ sư Công nghệ Vật liệu
13 Trần Thị Mai Kỹ sư Công nghệ Vật liệu

9
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1 Giới thiệu về chung về phương pháp kiểm tra không phá huỷ NDT
Trong nền kinh tế toàn cầu của chúng ta, những nhà sản xuất công nghiệp trong tất
cả các lĩnh vực muốn cung cấp chất lượng tốt nhất có thể với mức giá cạnh tranh. Những
quy trình sản xuất có hệ thống và được kiểm soát để cung cấp các sản phẩm có độ tin cậy
cao. Vì vậy mục tiêu thự
c hiện những dịch vụ kiểm soát chất lượng để đảm bảo những
sản phẩm có chất lượng tốt, phù hợp với những yêu cầu của khách hàng, phù hợp với
những thông số kỹ thuật, quy phạm và những tiêu chuẩn hay những quy định của chính
phủ là thực sự cần thiết. Sự ra đời và phát triển của các phương pháp kiểm tra không phá
huỷ NDT đáp ứng được m
ục tiêu đó.

a) Định nghĩa
Kiểm tra không phá hủy là việc sử dụng các phương pháp vật lý để kiểm tra phát
hiện các khuyết tật bên trong hoặc ở bề mặt vật kiểm mà không làm tổn hại đến khả năng
sử dụng của chúng. Từ kiểm tra không phá hủy có tên gọi chữ tiếng Anh là: "Non -
destructive Testing"- NDT, hay mở rộng hơn là " Non - Destrictive Evaluation" (Đánh
giá không phá hủy- NDE - thiên về định lượng, kiểm tra).
Kiểm tra không phá hủy rất quan trọ
ng bởi vì các khuyết tật mà chúng ta tìm được
thường không thể nhìn thấy bằng mắt vì nó bị bao bọc bởi lớp sơn hoặc một lớp mạ kim
loại. Hoặc cũng có thể khuyết tật đó quá nhỏ không thể nhìn thấy bằng mắt hoặc bất cứ
phương pháp kiểm tra bằng mắt nào khác.

b) Các phương pháp kiểm tra NDT
Kiểm tra không phá hủy có rất nhiều phương pháp, các phương pháp kiểm tra chủ
yếu:

khuyết tật, để sửa chữa khắc phục sai sót. Do đó, công trình khi hoàn thành sẽ có các chi
tiết sai hỏng thấp nhất ở mức tiêu chuẩn chấp nhận được. Hình 1.1 : Minh họa các phương pháp kiểm tra NDT

d) Ứng dụng
Kiểm tra không phá hủy dùng để phát hiện các khuyết tật như là nứt, rỗ, xỉ, tách
lớp, hàn không ngấu, không thấu trong các mối hàn , kiểm tra độ cứng của vật liệu,
kiểm tra độ ẩm của bê tông (trong cọc khoan nhồi), đo bề dày vật liệu trong trường hợp
không tiếp xúc được hai mặt (thường ứng dụng trong tàu thủy), đo cốt thép (trong các
công trình xây d
ựng ),v.v
Trong nhà máy lọc dầu, hóa chất, nhiệt điện, các kỹ thuật kiểm tra không phá hủy
được sử dụng trong chương trình bảo dưỡng phòng ngừa cho các thiết bị tĩnh như bồn bể,
tháp phản ứng, nồi hơi, trao đổi nhiệt, …
Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ- Vinacomin
11
1.2 Các phương pháp NDT thông dụng
Những phương pháp NDT có từ đơn giản đến phức tạp. Kiểm tra bằng mắt là
phương pháp đơn giản nhất trong tất cả các phương pháp. Những bất liên tục trên bề mặt
không nhìn thấy được bằng mắt thường có thể phát hiện được bằng phương pháp dùng
chất lỏng thẩm thấu hoặc phương pháp dùng bột từ. Những phương pháp NDT được chia
thành từ
ng nhóm theo những mục đích sử dụng khác nhau đó là: những phương pháp
thông thường và những phương pháp đặc biệt. Nhóm phương pháp thông thường gồm có
các phương pháp được dùng phổ biến đó là: phương pháp kiểm tra bằng mắt hoặc còn gọi

èn xách tay, gương có tay cầm, kính lúp có
tay cầm độ phóng đại 2x hay 4x, thiết bị phóng đại ảnh có độ phóng đại 5x hoặc 10x. Để
thực hiện việc kiểm tra từ phía bên trong vật liệu, cần phải có hệ thống các thấu kính ánh

Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ- Vinacomin
12
sáng như borescope, cho phép kiểm tra được những bề mặt từ xa. Những thiết bị tinh vi
hơn thuộc loại này sử dụng các sợi quang học cho phép đưa vào các lỗ và khe rất nhỏ.
Hầu hết các hệ thống này được gắn thêm các máy ảnh cho phép ghi nhận lại các kết quả
để giữ lại lâu dài.
Các ứng dụng của phương pháp kiểm tra bằng mắt :
(1) Kiểm tra điều kiện bề m
ặt của vật thể kiểm tra.
(2) Kiểm tra sự liên kết của các vật liệu ở trên bề mặt.
(3) Kiểm tra hình dạng của chi tiết.
(4) Kiểm tra các dấu hiệu rò rỉ.
(5) Kiểm tra các khuyết tật bên trong. Hình 1.2 – Những dụng cụ quang học dùng trong quá trình kiểm tra bằng mắt.
A. Gương có tay nắm: có thể là gương phẳng để quan sát bình thường hoặc gương
lõm cho độ phóng đại giới hạn.
B. Kính lúp có tay cầm (có độ phóng đại thường là 2 – 3x).
C. Thiết bị phóng đại ảnh (hệ số phóng đại 5 – 10x).
D. Kính kiểm tra, thường gắn một thang đo; mặt trước đặt tiếp xúc với vật thể kiể
m
tra (độ phóng đại 5 – 10x).
E. Borescope hoặc intrascope có nguồn sáng lắp trong (độ phóng đại 2 – 3x).

1.2.2. Phương pháp kiểm tra chất lỏng thẩm thấu (Liquid Penetrant Testing-PT)

tương hóa được, có nghĩa là : chất nhũ tương được thêm vào chất thấm lỏng dư thừa trên
bề mặt vật thể kiểm tra để
tạo cho nó có thể rửa sạch bằng nước, (iii) rửa bằng dung môi
hoà tan, có nghĩa là: lượng chất thấm lỏng dư thừa được hòa tan trong chất dung môi để
tẩy rửa chúng khỏi bề mặt vật thể kiểm tra.

Một số ưu điểm của phương pháp kiểm tra bằng chất thấm lỏng :
(1) Rất nhạy với những khuyết tật nằm trên bề mặt, n
ếu được sử dụng phù hợp.
(2) Thiết bị và vật tư được dùng trong phương pháp này tương đối rẽ tiền.
(3) Quá trình thấm lỏng tương đối đơn giản và không gây ra vấn đề rắc rối.
(4) Hình dạng của chi tiết kiểm tra không là vấn đề quan trọng.

Một số hạn chế của phương pháp kiểm tra bằng chất thấm lỏng :
(1) Các khuyế
t tật phải mở ra trên bề mặt.
(2) Vật liệu được kiểm tra phải không xốp.
(3) Quá trình kiểm tra bằng chất thấm lỏng khá bẩn.
(4) Giá thành kiểm tra tương đối cao.
(5) Các kết quả của phương pháp này khó giữ được lâu.

Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ- Vinacomin
14

Hình 1.3 – Các giai đoạn của quá trình kiểm tra thẩm thấu lỏng.

Làm sạch trước khi kiểm tra
Làm sạch các vết bẩn,
bụi bám trên bề mặt
bằng chất tẩy rửa

Phương pháp kiểm tra bằng bột từ được dùng để kiểm tra các vật liệu dễ nhiễm từ.
Phương pháp này có khả năng phát hiện những khuyết tật mở ra trên bề mặt và ngay sát
dưới bề mặt. Trong phương pháp này, vật thể kiểm tra trước hết được cho nhiễm từ bằng
cách dùng một nam châm vĩnh cửu hoặc nam châm điện, hoặ
c cho dòng điện đi qua trực
tiếp hoặc chạy xung quanh vật thể kiểm tra. Từ trường cảm ứng vào trong vật thể kiểm tra
gồm có các đường sức từ. Nơi nào có khuyết tật sẽ làm rối loạn đường sức, một vài
đường sức này phải đi ra và quay vào vật thể. Những điểm đi ra và đi vào này tạo thành
những cực từ trái ngược nhau. Khi những bột từ
tính nhỏ được rắc lên bề mặt vật thể
kiểm tra thì những cực từ này sẽ hút các bột từ tính để tạo thành chỉ thị nhìn thấy được
gần giống như kích thước và hình dạng của khuyết tật. Hình 1.4 minh họa những nguyên
lý cơ bản của phương pháp này.

Hình 1.4 – Nguyên lý cơ bản của phương pháp kiểm tra bằng bột từ.

Tùy theo những ứng dụng cụ thể
mà có những kỹ thuật từ hoá khác nhau. Những
kỹ thuật này được nhóm thành hai loại sau đây:
a) Các kỹ thuật từ hoá trực tiếp bằng dòng điện: Kỹ thuật này được thực hiện bằng cách
cho một dòng điện chạy qua vật kiểm tra thì sẽ tạo ra một từ trường và từ trường này
được dùng để phát hiện các khuyết tật. Kỹ thuật này được mô tả trong Hình 1.5(a, b & c).
Khe hở không khí
N
S
SN
N
S
Φ
SN

Dòng điện
Dòng điện
(c) Từ hoá bằng prod

(e) Từ hoá bằng thanh dẫn trung tâm

Từ thông
Dòng điện
Dòng điện
Khuyết tật
Từ thông
Lõi sắt từ
Khuyết tật
Dòng điện
Dòng điện
Dòng điện
Nam châm điện
Khuyết tật
Từ thông
(d) Từ hoá vòng

(f) Từ hoá bằng yoke

(g) Từ hoá bằng dòng điện cảm ứng

Vật kiểm tra
Vật kiểm tra
Vật kiểm tra
Vật kiểm tra
Vật kiểm tra


1.2.4. Phương pháp kiểm tra bằng dòng điện xoáy (Eddy current testing-ET)
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi để phát hiện các khuyết tật bề mặt, phân
loại vật liệu, để đo những thành mỏng từ một mặt, để đo lớp mạ mỏng và trong một vài
ứng dụ
ng khác để đo độ sâu lớp thấm. Phương pháp này chỉ áp dụng được cho những vật
liệu dẫn điện. Ở đây dòng điện xoáy được tạo ra trong vật thể kiểm tra bằng cách đưa nó
lại gần cuộn cảm có dòng điện xoay chiều.
Từ trường xoay chiều của cuộn cảm bị thay đổi do từ trường của dòng điện xoáy.
Sự thay đổi này ph
ụ thuộc vào điều kiện của phần chi tiết nằm gần cuộn cảm, nó được
biểu hiện như một điện kế hoặc sự hiện diện của ống phóng tia âm cực. Hình 1.6 trình
bày những nguyên lý cơ bản của phương pháp kiểm tra bằng dòng điện xoáy.
Có ba loại đầu dò (Hình 1.7) được sử dụng trong phương pháp kiểm tra bằng dòng
điện xoáy. Những đầu dò đặt bên trong th
ường được dùng để kiểm tra các ống trao đổi
nhiệt. Những đầu dò bao quanh được dùng phổ biến để kiểm tra các thanh và ống trong

Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ- Vinacomin
18
quá trình chế tạo. Việc sử dụng những đầu dò bề mặt để xác định vị trí vết nứt, phân loại
vật liệu, đo bề dày thành và bề dày lớp mạ, và đo độ sâu lớp thấm.

Hình 1.6(a) – Quá trình tạo ra dòng điện xoáy trong vật thể kiểm tra.

(b)
Hình 1.6(b) – Dòng điện xoáy bị méo bởi khuyết tật.
Phương pháp này được dùng để :
(1) Phát hiện các khuyết tậ
t trong các vật liệu ống.

Cuộn dây
Dẫn đến
thiết bị

Dẫn đến thiết bị
Cuộn dây
Cáp đồng trục dẫn đến thiết bị
Lò xo
Vỏ bọc
Cuộn dây
Vật kiểm tra

Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ- Vinacomin
20
Một số hạn chế của phương pháp kiểm tra bằng dòng điện xoáy:
(1) Người thực hiện cần phải có nhiều kinh nghiệm.
(2) Chỉ dùng được cho các vật liệu dẫn điện.
(3) Bị giới hạn về khả năng xuyên sâu.
(4) Khó áp dụng trên những vật liệu sắt từ.

1.2.5. Phương pháp kiểm tra bằng chụp ảnh bức xạ (Radiographic testing-RT)

Phương pháp kiểm tra bằng chụp ảnh bức xạ được dùng để xác định khuyết tật bên
trong của nhiều loại vật liệu nhờ khả năng hấp thụ tia bức xạ khác nhau của các cấu trúc
bên trong của vật thể. Một phim chụp ảnh bức xạ thích hợp được đặt phía sau vật cần
kiểm tra (Hình 1.8) và được chiếu bởi một chùm tia X hoặc tia γ đi qua nó. Cường
độ của
chùm tia X hoặc tia γ khi đi qua vật thể bị hấp thụ thay đổi tùy theo cấu trúc bên trong
của vật thể và như vậy sau khi rửa phim đã chụp sẽ hiện ra hình ảnh bóng, được gọi là
ảnh chụp bức xạ của sản phẩm. Sau đó phim được giải đoán để có được những thông tin

ảnh chụp trên phim.

Hình 1.8 – Cách bố trí trong phương pháp kiểm tra bằng chụp ảnh bức xạ.

1.2.6. Phương pháp kiểm tra bằng siêu âm (Ultrasonic testing-UT)

Kiểm tra vật liệu bằng siêu âm là một trong những phương pháp kiểm tra không
phá hủy, sóng siêu âm có tần số cao được truyề
n vào vật liệu cần kiểm tra. Hầu hết các
phương pháp kiểm tra siêu âm được thực hiện ở vùng có tần số 0,5 - 20 MHz. Sóng siêu
âm truyền qua vật liệu kèm theo sự mất mát năng lượng (sự suy giảm) bởi tính chất của
vật liệu. Cường độ của sóng âm hoặc được đo sau khi phản xạ (xung phản hồi) tại các
mặt phân cách (khuyết tật) hoặc được đo tại bề mặt
đối diện của vật thể kiểm tra (xung
truyền qua). Chùm sóng âm phản xạ được phát hiện và phân tích để xác định sự có mặt
khuyết tật và vị trí của nó. Mức độ phản xạ phụ thuộc nhiều vào trạng thái vật lý của vật
liệu ở phía đối diện với bề mặt phân cách, và ở phạm vi nhỏ hơn vào các tính chất vật lý
Điểm hội tụ
Màn chắn chuẩn trực
Anode
Vật thể kiểm
Khuyết tật
Phim tia X

Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ- Vinacomin
22
đặc trưng của vật liệu đó, ví dụ như sóng siêu âm bị phản xạ hoàn toàn tại bề mặt phân
cách kim loại - chất khí. Phản xạ một phần tại bề mặt phân cách giữa kim loại - chất lỏng
hoặc kim loại - chất rắn. Kiểm tra vật liệu bằng siêu âm có độ xuyên sâu lớn hơn hẳn
phương pháp kiểm tra bằng chụp ảnh bức xạ và ta có thể phát hiện được nh

(a) Phương pháp truyền qua

Viện Cơ khí Năng lượng và Mỏ- Vinacomin
23
(4) Cho đáp ứng nhanh vì thế cho phép kiểm tra nhanh và tự động.
(5) Chỉ cần tiếp xúc từ một phía của vật được kiểm tra.

Những hạn chế của phương pháp siêu âm :
(1) Hình dạng của vật thể kiểm tra có thể gây khó khăn cho công việc kiểm tra .
(2) Khó kiểm tra các vật liệu có cấu tạo bên trong phức tạp.
(3) Phương pháp này cần phải sử dụng chất ti
ếp âm.
(4) Đầu dò phải được tiếp xúc phù hợp với bề mặt mẫu trong quá trình kiểm tra.
(5) Hướng của khuyết tật có ảnh hưởng đến khả năng phát hiện khuyết tật.
(6) Thiết bị rất đắt tiền.
(7) Nhân viên kiểm tra cần phải có rất nhiều kinh nghiệm.

1.3 Giới thiệu phương pháp đo chiều dày lớp phủ bề mặt
Lớp phủ bề mặt có một vai trò hết sức quan trọng trong các chi tiết cần được bảo vệ
cũng như các công trình xây dựng hiện nay. Ưu điểm của lớp phủ là cải thiện đáng kể
tính thẩm mỹ của công trình và đặc biệt là khả năng bảo vệ chống các tác động xâm thực
từ bên ngoài nhằm nâng cao độ bền của các vật liệu : ví dụ như sơ
n có thể chống thấm,
ẩm, rêu mốc cho tường, gỗ, chống ăn mòn cho các kết cấu sắt thép…
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của nhiều dự án lớn nhỏ ở Việt
Nam thì các hãng sơn như Nippon, ICL, Kova, Tổng hợp…hàng năm đã cung cấp cho thị
trường khối lượng rất lớn. Việc sử dụng rộng rãi các loại sơn phủ cho các công trình đòi
hỏi v
ấn đề kiểm tra chất lượng sơn phủ cần phải được quan tâm nhiều hơn. Đã có nhiều
đề tài khoa học, tiêu chuẩn, quy phạm, chỉ dẫn kỹ thuật liên quan đến sơn phủ nhằm mục

chiều dày lớp phủ.

b, Thiết bị đo siêu âm hoạt động theo nguyên lý phản xạ sóng siêu âm
Khi đầu đo truyền các sóng siêu âm qua lớp sơn phủ đến lớp n
ền, chúng bị phản xạ lại
bởi các bề mặt khác nhau và truyền tới bộ chuyển đổi trong đầu đo. Khoảng thời gian
sóng siêu âm truyền đi và phản xạ lại sẽ tỷ lệ thuận với chiều dày lớp sơn phủ, nhờ đó bộ
phận xử lý tín hiệu tự động của thiết bị đo có thể tính ra chiều dày lớp phủ.

Hình 1.10 : Đầu
đo cảm ứng từ Hình 1.11 : Đầu đo dòng điện xoáy

Trích đoạn Triển khai ứng dụng các quy trình trên tại hiện trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status