Khảo sát sự phân bố của một số nhóm xạ khuẩn phân giải xenluloza phân lập từ đất xuân hòa - Pdf 31

Khãa luËn tèt nghiÖp

§µo ThÞ Lan

LỜI CẢM ƠN

Là một sinh viên khoa Sinh – KTNN cũng như bao sinh viên khác, với mong
muốn được nghiên cứu một đề tài khoa học. Dưới sự hướng dẫn của Th.S
Nguyễn Khắc Thanh, TS. Đinh Thị Kim Nhung, em đã hoàn thành khoá luận tốt
nghiệp. Thầy và cô đã dành cho em sự chỉ bảo thường xuyên, quý báu và đầy
hiệu quả. Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy cô.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2007
Sinh viên
Đào Thị Lan

1

Tr­êng §H S­ Ph¹m Hµ Néi 2

K29A- Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

§µo ThÞ Lan

LỜI CAM ĐOAN

Khoá luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của

Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.3. Phương pháp nghiên cứu

Chương 3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả nghiên cứu
3.2. Thảo luận
Phần kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo

3

Tr­êng §H S­ Ph¹m Hµ Néi 2

K29A- Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

§µo ThÞ Lan

DANH MỤC BẢNG, HÌNH ẢNH TRONG LUẬN VĂN
Trang

Bảng:
Bảng 3.1. Số lượng khuẩn lạc xạ khuẩn phân giải xenluloza
ở mỗi hộp petri tại mỗi độ sâu của các mẫu đất.
Bảng 3.2. Sự phân bố của xạ khuẩn phân giải xenluloza
trong một số mẫu đất Xuân Hòa.

xenluloza - một hợp chất hữu cơ có khá nhiều trong đất, thành phần chính cấu
tạo nên cơ thể thực vật. Ở cây bông xenluloza chiếm tới 90 % trọng lượng khô, ở
các loài cây gỗ khác xenluloza chiếm 40-50%. Hàng ngày, hàng giờ một lượng
lớn xenluloza được thải ra do thân, lá, rễ chết đi, rụng xuống... Mặt khác
xenluloza là hợp chất hữu cơ khó phân giải. Vì thế việc phân giải xenluloza đóng
vai trò quan trọng trong vòng tuần hoàn C. Nếu không có quá trình phân giải của
vi sinh vật thì lượng chất hữu cơ khổng lồ này sẽ tràn ngập trái đất [8].
Có nhiều nhóm vi sinh vật có khả năng phân giải xenluloza cư trú ở trong
đất như vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm mốc, niêm vi khuẩn. Đáng chú ý nhất là xạ
khuẩn. Chúng phân bố rộng rãi trong đất, tham gia vào nhiều quá trình phân giải
5

Tr­êng §H S­ Ph¹m Hµ Néi 2

K29A- Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

§µo ThÞ Lan

các hợp chất hữu cơ: xenluloza, tinh bột ....Góp phần khép kín vòng tuần hoàn
vật chất trong tự nhiên. Đặc tính này được ứng dụng trong quá trình chế biến
phân huỷ rác.
Từ những lí do trên và với mục đích tìm hiểu, làm quen với phương pháp
nghiên cứu vi sinh vật nói chung, phương pháp nghiên cứu xạ khuẩn phân giải
xenluloza nói riêng, dưới sự hướng dẫn tận tình của ThS. Nguyễn Khắc Thanh,
chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát sự phân bố của một số nhóm xạ khuẩn phân
giải xenluloza phân lập từ đất Xuân Hoà”.
2. Mục tiêu của đề tài

hoại sinh. Chúng có khả năng này nhờ có hệ enzym xenlulaza ngoại bào. Trong
đất các nhóm vi sinh vật này gồm nhiều loại khác nhau: vi khuẩn, niêm vi khuẩn,
xạ khuẩn, nấm mốc...
Vi nấm là nhóm có khả năng phân giải xenluloza mạnh vì nó tiết ra môi
trường một lượng lớn enzym đầy đủ các thành phần. Các nấm mốc có hoạt tính
phân giải xenluloza đáng chú ý là Tricoderma. Hầu hết các loài thuộc chi
Tricoderma sống hoại sinh trong đất và đều có khả năng phân giải xenluloza.
Chúng tiến hành phân huỷ các tàn dư của thực vật để lại trong đất góp phần
chuyển hoá một lượng hữu cơ khổng lồ. Tricoderma còn sống trên tre, nứa, gỗ
tạo thành lớp mốc màu xanh phá huỷ các vật liệu trên. Trong nhóm vi nấm,
ngoài Tricoderma còn có nhiều giống khác có khả năng phân giải xenluloza như
Aspergillus, Fusarium, Mucor... [8].
Nhiều loài vi khuẩn cũng có khả năng phân huỷ xenluloza, tuy nhiên cường
độ không mạnh bằng vi nấm. Do số lượng enzym tiết ra môi trường của vi
khuẩn thường nhỏ hơn, thành phần các loại enzym không đầy đủ. Ở trong đất
thường có ít loài vi khuẩn có khả năng tiết ra đầy đủ 4 loại enzym trong hệ
enzym xenlulaza. Nhóm này tiết ra một loại enzym, nhóm khác tiết ra các loại
khác, chúng phối hợp với nhau để phân giải cơ chất trong mối quan hệ hỗ sinh.
Nhóm vi khuẩn hiếu khí đại diện là: Cellulomonas, Pseudomonas,
Achromobacter, Bacillus... [11].
Nhóm vi khuẩn kị khí Clostridium, đặc biệt là những cầu khuẩn thuộc chi
Ruminococcus có khả năng phân huỷ xenluloza thành đường và các axit hữu cơ,
7

Tr­êng §H S­ Ph¹m Hµ Néi 2

K29A- Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

Proactinomyces,

Actinomyces,

Micromonospora... và đặc biệt là chi Streptomyces thuộc nhóm ưa nóng, sinh
trưởng và phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 45-500C rất thích hợp cho quá trình ủ rác
thải. Người ta thường sử dụng những xạ khuẩn này để phân huỷ rác thải sinh
hoạt.
1.2. Sơ lược về xạ khuẩn
1.2.1. Vị trí phân loại của xạ khuẩn trong sinh giới
Theo Krasilnikov (1970), xạ khuẩn được tách thành một lớp riêng gồm xạ
khuẩn bậc cao (có hệ sợi phát triển, có cơ quan sinh sản riêng) và nhóm xạ khuẩn
bậc thấp (có hệ sợi không phát triển, tế bào hình que hoặc hình cầu). Trong cuốn
8

Tr­êng §H S­ Ph¹m Hµ Néi 2

K29A- Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

§µo ThÞ Lan

“Bergey’s Manual” (1970), Bergey đã xếp xạ khuẩn thành một bộ riêng
(Actinomycetales). Xạ khuẩn có thể phát triển thành hệ sợi ngắn như họ
Mycobacteriaceae




Sợi khí sinh: là hệ sợi mọc trên bề mặt môi trường tạo thành bề mặt của
khuẩn lạc xạ khuẩn, từ đây phát sinh ra bào tử.
Sợi cơ chất: là sợi cắm sâu vào môi trường làm nhiệm vụ hấp thu chất dinh
dưỡng. Sợi cơ chất sinh ra sắc tố thấm vào môi trường, sắc tố này thường có màu
khác với màu của sợi khí sinh. Có loại sắc tố tan trong nước, có loại sắc tố chỉ
tan trong dung môi hữu cơ. Đây cũng là một đặc điểm phân loại quan trọng.
9

Tr­êng §H S­ Ph¹m Hµ Néi 2

K29A- Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

§µo ThÞ Lan

Một số xạ khuẩn không có sợi khí sinh mà chỉ có sợi cơ chất, loại sợi này
làm cho bề mặt xạ khuẩn nhẵn và khó tách ra khi cấy truyền. Loại chỉ có sợi khí
sinh thì ngược lại rất dễ tách toàn bộ khuẩn lạc khỏi môi trường [8].
Khuẩn lạc xạ khuẩn rất đặc biệt nó không trơn ướt như vi khuẩn, nấm men
mà thường có dạng thô ráp, rắn chắc, xù xì, có thể dạng phấn, dạng da, dạng
nhung, dạng vôi, phụ thuộc vào kích thước bào tử. Trường hợp không có sợi khí
sinh khuẩn lạc có dạng màng dẻo. Kích thước khuẩn lạc thay đổi tuỳ loài xạ
khuẩn và tuỳ điều kiện nuôi cấy. Khuẩn lạc thường có dạng phóng xạ (vì thế gọi
là xạ khuẩn), một số có dạng những vòng tròn đồng tâm cách nhau một khoảng
cách nhất định. Nguyên nhân của hiện tượng này là do xạ khuẩn sinh ra chất ức
chế sinh trưởng khi sợi mọc qua vùng này chúng sinh trưởng yếu đi, qua được
vùng có chất ức chế chúng lại sinh trưởng mạnh thành vòng tiếp theo. Vòng này
lại sinh ra chất ức chế sinh trưởng sát với nó khiến khuẩn ti lại phát triển yếu đi.

của thành tế bào.
Màng tế bào chất dày khoảng 50 nm và có cấu trúc tương tự như màng tế
bào chất của vi khuẩn.
Nhân không có cấu trúc điển hình, chỉ là những nhiễm sắc thể không có
màng. Khi còn non, toàn bộ tế bào chỉ có một nhiễm sắc thể sau đó hình thành
nhiều hạt rải rác trong toàn bộ hệ khuẩn ti (gọi là hạt cromatin).
1.2.4. Sinh sản
Xạ khuẩn sinh sản bằng bào tử. Bào tử được hình thành trên các nhánh phân
hoá khuẩn ti khí sinh gọi là cuống sinh bào tử. Cuống sinh bào tử ở các loài xạ
khuẩn có kích thước và hình dạng khác nhau. Có loài dài tới 100 - 200 nm, có
loài chỉ khoảng 20 - 30 nm, có loài cấu trúc theo hình lượn sóng, có loài lò xo
hay xoắn ốc. Sự sắp xếp theo kiểu mọc đơn, mọc đôi, mọc vòng hoặc từng chùm.
Đặc điểm hình dạng của cuống sinh bào tử là một tiêu chuẩn phân loại. Bào tử
được hình thành từ cuống sinh bào tử theo kiểu kết đoạn (fragmentation) hoặc
cắt khúc (segmentation).
Ngoài hình thức sinh sản bằng bào tử. Xạ khuẩn có thể sinh sản bằng khuẩn
ti. Các đoạn khuẩn ti gãy ra môi trường phát triển thành hệ khuẩn ti [1,2,7].
11

Tr­êng §H S­ Ph¹m Hµ Néi 2

K29A- Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

§µo ThÞ Lan

1.2.5. Ý nghĩa thực tiễn của xạ khuẩn
Xạ khuẩn là nhóm vi sinh vật phân bố rộng rãi trong đất. Chúng tham gia

Khãa luËn tèt nghiÖp

§µo ThÞ Lan

bột, protein... Đất còn là nơi giúp vi sinh vật khỏi bị tiêu diệt bởi ánh nắng mặt
trời.
Do sự phân bố không đều của các chất dinh dưỡng kéo theo sự phân bố của
các vi sinh vật ở các tầng đất khác nhau. Mức độ thoáng khí của đất cũng là một
điều kiện ảnh hưởng đến sự phân bố của vi sinh vật. Các nhóm hiếu khí phát
triển nhiều ở những nơi có nồng độ oxi cao và ngược lại hàm lượng oxi thấp
thường tập trung các loại vi sinh vật kị khí.
Độ ẩm và nhiệt độ trong đất cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của vi sinh
vật đất. Đại đa số các loài vi sinh vật có ích đều phát triển mạnh ở độ ẩm 60 80%. Độ ẩm quá thấp hoặc quá cao đều ức chế vi sinh vật. Chỉ có nấm mốc và
xạ khuẩn là phát triển được ở điều kiện khô. Nếu độ ẩm thấp dưới 20% thì vi
khuẩn phát triển kém nhưng xạ khuẩn lại phát triển mạnh. Đất vùng nhiệt đới có
độ ẩm 70 - 80% và nhiệt độ từ 20 - 300C là điều kiện thích hợp với đa số vi sinh
vật. Bởi vậy trong mỗi gam đất trồng thường có hàng triệu đến hàng tỉ tế bào vi
sinh vật gồm nhiều nhóm khác nhau về vị trí phân loại cũng như hoạt tính sinh lí
sinh hoá [7 ].
Các nhóm vi sinh vật chính cư trú trong đất: vi khuẩn, vi nấm, xạ khuẩn,
virut, tảo, nguyên sinh động vật. Trong đó vi khuẩn là nhóm chiếm nhiều nhất về
số lượng. Theo nhiều tài liệu đáng tin cậy thì trung bình vi khuẩn chiếm 90%
tổng số, xạ khuẩn 8%, vi nấm 1%, còn lại 1% là tảo và nguyên sinh động vật. Tỉ
lệ này thay đổi theo các loại đất khác nhau cũng như khu vực địa lí khác nhau,
tầng đất, thời vụ, chế độ canh tác...Ở những đất có đầy đủ chất dinh dưỡng, độ
thoáng khí tốt, nhiệt độ, độ ẩm và pH thích hợp thì vi sinh vật phát triển nhiều về
số lượng, thành phần. Sự phát triển của vi sinh vật lại chính là các nhân tố làm
cho đất thêm phì nhiêu, màu mỡ [6].
13


* Phân bố theo các loại đất
Ở các loại đất khác nhau có điều kiện dinh dưỡng độ ẩm thoáng khí, pH
khác nhau. Bởi vậy sự phân bố của vi sinh vật khác nhau. Ở đất lúa nước tình
trạng ngập nước lâu ngày làm ảnh hưởng đến độ thông khí, chế độ nhiệt, chất
14

Tr­êng §H S­ Ph¹m Hµ Néi 2

K29A- Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

§µo ThÞ Lan

dinh dưỡng ... chỉ có một lớp mỏng ở trên khoảng 0 - 3cm là có quá trình oxi hoá
ở tầng dưới quá trình khử chiếm ưu thế. Cho nên trong đất lúa nước các loại vi
sinh vật kị khí phát triển mạnh như vi khuẩn amôn hoá, vi khuẩn phản nitrat hoá,
vi khuẩn cố định nitơ, vi nấm và xạ khuẩn đều rất ít. Tỉ lệ giữa vi khuẩn hiếu khí
trên kị khí thường nhỏ hơn một (vùng chiêm trũng Hà Nam Ninh tỉ lệ này là 0,2
– 0,3). Ở đất trồng màu, không khí lưu thông tốt quá trình oxi hoá chiếm ưu thế
do đó các loài vi sinh vật hiếu khí phát triển mạnh, vi sinh vật kị khí phát triển
yếu. Tỉ lệ giữa vi khuẩn hiếu khí trên kị khí thường lớn hơn 1, có trường hợp đạt
4 - 5 như vùng đất phù sa sông Hồng [1].
* Phân bố theo cây trồng
Đối với tất cả các loại cây trồng, vùng rễ là vùng vi sinh vật phát triển mạnh
nhất. Do rễ cây cung cấp một lượng lớn chất hữu cơ khi nó chết đi. Khi còn
sống, bản thân rễ cây cũng thường xuyên tiết ra các chất dinh dưỡng cho vi sinh
vật. Rễ cây còn làm cho đất thoáng khí, giữ được độ ẩm. Tất cả những yếu tố đó
làm cho số lượng vi sinh vật ở vùng rễ phát triển mạnh.

Xạ khuẩn có thể gặp trong các loại đất từ bắc bán cầu đến nam bán cầu và
số lượng xạ khuẩn ở nam bán cầu bao giờ cũng cao hơn ở bắc bán cầu. Số lượng
xạ khuẩn trong đất không chỉ phụ thuộc vào loại đất mà còn phụ thuộc vào mức
độ canh tác, mức độ bao phủ của thực vật. Đất giàu dinh dưỡng và lớp đất trên
bề mặt (đến 40 cm) thường có số lượng xạ khuẩn lớn. Trong 1 gam đất canh tác
có thể phân lập được 5 triệu mầm xạ khuẩn hoặc hơn. Đất vùng sa mạc có độ ẩm
thấp, chế độ nhiệt khắc nghiệt, đất lại nghèo chất dinh dưỡng nên số lượng xạ
khuẩn trên lớp đất mặt chỉ dao động trong khoảng 10 - 100 nghìn mầm xạ khuẩn
trên 1 gam đất khô [1,10].
Sự phân bố của xạ khuẩn còn phụ thuộc nhiều vào độ pH của môi trường.
Trong đất trung tính, kiềm yếu hoặc axit yếu với giới hạn pH 6,8 – 7,5 thì có mật
độ xạ khuẩn cao hơn so với độ pH quá thấp hoặc quá cao. Số lượng xạ khuẩn
trong đất cũng còn phụ thuộc vào các khoảng thời gian trong năm. Vì vậy khi
chọn mẫu đất để nghiên cứu về sự phân bố của xạ khuẩn, người ta rất chú ý đến
thành phần các lớp đất, thời gian lấy mẫu đất, sinh cảnh trên bề mặt đất, độ ẩm
của đất và các yếu tố khác.
16

Tr­êng §H S­ Ph¹m Hµ Néi 2

K29A- Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

§µo ThÞ Lan

1.4. Sơ lược về xenluloza
1.4.1. Đặc điểm chung của xenluloza
Xenluloza có công thức: (C6H10O5)n, (n = 5000 – 10000) – là loại

O

CH2OH

Liên kết trong phân tử xenluloza gồm các liên kết  - 1.4 – glucozit và liên
kết H2 giữa 2 gốc  - D-glucoz kế tiếp nhau. Các phân tử  - D - glucoz có cấu
trúc không gian dạng ghế bành, hai phân tử gần nhau quay góc với nhau 1800C.
Vì thế phân tử xenluloza có cấu trúc mạch thẳng, không phân nhánh, tạo thành
một sợi dài. Các sợi liên kết với nhau thành sợi nhỏ có đường kính 10 - 40 nm
gọi là vi sợi. Các vi sợi được liên kết với nhau bởi các phân tử hêmixenluloza và
lignhin tạo nên độ cứng cho cấu trúc thành tế bào thực vật.
Chính kiểu cấu trúc như trên mà xenluloza rất bền, dai, chắc. Xenluloza
không tan trong bất kì dung môi nào (trừ dung dịch Schweitzer - dung dịch
Amonic của muối đồng). Phân tử xenluloza bền vững và mềm dẻo, do đó màng
có độ bền rất lớn, nó có thể bị uốn cong nhiều mà không bị gãy. Trong cơ thể
người không có enzym thuỷ phân xenluloza nên không tiêu hoá được, chúng chỉ
có tác dụng cơ học trong việc lôi cuốn các chất cặn bã ở đường tiêu hoá. Riêng

17

Tr­êng §H S­ Ph¹m Hµ Néi 2

K29A- Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

§µo ThÞ Lan

động vật nhai lại: trâu, bò trong dạ dày có tồn tại một lượng lớn các vi khuẩn có




định

glucoza.

18

Tr­êng §H S­ Ph¹m Hµ Néi 2

K29A- Sinh

hình


Khãa luËn tèt nghiÖp

§µo ThÞ Lan

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số nhóm xạ khuẩn có khả năng phân giải xenluloza.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.2.1. Địa điểm
Tiến hành khảo sát sự phân bố của một số nhóm xạ khuẩn có khả năng
phân giải xenluloza ở 3 độ sâu khác nhau: 5cm, 10cm, 20cm, tại 3 địa điểm: đồi
Thằn Lằn, ruộng, vườn trồng rau ở làng Yên Mỹ - Xuân Hoà - Phúc Yên-Vĩnh
Phúc.


30g

NaNO3

3g

K2HPO4

1g

MgSO4.7H2O

0,5g

KCl

0,5g

FeSO4

0,01g

Thạch aga

20g

Nước cất

1000 ml

Thạch aga

20g

Nước cất
pH

1000 ml
= 6,8

Môi trường 3: môi trường Czapek (tinh bột)
Thành phần: Tinh bột tan
CaNO3

20g
3g
20

Tr­êng §H S­ Ph¹m Hµ Néi 2

K29A- Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

§µo ThÞ Lan

NaNO3

2g

Thành phần: Tinh bột tan

20g

KNO3

0,1g

K2HPO4

0,5g

MgSO4.7H2O

0,05g

NaCl

0,5g

FeSO4

0,01g

Thạch aga

20g

Nước cất


Độ ẩm tuyệt đối của đất được tính theo công thức:
W% =

a
.100%
b

trong đó W%: Độ ẩm tuyệt đối.
a: Khối lượng nước.
b: Khối lượng đất khô tuyệt đối.
2.3.4.3. Xác định pH của đất
* Nguyên tắc
Dùng 1 muối trung tính dễ phân li (ví dụ KCl) để trao đổi với ion H+ bám
trên keo đất theo phương trình phản ứng:
(Phức hệ hấp phụ trong đất)
2H+
Al3+ + nKCl

(PHHP)nK+ + CaCl2 + MgCl2 + AlCl3 + 2HCl + (n-9)Cl-

Mg2+
Ca+
Sau đó xác định ion H+ bằng phương pháp đo độ pH bằng máy.
*Cách tiến hành:

- Cân 10g đất khô trong không khí; cho vào bình tam

giác có dung tích 250ml; rót thêm vào đó 50ml dung dịch KCl 1N, lắc đều trong
30 phút. Để yên cho lắng trong; lọc gạn trên giấy lọc xếp nếp.


khi cấy bằng cách: cho nhiệt độ tủ sấy lên cao để khử trùng tủ, sau đó hạ xuống
800C thì đưa các đĩa thạch vào, úp ngược hộp petri lại rồi ghếch đáy hộp kênh
trên thành của nắp hộp để dễ thoát hơi nước và tránh bụi rơi vào bề mặt thạch.
Tắt tủ ấm và đợi cho khi nào nhiệt độ tủ hạ xuống nhiệt độ phòng thì đậy

23

Tr­êng §H S­ Ph¹m Hµ Néi 2

K29A- Sinh


Khãa luËn tèt nghiÖp

§µo ThÞ Lan

từng hộp petri lại và lấy ra. Cũng có thể sấy khô mặt thạch ở nhiệt độ 60 - 700C
trong 15 phút.
Để có môi trường giữ giống trong ống thạch nghiêng ta rót khoảng 3ml - 4
ml môi trường vào mỗi ống nghiệm đậy nút bông và khử trùng như phương pháp
nêu trên. Sau khi khử trùng song đặt nghiêng ống nghiệm đựng môi trường khi
đang còn nóng.
2.3.4.5. Phương pháp phân lập xạ khuẩn từ mẫu đất
Mỗi mẫu đất cân lấy 10 g đất cho vào cối sứ nghiền kĩ, trộn đều. Sau đó cho
vào bình tam giác vô trùng có dung tích 500 ml chứa sẵn 100 ml nước cất vô
trùng, lắc đều trong 10 - 15 phút để lắng. Dùng pipet hút lấy 1 ml dung dịch đất
này cho sang ống nghiệm có chứa sẵn 9 ml nước cất đã khử trùng, lắc trộn đều,
lúc này ta có dịch đất với độ pha loãng 10-2. Lại lấy tiếp 1 ml dịch pha loãng
nồng độ 10-2 cho sang ống nghiệm chứa 9 ml nước cất đã vô trùng thu được
dung dịch pha loãng có nồng độ 10-3. Cứ tiếp tục làm như vậy với những ống

Số lượng xạ khuẩn trong 1 g đất khô được tính theo công thức:
X

a.b
c.d

Trong đó: X: Số lượng xạ khuẩn trung bình trong một gam chất đó.
a: Số lượng khuẩn lạc trung bình trên một hộp petri.
b: Độ pha loãng của dung dịch đất phân lập.
c: Số ml dịch đất được phân lập trên một hộp petri.
d: Số gam đất khô từ một gam mẫu đất phân lập.
Cấy truyền những khuẩn lạc xạ khuẩn mọc riêng biệt không bị nhiễm sang
các ống thạch nghiêng có chứa môi trường Czapek tinh bột. Các ống giống này
được gói lại bằng giấy báo và đưa vào tủ ấm giữ ở nhiệt độ 28 - 300C. Sau 5 đến
7 ngày mang ra kiểm tra lại, nếu thấy ống nghiệm nào không mọc hoặc bị nhiễm
thì loại bỏ hay cấy truyền lại để cuối cùng ta được các ống nghiệm có các chủng
xạ khuẩn thuần chủng.
2.3.4.6. Phương pháp bảo quản giống
Sau khi có được các chủng xạ khuẩn thuần chủng và khi bào tử đã chín,
gói các ống giống vào giấy báo và đưa vào trong tủ lạnh ở nhiệt độ 40C. Cứ sau

25

Tr­êng §H S­ Ph¹m Hµ Néi 2

K29A- Sinh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status