Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cương K30 C Sinh
mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Thế giới đã bước vào thế kỷ XXI với nhiều ước vọng tươi đẹp. Nhưng
không được quên mối lo âu về dân số ngày một gia tăng nhanh chóng Sự
bùng nổ dân số. Sự gia tăng dân số đã kéo theo hàng loạt các yếu tố như:
lương thực, thực phẩm, nhà ở, trường học, bệnh viện, giao thông Đặc biệt là
nguồn tài nguyên bị cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Mọi tiêu
cực và tệ nạn xã hội ngày càng tăng. Đây là mối quan tâm hàng đầu của các
quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt
Nam.
Đứng trước thực trạng đó, Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VII
tháng 1/1993, ra nghị quyết về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình.
Đảng ta đã đề ra mục tiêu cụ thể: Mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con để tới
năm 2015 bình quân toàn xã hội mỗi cặp vợ chồng chỉ có 2 con, tiến tới ổn
định quy mô dân số từ giữa thế kỷ XXI. [13]
Với sự nỗ lực của cả quốc gia, trong những năm qua mức sinh đẻ đã
giảm xuống, nhưng dân số nước ta vẫn còn tăng với tốc độ nhanh. Đặc biệt ở
các tỉnh miền núi, nơi có nhiều thành phần dân tộc cùng sinh sống, do nhận
thức của người dân còn nhiều hạn chế, đời sống thiếu thốn Nên việc thực
hiện các biện pháp dân số kế hoạch hoá gia đình gặp nhiều khó khăn, chưa
thực hiện được một cách triệt để, vì thế tỷ lệ gia tăng dân số còn cao.
Phố Ràng là một thị trấn miền núi thuộc huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai,
vấn đề dân số tăng nhanh cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Năm 2006
trung bình số con/ mẹ là 3,12. Bên cạnh đó có khoảng 21% số gia đình chưa
thực hiện các biện pháp dân số kế hoạch hoá gia đình, nên việc quản lý triệt
để, làm giảm tỷ lệ sinh đẻ còn nhiều khó khăn.
2.4. Nghiên cứu tuổi mãn kinh ở phụ nữ thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo
Yên, tỉnh Lào Cai
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cương K30 C Sinh
Nội dung
chương 1
Tổng quan tài liệu
1.1. Các vấn đề chung về sinh lý sinh dục - sinh sản
1.1.1. Chu kỳ kinh nguyệt
Sự hoạt động của cơ quan sinh dục nữ có tính chất chu kỳ mà biểu hiện
điển hình là chu kỳ kinh nguyệt. Chu kỳ kinh nguyệt ở nữ trung bình khoảng
28 ngày, chia thành 2 giai đoạn, hay còn gọi là 2 pha. [1] [2]
- Đầu tiên là giai đoạn tăng sinh. ở giai đoạn này, tuyến yên tăng tiết
FSH và LH. Dưới tác dụng của tuyến yên, nang trứng phát triển và tăng tiết
estrogen. Hàm lượng 3 loại hoócmôn này tăng dần và đạt trị số cao nhất trước
khi rụng trứng 1, 2 ngày. Lớp niêm mạc tử cung tăng sinh và có nhiều mạch
máu để chuẩn bị cho trứng đã thụ tinh làm tổ và phát triển. Đồng thời tế bào
trứng phát triển, chín và rụng vào ngày thứ 14 tính từ ngày hành kinh đầu tiên
của chu kỳ kinh nguyệt lần sau. [1] [8]
- Giai đoạn thứ hai là giai đoạn hoàng thể tố. Sau khi trứng rụng, trong
nang trứng hình thành thể vàng và bắt đầu giai đoạn hoàng thể tố. Tuyến yên
và bao noãn tiếp tục tiết ra các hoócmôn nói trên, nhưng hàm lượng giảm dần.
Thể vàng tiết ra hoócmôn progesteron. Nếu trứng không được thụ tinh thì thể
vàng sẽ thoái hoá, lượng hoócmôn progesteron dần giảm xuống, lớp tế bào
chiều cao tăng từ 4 - 8 cm, khối lượng cơ thể tăng thêm 3 - 7 kg. Sự tăng chiều
cao ở lứa tuổi này chủ yếu là do xương ống dài ra nhanh làm cho tay chân dài
nhanh. Trong khi đó các xương sườn phát triển chậm hơn làm cho lồng ngực
lép. Hệ cơ tuy cũng phát triển nhưng tốc độ còn chậm hơn so với hệ xương
nên trẻ em thường gầy, cao.
- Da thay đổi, hệ mao mạch dưới da phát triển mạnh làm cho da trở nên
hồng hào hơn, nhất là ở các em nữ, tuyến mồ hôi và tuyến nhờn cũng phát
triển. Có khi tuyến nhờn cũng không thải ra ngoài kịp, ứ đặc lại tạo thành
trứng cá.
- Ngoài một số đặc điểm chung kể trên ở cả nam và nữ, ở lứa tuổi dậy
thì còn xuất hiện một số đặc điểm riêng theo giới tính như:
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cương K30 C Sinh
+ Đối với nữ, các dấu hiệu giới tính được thể hiện ở những đặc điểm
sau:
* Sự phát triển nhanh của cơ quan sinh dục ngoài, tuyến vú phát triển.
Lông mọc ở mu và nách.
* Khung xương chậu phát triển theo chiều rộng. Mô mỡ dưới da phát
triển và dày hơn ở nam.
* Thanh quản phát triển ở nữ giới tạo nên giọng thanh và cao.
+ Đối với nam, các dấu hiệu giới tính bên ngoài được thể hiện ở các đặc
điểm sau:
* Sự phát triển các cơ quan sinh dục ngoài. Lông mọc ở mu và nách.
* Cơ phát triển mạnh hơn ở nữ.
rng túc, au c, khụ õm o, mt ng, suy nhc, lờn cõn, tớnh khớ tht
thng.
- Sau khi món kinh, bung trng, vũi trng, t cung, õm o, c quan
sinh dc ngoi v vỳ nh li. S st gim nng estrogen trong thi k ny
cng kộo theo tỡnh trng loóng xng. Tuy nhiờn s ham mun tỡnh dc
ngi n khụng gim theo nhng bin i ny do chu nh hng ca
androgen ca tuyn thng thn.
- Hot ng sinh sn ca ngi n ch din ra trong mt khong thi
gian nht nh t khi bt u hnh kinh cho n khi món kinh. Kh nng th
tinh cng gim dn theo tui, cú l l theo thi gian s rng trng khụng cũn
din ra u n, kh nng phc v ca vũi trng, t cung cho s phỏt trin ca
phụi non cng gim. [14]
1.1.4. Sức khoẻ sinh sản
1.1.4.1. Định nghĩa sức khoẻ sinh sản
Tại Hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển ở Cairo - Ai cập tháng
9/1994 đã tán thành và chấp nhận định nghĩa về sức khỏe sinh sản như sau:
Sức khoẻ sinh sản là một trạng thái khoẻ mạnh hoàn toàn về thể chất, tinh
thần và xã hội trong tất cả mọi thứ liên quan đến hệ thống sinh sản, các chức
năng và quá trình của nó chứ không chỉ là bệnh tật hay ốm đau.... [7]
Như vậy, sức khoẻ sinh sản có nghĩa mọi người có thể có một cuộc
sống tình dục an toàn, hài lòng với họ và họ có khả năng sinh sản và được tự
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cương K30 C Sinh
do quyết định có sinh con hay không sinh con, sinh khi nào và sinh bao nhiêu.
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cương K30 C Sinh
Kế hoạch hoá gia đình thường bao hàm các hành động tránh thai sinh
con ngoài ý muốn, nhưng cũng bao hàm cả những cố gắng của các cặp vợ
chồng vô sinh để có thể có con. Theo quan điểm toàn diện, kế hoạch hoá gia
đình phải là sự chủ động sinh đẻ về số lượng con, cũng như khoảng cách giữa
2 lần đẻ, sao cho thích hợp với điều kiện sống của từng gia đình và yêu cầu
chung của xã hội.
Do vậy trong điều kiện nước ta hiện nay, trọng tâm của kế hoạch hoá
gia đình là vận động phụ nữ đẻ thưa và đẻ ít (từ 1 đến 2 con) để hạ thấp tốc độ
sinh đẻ hàng năm, nhằm hạn chế sự gia tăng dân số quá nhanh.
Nhờ hiểu biết các khâu trong quá trình sinh sản, nắm được quy luật và
cơ chế của nó như sự sản sinh tinh trùng, sản sinh noãn và phóng noãn, sự thụ
tinh, sự di chuyển của trứng trong vòi trứng và tử cung, phát triển của trứng
trong quá trình di chuyển, làm tổ và phát triển của phôi trong những ngày
đầuCó thể áp dụng những biện pháp khác nhau để cản trở sự thụ tinh và làm
tổ (trong trường hợp muốn tránh thai), hoặc giúp cho nó diễn ra được dễ dàng
(trong trường hợp chữa vô sinh).
Các phương pháp sử dụng trong kế hoạch hoá gia đình được dựa trên cơ
sở sinh lý sinh sản, có thể chia ra làm 4 nhóm như sau:
- ức chế sinh sản ra noãn (chín trứng) hay ức chế phóng noãn (rụng
trứng) đối với nữ và ức chế sản sinh tinh trùng đối với nam.
- Ngăn cản sự thụ tinh, cũng có nghĩa là tránh thai ngoài ý muốn hay
ngoài kế hoạch.
- Ngăn cản quá trình di chuyển trong vòi trứng và quá trình làm tổ trong
tử cung của trứng đã thụ tinh.
- Phá thai sau khi trứng thụ tinh đã làm tổ trong tử cung.
Hiện nay có một số hướng nghiên cứu về vấn đề này như làm ngưng kết
chức năng sinh dục.
Năm 1932, Junkmann chứng minh thêm rằng hệ thần kinh trung ương
(đặc biệt là vùng dưới đồi - hypothalamus) có vai trò quan trọng trong sự điều
hoà chức năng sinh sản, ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm điều hoà
ngược đối với hệ thống nội tiết.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cương K30 C Sinh
Sau đó nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của hypothalamus đối với
chức năng sinh dục. Người ta tìm thấy trong hypothalamus có những chất tiếp
nhận đặc hiệu đối với hoócmôn sinh dục. Lúc đầu người ta chỉ thấy sự gắn đặc
hiệu đối với hoócmôn sinh dục tại hypothalamus và tuyến yên. Từ năm 1953
trở lại đây, người ta đã biết thêm được chức năng sinh dục của hệ limbic.
Trước năm 1970, các nhà khoa học chỉ nói tới vai trò của các chất nội
tiết trong điều hoà chức năng sinh sản. Từ năm 1970 trở lại đây, người ta biết
rõ trong điều hoà chức năng sinh sản gồm có cơ chế thần kinh và nội tiết.
Theo cơ chế điều hoà thần kinh - nội tiết có thể phân biệt 2 vòng điều hoà
trong cơ chế này, đó là vòng điều hoà kín (vòng điều hoà thần kinh - nội
tiết) và vòng điều hoà mở (vòng điều hoà thần kinh bằng phản xạ).
Trong hệ thống điều hoà chức năng sinh dục - sinh sản tuyến yên đóng
vai trò của bộ phận khuếch đại hay phát động, hypothalamus đóng vai trò
điều khiển, còn tuyến sinh dục là yếu tố bị điều khiển hay cơ quan đích.
Trong vòng điều hoà ngược, hypothalamus trở thành yếu tố bị điều
khiển, còn tuyến sinh dục trở thành yếu tố điều khiển.
Như trên đã nói, hai kích dục tố của tuyến yên là FSH (Follicular
và lần có kinh đầu tiên ở nữ. Tuổi dậy thì hoàn toàn của các em gái ở nước ta
khoảng 13 - 14 tuổi. [7]
Từ năm 1976 đến 1980, Đinh Kỷ và Lương Bích Hồng, Cao Quốc Việt
và cộng sự nghiên cứu những biến đổi cơ thể ở lứa tuổi dậy thì trên 2780 học
sinh nam nữ tuổi từ 8 đến 18 ở Hà Nội, các vùng nông thôn Thái Bình và ở
Thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp quan sát lâm sàng kết hợp với
điều tra bằng phiếu.
Từ năm 1982 đến 1988, Nguyễn Thu Nhạn, Cao Quốc Việt và cộng sự
đã nghiên cứu tuổi dậy thì theo phương pháp cắt dọc, theo dõi từng em trong
suốt 7 năm bằng phỏng vấn và khám lâm sàng trên 84 trẻ gái và 72 trẻ trai tại
2 trường PTCS Trung Tự (Hà Nội) và Bắc Lý (Hà Nam Ninh). [11]
Nghiên cứu sự biến động tuổi dậy thì ở các em gái Việt Nam qua các
thập kỷ, có công trình nghiên cứu của Phạm Thị Minh Đức, Lê Thu Liên và
cộng sự. Các tác giả tiến hành nghiên cứu từ năm 1994 đến 1995 ở 3787 đối
tượng là nữ sinh và phụ nữ, tuổi từ 9 đến 60 ở xã Liên Ninh (ngoại thành Hà
Nội) và Thượng Đình (nội thành Hà Nội) theo phương pháp phỏng vấn trực
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cương K30 C Sinh
tiếp. Tất cả các nhóm tác giả nói trên đều nhận định rằng các dấu hiệu về tuổi
dậy thì ở nữ phát triển theo trình tự sau:
- Phát triển tuyến vú -> mọc lông mu -> mọc lông nách -> xuất hiện
kinh nguyệt lần đầu.
- Trẻ nông thôn thường bắt đầu tuổi dậy thì chậm hơn ở thành thị từ 1
đến 2 năm. Các em ở Hà Nội thường có tuổi bắt đầu dậy thì sớm hơn ở các
trên 28 phụ nữ ở Hà Nội, tuổi từ 18 đến 25, có từ 2 con trở lên. Phạm Thị
Minh Đức và cộng sự nghiên cứu 810 phụ nữ tuổi từ 16 đến 60 ở Liên Ninh và
Thượng Đình.
Các tác giả trên cho biết lượng máu kinh nguyệt rất khác nhau giữa các
cá thể. Lượng máu kinh nguyệt của phụ nữ thành phố ít hơn so với phụ nữ
nông thôn và có xu hướng ít dần nếu so giữa các thập kỷ trước với thập kỷ 90.
[9] [11]
1.2.2.3. Các nghiên cứu về tuổi mãn kinh
Tuổi mãn kinh ở phụ nữ Việt Nam đã được ghi trong quyển Hằng số
sinh học người Việt Nam xuất bản năm 1975 và cuốn Các giá trị sinh học
người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX xuất bản năm 2003.
Gần đây đề cập đến vấn đề này có Phạm Thị Minh Đức và cộng sự. Công việc
nghiên cứu của các tác giả này được tiến hành trên 280 phụ nữ ở 2 khu vực nội
và ngoại thành Hà Nội là xã Liên Ninh và Thượng Đình. Kết quả cho thấy tuổi
mãn kinh trung bình là 47,29 đến 47,90 năm. Các tác giả nhận định rằng
không có sự khác biệt về tuổi mãn kinh ở các đối tượng được nghiên cứu vào
thời điểm này so với kết quả nghiên cứu năm 1975 và cuốn Các giá trị sinh
học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 - thế kỷ XX xuất bản năm 2003.
[4] [9]
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cương K30 C Sinh
Chương 2
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Lớp 10: 33 học sinh
Lớp 11: 29 học sinh
Lớp 12: 29 học sinh
+ Phụ nữ trên địa bàn thị trấn Phố Ràng: 90 người.
2.3. Phương pháp và các chỉ số nghiên cứu
2.3.1. Nghiên cứu chiều cao đứng
Sử dụng thước đo điện tử (chính xác đến 0,1 cm). Đo ở tư thế đứng
thẳng trên nền phẳng, 2 gót chân sát nhau, gót chân, mông và xương bả vai
chạm mặt phẳng đứng phía sau. Chiều cao được tính theo đơn vị centimet
(cm).
2.3.2. Nghiên cứu cân nặng
Sử dụng cân điện tử, điều chỉnh trước khi cân, cân chính xác đến 0,1 kg.
Cân được chỉnh liên tục hay thay thế trong thời gian thực hiện nghiên cứu theo
số lần sử dụng/ đơn vị dụng cụ. Đơn vị tính cân nặng là kilogram (kg). Tiến
hành cân vào buổi sáng.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cương K30 C Sinh
ảnh 2.1. Phương pháp đo chỉ số chiều cao đứng và cân nặng
2.3.3. Nghiên cứu chỉ số vòng ngực bình thường
Dùng thước dây dài 150 cm, không co giãn của Trung Quốc, chính xác
đến 0,1 cm.
Đo ở tư thế thẳng đứng, vòng thước dây quanh ngực vuông góc với cột
sống đi qua xương bả vai ở phía sau và mũi ức ở phía trước. Đo ở trạng thái
của thế kỷ XXI (tính theo thời điểm có kinh lần đầu rơi vào thập kỷ nào). So
sánh theo chiều dọc thời gian để có nhận định về tuổi có kinh lần đầu của nữ ở
các thập kỷ khác nhau.
2.3.6. Chu kỳ kinh nguyệt
Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, sau đó ghi vào phiếu điều tra
để nghiên cứu về độ dài vòng kinh và số ngày chảy máu trong một chu kỳ
kinh nguyệt. Những đối tượng nghiên cứu là những người không sử dụng dụng
cụ tử cung. Các đối tượng này cũng được phân nhóm dựa vào tuổi có kinh lần
đầu.
2.3.7. Tuổi mãn kinh
Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, sau đó ghi vào phiếu điều
tra. Các đối tượng nghiên cứu được phân thành nhóm, tính theo tuổi mãn kinh
thuộc các thập kỷ từ 80 đến 90 - thế kỷ XX đến thập kỷ thứ nhất - thế kỷ XXI
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cương K30 C Sinh
ảnh 2.3. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp, ghi vào phiếu điều tra
2.4. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý trên máy tính theo chương trình định sẵn để tính ra
những đặc trưng thống kê như:
- Trung bình cộng: X
n
X=
Trong đó:
2
i 1
Với n < 30
n 1
n : Số cá thể trong mẫu nghiên cứu
(Xi - X ) : Độ lệch của từng giá trị so với giá trị trung bình
- Sai số chuẩn: (SE)
SE =
Trong đó:
SD
n
n : Số lần lặp lại
SD : Độ lệch chuẩn
- Hệ số biến thiên (CV):
CV =
SD
100%
X
SE
CV
chiều cao
trung
bình/năm
10
32
129,68 6,03
1,07
4,65
-
11
28
136,32 5,61
1,06
4,12
150,16 4,97
0,88
3,31
3,96
15
33
153,01 5,45
0,95
3,56
2,85
16
29
154,41 5,21
0,97
3,37
145
140
Nữ sinh Phố Ràng
135
GTSH TK 90 - Thế kỉ XX
130
125
120
10
11
12
13
14
15
16
17
Tuổi
trung
X SD
Mức tăng
X SD
bình/năm
Chênh lệch
trung
bình/năm
10
129,68 6,03
-
126,67 5,35
-
3,01
11
136,32 5,61
3,09
14
150,16 4,97
3,96
147,67 5,56
4,56
2,49
15
153,01 5,45
2,85
151,01 4,79
3,34
2,00
16
154,41 5,21
chiều cao tăng lên đáng kể so với các em nữ trong TK90 - thế kỷ XX, tăng từ
1,96 đến 4,15cm. Nguyên nhân có sự tăng lên đáng kể này là khi điều kiện
kinh tế xã hội ngày càng ổn định, chế độ dinh dưỡng của các em được đảm
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Cương K30 C Sinh
bảo đầy đủ, các em nhận được sự quan tâm chăm sóc chu đáo về mọi mặt từ
gia đình và xã hội.
Bảng 3.3. So sánh chỉ số chiều cao đứng của nữ sinh thị trấn Phố Ràng
đã có kinh nguyệt với nữ sinh chưa có kinh nguyệt (11 - 15 tuổi)
Đơn vị: cm
Chưa có kinh nguyệt
Tuổi
Đã có kinh nguyệt
Chênh
n
X SD
SE
n
20
143,98 6,17
1,38
5,72
13
11
142,21 4,96
1,49
24
148,03 5,03
1,03
5,82
14
4
145,96 6,12
114
cm
155
150
145
Chưa có kinh
Có kinh
140
135
130
125
11
12
13
14
15
Tuổi
Hình 3.2. Đồ thị so sánh chiều cao đứng của nữ sinh đã có kinh và nữ
sinh chưa có kinh
11
12
13
14
15
16
17
Tổng
32
28
37
35
32
33
29
29
255
X SD
23,71
29,65
33,66
37,24
41,18
43,64
44,79
46,02
Trường ĐHSP Hà Nội 2
0,47
12,91
10,49
7,31
9,99
12,09
11,07
7,03
5,50
Mức tăng
cân nặng
trung
bình/năm
5,94
4,01
4,08
3,94
2,46
1,15
1,23