Trng i hc S phm H Ni 2
Trờng đại học s phạm h nội 2
Khoa SINH - KTNN
****&****
NGUYễN THị PHƯƠNG THảO
ĐáNH GIá TáC ĐộNG HOạT ĐộNG
TíN NGƯỡNG CầU TI LộC TớI MÔI
TRƯờNG Tự NHIÊN TạI ĐềN B CHúA
KHO (X Vũ NINH THNH PHố BắC
NINH TỉNH BắC NINH) V Hệ
THốNG CáC GIảI PHáP
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Môi trờng
Ngời hớng dẫn khoa học
TS. Hong nguyễn bình
Hà Nội, 04/2009
Khoỏ lun tt nghip
Nguyn Th Phng Tho 31A Sinh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS.Hoàng Nguyễn Bình, thầy
Hà Nội tháng 5 năm 2009
Tác giả
Nguyễn Thị Phương Thảo
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Phương Thảo – 31A Sinh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1
2. Mục đích của đề tài
2
3. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
2
2.2. Thời gian nghiên cứu
8
2.3. Địa điểm nghiên cứu
8
2.4. Phương pháp nghiên cứu
8
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
9
3.1. Đặc điểm hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc tại Đền Bà Chúa Kho
9
3.2. Các vấn đề môi trường đặt ra
10
3.2.1. Môi trường không khí
11
Khoá luận tốt nghiệp
3.3.1. Cơ sở đề xuất các giải pháp
17
3.3.2. Hệ thống các giải pháp
18
3.3.2.1. Một số giải pháp trước mắt
18
3.3.2.2. Một số giải pháp lâu dài
21
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
24
1. Kết luận
24
2. Kiến nghị
25
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Hình 1
Cổng Tam Quan
Hình 2
Sơ đồ hành lễ Đền Bà Chúa Kho
Hình 3
Bia vàng công đức Đền Bà Chúa Kho
Hình4
Du khách ăn uống và vứt rác ngay trong khu vực di tích
Hình 5
Lượng vàng mã đốt quá nhiều, lượng tro bụi không kịp chuyển đi
Hình 6
Rác thải do xây dựng, tôn tạo các công trình Đền Bà Chúa Kho
Hình 7
Lượng rác ùn tắc trên sườn núi Kho thuộc khu di tích Đền Bà
Chúa Kho
Hình 8
nhu cầu văn hoá tinh thần cũng được tăng lên. Sự tham gia của du khách thập
phương vào hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc nơi đây ngày càng nhiều kéo theo
nhiều vấn đề bất cập nảy sinh, những giá trị văn hoá tín ngưỡng của Đền có nguy
cơ bị mai một dần, môi trường cũng ngày một suy thoái. Do vậy việc bảo tồn di
tích lịch sử văn hoá Đền Bà Chúa Kho và môi trường nơi đây đang trở thành yêu
cầu cấp thiết.
Để có một cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng suy thoái môi trường tự
nhiên của Đền Bà Chúa Kho cùng việc bảo tồn giá trị văn hoá tín ngưỡng cầu tài
lộc ở Đền Bà Chúa Kho và đề ra những giải pháp mang ý nghĩa thực tiễn cao tôi
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Phương Thảo – 31A Sinh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
chọn đề tài: “Đánh giá tác động hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc tới môi
trường tự nhiên tại Đền Bà Chúa Kho (xã Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc
Ninh) và hệ thống các giải pháp”
2. Mục tiêu của đề tài
Việc thực hiện đề tài này nhằm:
- Phân tích đánh giá môi trường cảnh quan của khu di tích lịch sử- văn hoá Đền Bà
Chúa Kho.
- Tìm hiểu nguyên nhân và dự báo các tác động môi trường của hoạt động tín
ngưỡng cầu tài lộc ở khu vực.
- Đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường hiện tại và xây dựng mô
hình bảo vệ môi trường cho khu vực trong tương lai.
3. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài đã bước đầu đánh giá hiện trạng môi trường tự nhiên của khu di tích lịch sử
trấu trôi đến đâu bà lập ấp đến đó, khoanh vùng, trị thuỷ, dạy dân cày cấy. Từ đó
các làng Đại Tảo Sở, Cô Mễ, Quả Cảm, Thượng Đồng... (72 trang ấp) dân cư
đông đúc, vạn vật tốt tươi, cuộc sống no đủ, giàu có.
Tiếng đồn về người con gái xứ Bắc đến kinh thành vua lý, vua liền đón bà
về cung và lấy làm vợ, bà trở thành vị Hoàng Phi của triều Lý. Ngày ngày ở nơi
cung đình, Bà luôn nhớ về quê hương, lòng thương dân không dứt. Một hôm Bà
xin vua cho Bà về chốn cũ mong giúp dân làng làm ăn. Tin tưởng ở tài năng, đức
độ, lòng trung thực, tính chắt chiu của Bà, nhà vua đồng ý giao cho Bà trọng
trách trông coi kho lương thực của triều đình ở ven sông Cầu để tiếp tế lương
thực cho tướng sĩ trên chiến tuyến Như Nguyệt chống giặc Tống đồng thời cai
quản một số tù binh do nhà Lý bắt được trong chiến tranh, đủ cung cấp cho quân
Đại Việt phòng chống giặc Tống ngoại xâm.
Cũng từ đó núi Cô Mễ mang tên núi Kho, làng Thượng Đồng được gọi là
làng Lẫm (làng Kho).
Sau đó Bà đã anh dũng hi sinh vì sự nghiệp đánh giặc giữ nước vào ngày
12 tháng Giêng âm lịch (1077). Nhà vua thương tiếc phong cho Bà làm Phúc
Thần. Nhân dân nhớ thương công ơn của Bà lập Đền trên núi Kho. Nơi đặt kho
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Phương Thảo – 31A Sinh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
lương xưa trở thành trung tâm thờ phụng và lễ hội của vùng. Mọi người vẫn gọi
Bà với niềm tôn kính thân thuộc Bà Chúa Kho.
2.2. Các công trình bảo tồn
Ban đầu Bà Chúa Kho chỉ là một ngôi miếu nhỏ dân ở làng tuần rằm
nhang khói. Đến đời Lê Huy Tông, niên hiệu Chính Hoà (1680-1705) miếu được
xếp hạng là di tích lịch sử - văn hoá cộng với việc tuyên truyền của địa phương
thì tín ngưỡng về Đền Bà Chúa Kho được phát triển.
Năm 1991, dưới sự lãnh đạo của chính quyền địa phương và ngành văn
hoá các cấp cùng bách gia trăm họ, công đức tiền của dân làng Cô Mễ đã dựng
lại ngôi Đền toạ lạc trên nền thiêng đất cũ. Theo thuyết phong thuỷ, Đền toạ lạc
trên đầu rồng (núi Cô Mễ, Thị Cầu) nối liền về phía Tây Nam là những quả đồi
lớn nhỏ kéo dài đến Từ Sơn thì dừng lại, giống như hình con rồng đang uốn
lượn, phun châu nhả ngọc. Và tên đất, tên làng cũng tạo nên từ đó, gắn với bao
truyền thuyết của một vùng văn hoá xứ Bắc, quê hương của 8 vị vua triều lý, với
những làn điệu dân ca quan họ Bắc Ninh. Đặc biệt pho tượng Bà Chúa Kho đã
được đúc lại bằng đồng và hoàn thành vào ngày 29/5/1993 (tức ngày 10/8 năm
Quý Dậu). Bà Chúa Kho được an vị trong khám thờ của cung thượng .Toàn bộ
tượng được thếp vàng rực rỡ, ánh sáng của những ngọn nến bạch lạp đặt ở phía
dưới khám thờ càng tôn thêm vẻ huyền ảo và tôn kính của ban thờ Bà.
Từ trung tâm thành phố Bắc Ninh du khách theo quốc lộ 1 (đi Lạng Sơn)
đến với suối Hoa rẽ 1000m là tới chân núi Kho, với hệ thống điện thờ trong
khuôn viên 6000m2 tổng thể kiến trúc độc đáo. Leo qua 15 bậc gạch đến khu sân
thứ nhất (chiếu nghỉ). Qua 13 bậc nữa đến khu sân thượng tiếp thêm 11 bậc là
nhà Tiền Tế, toà nhà này xưa là 3 gian 2 trái, phần khung gỗ làm kiểu rốn rồng
kẻ tràng, 4 góc mái là 4 đầu đao cong vút. Ngày 29 tháng 10 năm 1997, Công ty
thương mại Bến Thành công đức trùng tu lại nguyên mẫu cũ, bằng chất liệu quý,
bền, chắc hơn. Tiếp đó là 3 toà nhà đường bệ, trầm mặc trên đỉnh núi thoáng
tĩnh, đây là trung tâm của Đền gồm 3 cung: cung Thượng, Cung Đệ Nhị, cung
Đệ Tam.
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Phương Thảo – 31A Sinh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Trong dự án phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh (2006), công trình nghiên
cứu đã đề cập đến Bà Chúa Kho như: mục đích đến Đền của du khách, lượt
khách trung bình đến hàng năm. [6]
Trong sách non nước Việt Nam – sách hướng dẫn du lịch của Tổng cục
Du lịch Việt Nam – NXB Hà Nội 2006, đã giới thiệu khái quát về lịch sử Đền Bà
Chúa Kho, kiến trúc Đền, mục đích của người đi cầu. [7]
Tất cả những nghiên cứu trên đều nhằm tìm hiểu về lịch sử văn hoá Đền
Bà Chúa Kho, bảo tồn và phát triển những giá trị của khu di tích này.
Hiện nay, cùng với hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc là các hoạt động du
lịch, thương mại tại khu di tích đã nảy sinh nhiều vấn đề bất cập mà các nhà tổ
chức và các cơ quan chức năng chưa kiểm soát được. Đề tài này không ngoài
mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững khu di tích, chúng tôi đã xem xét vấn đề
ở một khía cạnh khác đó là nguy cơ xuống cấp môi trường tự nhiên trước tác
động của các hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc.
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Phương Thảo – 31A Sinh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG - THỜI ĐIỂM - ĐỊA ĐIỂM –
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Kiến trúc Đền Bà Chúa Kho.
Đền Bà Chúa Kho là di tích lịch sử văn hoá.
Theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam, mùa xuân là mùa khởi đầu của một
năm, là mùa để vạn vật sinh sôi nảy nở đồng thời là mùa có nhiều dịp lễ hội quan
trọng: tết Nguyên Đán, Rằm Tháng Giêng (Tết Nguyên Tiêu), lễ hội Chùa
Hương vào tháng 2 âm lịch. Và khi đi lễ ở bất kì nơi nào người dân cũng đều
mong muốn một điều là cầu được ước thấy. Quan niệm của người Việt Nam là
“có Thánh có thiêng” chính vì thế mỗi địa danh đều gắn với mục đích mong
muốn của người dân như để cầu con cái lên Chùa Hương (tháng 2 âm lịch); cầu
xuất ngoại lên Bia Bà, La Cả, La Khê thuộc Hà Đông, Hà Nội; để cầu quan chức
xin ở Đền Trần Nam Định, Đền Đức Thánh Cả thuộc quần thể chùa Hương, Đền
Cửa Ông, động Tam Thanh, Nhị Thanh, Đền Cô Chín bên sông Đồng Dao.
Nhưng về tài lộc có thuyết đã nói phong trào xin lộc ở Đền Bà Chúa Kho là tâm
điểm nhất. Mỗi du khách khi hành hương về Đền đều mong muốn được đắc tài
đắc lộc, mong được Bà phù hộ... Ở Đền Bà Chúa Kho, lượng khách hành hương
về Đền hàng năm tăng lên đáng kể vào dịp lễ hội 3 tháng đầu năm (10/01 đến hết
tháng 3 âm lịch) và 3 tháng cuối năm (từ tháng 10 đến hết tháng 12 âm lịch).
Ngoài ra số lượng khách vãng lai hành hương vào các dịp khác trong năm đều
tăng. Theo Ban di tích Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch tỉnh Bắc Ninh, lượng
khách trung bình đến điểm này vào năm 2006 đạt 25000 – 30000 lượt/năm, năm
2007, 2008 số lượng du khách đến đây tăng gấp 2 đến 3 lần, thậm chí có thể hơn,
trong đó chủ yếu là vào dịp lễ hội. Du khách đến đây không chỉ có du khách
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Phương Thảo – 31A Sinh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
trong nước mà cả du khách nước ngoài, trong đó du khách trong nước chiếm
trong khu di tích lịch sử được bảo vệ và phát triển, hứa hẹn là khu vực sinh thái
trong lành, cảnh quan đẹp. Du khách đến đây không chỉ được thoả mãn về nhu
cầu tín ngưỡng cầu tài lộc mà còn thoả mãn về nhu cầu thăm thú cảnh sắc thiên
nhiên.
Trên thực tế, những vấn đề đặt ra cho môi trường tự nhiên có thể bị tác
động theo hướng tiêu cực. Hiện trạng môi trường tự nhiên ở Đền Bà Chúa Kho
cụ thể như sau:
3.2.1. Môi trường không khí
Vào dịp lễ hội chính nhìn bầu không khí của khu vực Đền thấy khói bốc
lên nghi ngút. Khói hương cùng với việc đốt vàng mã, hoá sớ quá nhiều tại các
điểm nhà hoá sớ khiến bầu không khí trở nên ngột ngạt. Cùng với đó việc đốt sớ,
vàng mã qua nhiều gây ra muội than lơ lửng, muội đen bám xung quanh các khu
vực Đền gây mất mĩ quan. Lượng vàng mã đốt cũng thay đổi theo số lượng
khách đến Đền, vào mùa xin lộc đầu năm và trả lễ cuối năm thì lượng vàng mã
đốt nhiều không thể kiểm soát nổi. Đó là vì nhiều du khách hiểu sai về tín
ngưỡng cầu tài lộc mang theo quan niệm “tốt lễ dễ kêu”, “lễ sao lộc vậy” nên họ
sắp lễ to vàng mã nhiều. Các thời gian còn lại trong năm số lượng du khách ít
hơn do vậy mà lượng vàng mã cũng đốt ít hơn. Vàng mã có thể do du khách
chuẩn bị trước ở nhà hoặc khi đến Đền mới bắt đầu mua ở những hàng vàng mã
ở cửa Đền, số lượng vàng mã du khách đốt ngày một tăng do đó kéo theo số
lượng hàng bán vàng mã cũng tăng theo. Cụ thể số lượng cửa hàng bán vàng mã
tăng lên qua các năm như sau (tính từ Đền Trình đến Đền chính):
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Phương Thảo – 31A Sinh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
càng cao so với mặt đất xung quanh thì bán kính lan toả của bụi càng lớn và nó
gây ra tác hại càng nhiều. Sự tương ứng giữa tốc độ gió và chiều cao của ống
khói được thể hiện trong bảng sau (trích từ “Acidrain” của các tác giả Stephen
Tilling, Andy Nisbet, Keith Chell) [4]
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Phương Thảo – 31A Sinh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Chiều cao ống khói so với mặt đất (m)
Tốc độ gió trung bình(km/phút)
0
4
50
7
100
10
200
3.2.2. Chất thải rắn và môi trường đất
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Phương Thảo – 31A Sinh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
Những ngày thường lệ, lượng du khách không quá nhiều, rác thải sinh
hoạt ở dạng rắn được thu gom và đưa ra khỏi khu dân cư nhìn chung môi trường
rất trong sạch đảm bảo cho sức khoẻ.
Vào dịp lễ hội tình trạng rác thải trở nên quá tải, lượng rác khổng lồ tập
trung tại một khu vực nhỏ hẹp diễn ra lễ hội. Việc vứt rác bừa bãi là nguyên
nhân trực tiếp làm lượng rác thải rắn tăng lên khó kiểm soát.
Rác thải chủ yếu là bao bì đựng các sản phẩm ăn uống được du khách sử
dụng và vô ý thải ra mọi nơi không đúng quy định. Thực trạng ở khu di tích là
chưa trang bị các thiết bị thu gom và chứa rác thải nên có một số du khách bỏ rác
đúng nơi quy định cũng không biết bỏ vào đâu? Đó là chưa kể đến sự hoạt động
hết công suất của các nhà hàng phục vụ ăn uống đã thải ra lượng rác rất lớn, bao
gồm nhiều loại như: các loại rác thải sinh hoạt như bao ni lông, vỏ lon nước
ngọt, giấy ăn, thức ăn dư thừa... Lượng rác thải ngày một nhiều hơn do số lượng
du khách ngày một đông và số lượng cửa hàng phục vụ ăn uống cũng tăng rất
nhanh theo các năm như sau (tính từ Đền Trình đến Đền chính):
Năm
Số cửa hàng phục vụ ăn uống
2006
sinh không được quy hoạch xây dựng gọn gàng, chỉ là những tấm đan bằng nứa,
cói tự che lại, làm mất mĩ quan và bốc mùi khó chịu.
Những người trong Ban quản lí Đền chủ yếu là những người cao tuổi hàng
ngày chăm lo các công việc trong Đền như quản lí, chăm lo hương khói, tu bổ,
vệ sinh chưa có nhân công thu gom rác riêng. Nên với nhân lực như vậy khó có
thể đảm trách được hết công việc trên toàn bộ khu di tích.
Quá trình xây thêm các công trình nhà ở, nhà ăn, nhà nghỉ việc nạo vét,
san lấp để giải phóng mặt bằng gây hậu quả làm tăng độ trầm lắng trong nước do
quá trình hoà tan cơ học, làm thay đổi tầng thổ nhưỡng rất có thể dẫn tới hiện
tượng sụt lở, gây rửa trôi bào mòn. Mà đất ở đây chủ yếu là đất feralit có thành
phần cơ giới nặng, kém tơi xốp, đất có độ dày trung bình nên khi mất lớp phủ
rừng đất rất dễ bị rửa trôi và bào mòn trong mùa mưa do đó nếu không có biện
pháp bảo vệ, đất nghèo đi nhanh chóng.
3.2.3. Môi trường nước
3.2.3.1. Nước mặt
Việc thải rác bừa bãi, chủ yếu là rác sinh hoạt từ dân địa phương, từ các cơ
sở dịch vụ, các cửa hàng kinh doanh, đặc biệt từ khách thập phương làm cho
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Phương Thảo – 31A Sinh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
nguồn nước mặt bị ô nhiễm nặng bởi cặn bã hữu cơ, chất vô cơ độc hại, kèm
theo các loài sinh vật gây bệnh.
Sông Cầu là một tuyến thuỷ lợi cách Đền Bà Chúa Kho không xa, nguồn
nước ở đây cũng bị ảnh hưởng. Rác thải sinh hoạt ở dạng lỏng, dạng rắn được
tập trung ở hệ thống cống rãnh, mương máng do các nhà ăn, quán xá đổ trực tiếp
Chúa Kho là rất ít, không đáp ứng đủ nhu cầu của khách tham quan. Số nhà vệ
sinh tạm bợ sau núi kho vừa không đảm bảo vệ sinh vừa mất mĩ quan. Đây cũng
là một vấn đề gây bức xúc nhiều năm tại Đền Bà Chúa Kho chưa được giải quyết
triệt để. Hiện nay tầng nước mặt đang bị ô nhiễm do nhiều nguyên nhân khác
nhau (ở trên đã nói) từ đó ngấm xuống đất theo chu trình lắng đọng tự nhiên gây
ô nhiễm nước ngầm tầng mặt là nguyên nhân gây ô nhiễm nước ngầm chung của
thành phố.
Nếu không có hệ thống cấp thoát nước và xử lí nước thải đạt tiêu chuẩn cả
về chất lượng, quy mô và hiệu quả hoạt động ngay bây giờ thì vấn đề này sẽ ảnh
hưởng nghiêm trọng tới nguồn nước của thành phố, là vấn đề nan giải khi mà
một loạt các dự án trong tương lai sẽ được khởi công xây dựng.
Việc khai thác nguồn nước ngầm bừa bãi cũng ảnh hưởng tới trữ lượng và
chất lượng nguồn nước ngầm. Hơn thế, trữ lượng nguồn nước ngầm của khu vực
không lớn, nước ngầm mạch sâu rất hạn chế và phân bố không đều. Đây là
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Phương Thảo – 31A Sinh
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2
nguyên nhân dẫn đến việc thiếu nước sinh hoạt cho dân cư ở khu vực này trong
tương lai. Vì thế với quy mô hiện tại và trong tương lai thì nguồn nước ngầm
cung cấp đảm bảo vệ sinh cũng là một thách thức lớn cho các nhà quản lí ở khu
vực này.
3.2.4. Hệ sinh thái
Hệ sinh thái bao gồm các sinh vật sống (thực vật, động vật, con người) và
điều kiện tự nhiên như ánh sáng, nước, không khí, nhiệt độ. Hệ sinh thái gồm tất cả
các yếu tố hữu sinh (Biotic component) và vô sinh (Abiotic component) tác động hỗ