Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA HÓA HỌC
**************************
PHẠM THANH BÌNH
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN HÓA HỌC PHÂN
ĐOẠN CHIẾT HEXAN CỦA CÂY MẦN TƯỚI
(EUPATOLRIUM FORTUNEI)
1
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Hóa hữu cơ
.1 Giảng viên hướng dẫn khoa học:
Ts. Nguyễn Tiến Đạt
Hà Nội, 5 - 2011
MỞ ĐẦU
giải nhiệt, giải cảm, sát trùng, lợi tiểu, kích thích tiêu hóa, mụn nhọt, sang lở,
kinh nguyệt không đều, các chứng sản hậu (chóng mặt, sốt, ho, mệt mỏi, kém
ăn, suy nhược, đau bụng, ứ huyết, rong huyết, bế kinh, hãn thương…). Ngoài
ra phụ nữ còn dùng để gội đầu cho sạch tóc, và dùng để trừ mạt gà, bọ chó.
Tuy nhiên việc nghiên cứu về lá, thân cây Mần tưới vẫn còn những hạn
chế nhất định. Vì vậy tôi đã chọn đề tài: “ Nghiên cứu thành phần hóa học
phân đoạn chiết hexane của cây Mần tưới” nhằm góp phần tìm kiếm các hợp
chất thiên nhiên, tạo cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo, từ đó tìm ra
những ứng dụng hợp lí cho cây Mần tưới, góp phần phát triển nền y học cổ
truyền dân tộc.
Nội dung khóa luận gồm:
3
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
1.Nghiên cứu tổng quan về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học có
trong cây Mần tưới.
2. Phân lập một số hợp chất từ cây Mần tưới bằng phương pháp chiết,
sắc kí.
3. Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất đã phân lập bằng các
phương pháp phổ.
Chương 1 : TỔNG QUAN
1.1. Sơ lược về họ cúc
Họ cúc (Asteraceae) bao gồm chủ yếu các cây thân cỏ, cây bụi và một số
rất ít cây thân gỗ với 1100 giống và gần 20.000 loài. Lá của họ này có thể
1.2.1. Giới thiệu chung
Tên khoa học là : Eupatorium fortunei Turcz
Tên đồng nghĩa : Eupatorium staechadosmum Hance
Phân lớp thực vật :
Ngành : Magnoliophyta
Lớp Magnoliopsida
5
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Bộ Asterales
Họ Asteraceae
Chi Eupatorium
Tên khác : Trạch lan, Lan thảo, Co phất phử (Thái), Eupatoire (Pháp).
1.2.2. Hình thái thực vật và phân bố [1],[4],[5]
Mần tưới:
Mô tả: Cây thuộc thảo, cao trung bình 50cm có thể đến 1m. Thân trụ
tròn, thân và cành nhẵn, cành phân nhiều nhánh. Lá mọc đối thuôn, hình dải
rộng, dài 7-11 cm, rộng 1,2-2,5 cm, nhọn ở đầu, thon hẹp ở gốc, mép lá có
răng cưa nhỏ, gân lá hình lông chim, gân chính nổi ở giữa, có nhiều gân phụ
phân nhánh và khi vò lá có mùi thơm đặc biệt.
Toàn thân: cành, cây, cuống lá có màu hơi tím, lá bắc nhỏ, tù và tròn;
cụm hoa là ngù kép, hoa tím hồng, đôi khi có màu hơi trắng hồng, màu ở đầu
cành hay kẽ lá, tràng hoa loe dần về phía đầu, mào lông dài 3cm, bao phấn
không có tai ở gốc. Quả bế, màu đen, có năm cánh lồi. Mùa hoa vào tháng 711, mùa quả vào khoảng tháng 9-12.
- Công năng: Vị cay, tính bình, hơi ấm, vào hai kinh: can, tì tác dụng
hoạt huyết, phá ứ huyết, thông kinh, lợi tiểu, sát trùng.
- Công dụng:
+ Chữa sốt, chữa mụn nhọt. lở ngứa.
+ Nhân dân ta thường dùng lá Mần tưới non ăn sống, ăn gỏi như các
loại rau thơm. Cũng dùng lá nấu canh ăn cho mát, giải cảm, giải nhiệt. Lá
cũng dùng hãm nước uống lợi tiêu hóa, kích thích ăn ngon miệng và làm rau
thơm.
+ Người ta dùng Mần tưới để trừ ho gà, mạt gà, rệp, bọ chó. Đặt cành lá
Mần tưới vào hũ đựng đậu xanh, đậu đen, cau khô để trừ mọt và sâu, hái cành
lá Mần tưới cho vào ổ gà, ổ chó sau khi đã làm vệ sinh sẽ trừ được bọ gà, bọ
chó có trong ổ, cứ vài ngày lại làm vệ sinh và thay lá một lần. Giường có rệp
sau khi giũ và diệt rệp, rải cành lá Mần tưới vài lần sẽ diệt hết rệp.
+ Người ta dùng lá Mần tưới giã nhỏ cho vào túi vải và xát trực tiếp lên
tay hay chân để xoa muỗi và dĩn (con bộ mát) có hiệu quả tốt trong vòng hai
ba giờ. Phụ nữ nông thôn cũng dùng Mần tưới nấu nước gội đầu cho sạch tóc
[1],[5].
-Bài thuốc [2]:
+ Chữa máu hôi không ra sau khi đẻ: Mần tưới (cả gốc và lá), Ngải
tím, Quế chi, đều nhau. Tán thành bột, lấy chừng 80g, chia làm 2 lần uống với
rượu.
+ Chữa phù thũng sau khi đẻ: Mần tưới, Phòng kỉ, đều bằng nhau tán
nhỏ, mỗi lần uống 8g với giấm làm thang.
+ Chữa mụn nhọt, vết thương ứ huyết: Mần tưới, Huyết giác đều 20g.
Sắc uống. Ngoài thì dùng lá Mần tưới giã nhỏ và đắp lên vết thương.
8
Phenolic là nhóm các hợp chất trong cây mà chứa ít nhất một vòng thơm
bị thế ít nhất một nhóm hydroxyl, nhóm này tự do hay liên kết với các nhóm
chức khác như: este, ester hoặc glycoside. Các hợp chất phenol có màu sắc tự
9
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
nhiên nên có thể lợi dụng màu sắc của chúng để theo dõi quá trình chiết suất
và phân lập.
Có hai hướng chính thơm hóa để sinh ra các phenolic thực vật:
- Hướng phổ biến nhất là đi qua Shikimate (axit Shikimic), từ các
monosaccarit tạo thành các aminoaxit (Phenyl amin và Tyrosime), sau đó loại
nhóm amin cho các axit Cinnamic và các dẫn xuất của chúng gồm: Axit
benzoic, Acetophenone, Lignan, Lignin và Caumarin.
- Con đường thứ hai là đi từ axetat và dẫn đến tạo thành các Poly-βketoester của các Polyketit dài bằng các phản ứng đóng vòng (phản ứng
ngưng tụ Claisen hoặc Andol). Các sản phẩm thường là polycyclic gồm:
Choromen, Isocaumarin, Orcinol, Depside, Depsidoen, Xanthone, Quinone.
Cấu trúc đa dạng của các hợp chất phenol có được là do quá trình sinh
tổng hợp và bởi sự tăng dần tần số kết hợp giữa hai con đường Shikimate và
acetate đối với các hợp chất được tạo thành trong hỗn hợp. Khả năng tham gia
các thành tố thứ ba là hoàn toàn có thể mặc dù với tần số thấp hơn. Sự kết hợp
này được tạo bởi các thành tố tạo bởi hai con đường Shikimate và
Mevalonate, ví dụ như một số loại Quinone hoặc khung Furano và Polycoumarin.
1.3.1.2. Một vài đặc điểm của hợp chất Phenol
Một vài hợp chất của Phenol có thể dễ dàng nhận biết bằng mắt thường
như các Anthocyanin từ hoa, các hợp chất khác có thể nhận biết dưới ánh
nghiên cứu về loài Mần tưới trắng (Eupatorium staechadosmum Hance) được
nhóm nghiên cứu của Lê Văn Hạc công bố vào tháng 10 năm 2004. Trong
công trình này, nhóm nghiên cứu đã tách được tinh dầu của cây Mần tưới
trắng với hàm lượng 0,02% và xác định được thành phần hóa học của tinh dầu
này có 67 hợp chất, trong đó 40 hợp chất đã được xác định danh, thành phần
chính của tinh dầu là β-caryophylen (21,2%), methylthymyl ether (13,7%),
thymohydroquinondiethyl ether (10,2%). [3]
Năm 1986, Mitsumasa Haruna cùng các cộng sự đã xác định được cấu
trúc và lập thể của Eupafortunin, một Germacrane mới thuộc loại
Sesquiterpene lactone phân lập từ loài Mần tưới (Eupatorium fortunei).
11
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Eupafortunin là một Sesquiterpene lactone mới, được phân lập từ Mần
tưới (Eupatorium fortunei), cấu trúc hóa học lập thể của nó được xác định
bằng cách kết hợp các phương pháp hóa lý.
Các hợp chất phân lập được: Eupatofortunin, Eupatoriopicrin. [7]
Hình 1.3. Eupatoriopicrin
Hình 1.2. Eupatofortunin
Năm 1992, K.Liu và các cộng sự đã phân lập được 3 alkaloid
pyrrolizidine từ loài Mần tưới, cấu trúc của 3 hợp chất này được xác định
bằng các phương pháp phổ. Một trong số chúng là chất mới và cấu trúc của
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Hình 1.7. Cấu trúc hóa học một số dẫn xuất thymol từ cây Mần tưới
Năm 2005, Hai Xia Jiang và Kun Gao đã phân lập được hai
monotecpen từ loài Mần tưới (Eupatorium fortunei) và đã xác định được cấu
trúc của hai hợp chất này là [9]. Dưới đây là cấu trúc của hai monotecpen này:
15
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Hình 1.9.
Hình 1.8. (1R*,2S*,3R*,4R*,6S*)
(1S*,2S*,3S*,4R*,6R*)-1,2,3,6-
-1,2,3,6-tetrehydroxy-p-
tetrehydroxy-p-menthane
menthane
các dẫn xuất của Thymol phân lập từ Eupatorium fortunei, các dẫn xuất
Thymol đó kháng được 8 loại vi khuẩn theo phương pháp pha loãng agar [1].
Năm 2005 Hai Xia Jiang và Kun Gao có một công trình công bố 2
monotecpen có tính oxi hóa cao, được phân lập từ phần EtOAc của dịch chiết
MeOH của mẫu cây này. Phần EtOAc cho thấy cytotoxicity yếu: IC50 = 69,5
và 86,1 µg/ml chống lại các tế bào HL-60 và SMMC-7721 bằng phương pháp
SRB [9]. 4tecpenoid mới có tên là rel-(1R,2S,3R,4R,6S)-p-menthane-1,2,3,6tetrol, rel-(1R,2R,3R,4S,6S)-p-menthane-1,2,3,6,tetrol, 9-hydroxythymol 3O-angelate và (3β,20R)-20-hydroxylanost-25-en-3-yl-palminate, chúng có
hoạt tính xitotoxic chống lại các dòng tế bào HL-60, SMMC-7721 và LO2
[10].
Các loài thực vật trong chi Eupatorium thể hiện nhiều hoạt tính sinh học
thú vị, đặc biệt các dẫn xuất thymol có khả năng kháng được 8 loại vi khuẩn.
Việc nghiên cứu thành phần hóa học của các loài trong chi này còn mới nên
còn nhiều hạn chế, phần lớn mới tập trung vào loài Eupatorium
staechadosmum Hance. Việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu thành phần hóa học và
hoạt tính sinh học của các chất có trong loài thuộc chi Eupatorium có tác
dụng làm thuốc là một vấn đề thú vị đang cần các nhà khoa học quan tâm.
18
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Chương 2 :
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mẫu thực vật
Cây Mần tưới được thu hái vào tháng 06 năm 2010 tại Hòa Bình. Mẫu
cây được TS. Trần Huy Thái, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện
Với KA là hằng số phân bố.
CA, CB: nồng độ chất hòa tan trong hai pha lỏng A, B không tan lẫn.
2.2.1.3. Quá trình chiết thực vật
2.2.1.3.1. Hợp chất tự nhiên trong cây
Dựa vào chức năng sinh học, người ta chia các hợp chất trong cây thành
hai nhóm lớn:
- Chất chuyển hóa sơ cấp (primary metabolite).
- Chất chuyển hóa thứ cấp (secondary metabolite).
Chất chuyển hóa sơ cấp là chất tham gia vào quá trình sinh trưởng của
cây như hydrat cacbon, lipit, axit amin. Nói chung là chúng không thể thiếu
trong cây cỏ.
Chất chuyển hóa thứ cấp là những chất mà vai trò chủ yếu của chúng
không phải để nuôi sống và phát triển cây cỏ, chúng có thể có ở cây này và
vắng mặt ở cây kia. Có rất nhiều giả thiết về vai trò của chúng trong thực vật.
Có ý kiến cho rằng chúng là những chất thải, góp phần giải độc cho cây
(ancaloid, tinh dầu), góp phần bảo vệ chống các tác nhân làm hại cây
(flavonoid, saponin, tinh dầu, terpenoid…), hoặc góp phần tạo màu sắc, quyến
rũ ong bướm giúp cho sự phát triển nòi giống (flavonoid, carotenoid…)v.v…
Do có tác dụng sinh lý và dược lý như tác dụng kháng sinh, diệt nấm, tác
dụng ức chế hoặc tác dụng gây độc đối với tế bào, tác dụng kích thích hoặc ức
chế sinh trưởng và các tác dụng khác mà các chất trao đổi bậc hai là đối tượng
nghiên cứu quan trọng trong các lĩnh vực như y dược học, nông nghiệp.
Trong cây các hợp chất hữu cơ có tính chất hóa lý rất khác nhau, chúng
tồn tại ở dạng hòa tan trong nước, dầu béo hoặc tinh dầu. Các chất hòa tan
trong nước (dịch tế bào) là các hydrat cacbon phân tử bé (monosaccarit,
oligosaccarit), một số polysacarit (pectin, gôm), các glycozit (saponin,
flavonoid…), muối ancaloid của các axit hữu cơ, axit vô cơ, axit amin, muối
20
môi
như
diankylphtalat,
tri-n-butyl-axetylcitrat,
tributylphosphat…do trong quá trình sản xuất hay bảo quản, sẽ làm sai lệch
kết quả phân lập trong các quá trình nghiên cứu hóa thực vật. Clorofom,
metanol và etanol là những dung môi thường được lựa chọn trong quá trình
chiết sơ bộ một bộ phận của cây như lá, thân, rễ, hoa…
21
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Người ta cho rằng dung môi thuộc nhóm rượu sẽ thấm tốt hơn lên màng
tế bào nên quá trình chiết với các dung môi này sẽ thu được triệt để hơn các
thành phần có trong tế bào. Ngược lại, khả năng phân cực của Clorofom thấp
hơn, có thể rửa các chất nằm ngoài tế bào.
Các ancol hòa tan phần lớn các chất chuyển hóa phân cực cùng các chất
phân cực trung bình và thấp, vì vậy khi chiết với ancol thì các chất này sẽ bị
hòa tan đồng thời. Thường thì dung môi cồn trong nước dường như có đặc
tính tốt nhất trong quá trình chiết sơ bộ.
Sau khi chiết, dung môi được tách ra bằng máy cô quay ở nhiệt độ không
quá 450C, với các chất chịu nhiệt thì có thể thực hiện ở nhiệt độ cao hơn.
Như vậy tùy thuộc vào mục đích cần lấy chất gì để lựa chọn dung môi
thích hợp và thực hiện quy trình chiết hợp lý để đạt hiệu quả cao nhất.
2.2.2. Các phương pháp sắc kí
2.2.2.1. Đặc điểm chung của các phương pháp sắc kí
Sắc kí là một phương pháp vật lý dùng để tách riêng các thành phần ra
khỏi hỗn hợp bằng cách phân bố chúng ra hai pha: một pha có bề mặt rộng
gọi là pha tĩnh (hay là pha cố định) và pha kia là một chất lỏng hoặc khí gọi là
pha động (hay là pha di động), di chuyển đi qua pha tĩnh. Trong quá trình sắc
kí, pha động chuyển động dọc theo hệ sắc kí hết lớp pha tĩnh này đến lớp pha
tĩnh khác, quá trình hấp phụ và giải hấp phụ lặp đi lặp lại. Kết quả là các chất
có ái lực lớn hơn với pha tĩnh sẽ chuyển động chậm hơn so với chất tương tác
yếu hơn. Nhờ đặc điểm này mà người ta có thể tách các chất qua quá trình sắc
kí.
2.2.2.2. Cơ sở của phương pháp sắc kí
Phương pháp sắc kí dựa vào sự phân bố khác nhau của các chất giữa pha
động và pha tĩnh. Ở điều kiện nhiệt độ không đổi, định luật mô tả sự phụ
thuộc của lượng chất bị hấp phụ lên pha tĩnh với nồng độ dung dịch gọi là
định luật hấp phụ đơn phân tử đẳng nhiệt Langmuir:
n = n∞bC/(1+bC)
Với:
23
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
b, Sắc kí lớp mỏng
Sắc kí lớp mỏng (SKLM) là phương pháp phân tách các dung dịch chất
phân tách di chuyển trên một lớp chất hấp phụ mịn, vô cơ hay hữu cơ, theo
một chiều nhất định. Trong quá trình di chuyển, mỗi thành phần chuyển dịch
với tốc độ khác nhau tùy theo bản chất của chúng và cuối cùng dừng lại ở các
vị trí khác nhau.
Chất hấp phụ thường được sử dụng trong SKLM là silicagel tráng trên
đế nhôm hay đế thủy tinh. Trong quá trình hấp phụ, sẽ xảy ra sự tranh giành
giữa dung môi và chất tan để chiếm chỗ trên bề mặt chất hấp phụ, và khi đạt
được cân bằng, mỗi chất tan sẽ chiếm ở mỗi vị trí khác nhau trên bản mỏng.
Để tiến hành sắc kí, chất tan được chấm lên bản thành từng vết chấm
nhỏ, sấy cho dung môi bay hơi hết rồi triển khai với hệ dung môi thích hợp
trong một bình triển khai kín. Để kiểm tra vết chất có thể sử dụng thuốc thử
hiện màu hoặc soi trên đèn UV. Thuốc thử hiện màu có thể là hơi ammoniac
hoặc dung dịch axit sunfuric 10%. Để hiện vết người ta nhúng bản vào thuốc
thử hoặc phun lên bản mỏng sau đó hơ bản trên bếp điện hoặc sấy nóng để vết
xuất hiện từ từ. Phương pháp này thường được sử dụng để kiểm tra và định
hướng cho sắc kí cột.
Một hình thức SKLM khác cũng được sử dụng trong nghiên cứu hợp
chất tự nhiên là SKLM điều chế, dùng để điều chế, thu chất trực tiếp. Ở
phương pháp này, quá trình thực hiện tương tự SKLM và sau khi triển khai
xong, soi UV để xác định vết rồi cạo lấy lớp silicagel chứa chất cần điều chế,
tiến hành rửa giải để thu chất.
Ký hiệu DC-Alufolien 60 F254 có nghĩa là bản mỏng được tráng silicagel
có kích cỡ rỗng là 60 A0 (đọc là ăng-s-trông) và có trộn với chất phát huỳnh