Trường Đại học sư phạm hà nội 2
Khoa sinh - KTNN
****************
Bùi thị tâm thức
Vận dụng phương pháp hỏi đáp tìm tòi bộ
phận trong dạy học chương IV: sinh sản
sách giáo khoa sinh học 11. ban cơ bản.
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Sinh học
Người hướng dẫn khoa học:
Th.S Trần Thị Hường
Hà nội - 2008
Khoá luận tốt nghiệp đại học
lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành, sâu sắc của mình tới cô giáo
Th.s. Trần Thị Hường đã tận tình giúp đỡ hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ phương pháp sinh
học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin cảm ơn bạn bè thầy cô luôn hướng dẫn , động viên tôi hoàn thành
khoá luận tốt nghiệp của mình.
Hà Nội , tháng 5 năm 2008
9. Tế bào
: TB
4
Bùi Thị Tâm Thức K30B Sinh - KTNN
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Mục lục
Phần 1: Mở đầu ............................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài .................................................................................................6
2. Mục đích nghiên cứu...........................................................................................7
3. Giới hạn nghiên cứu ............................................................................................7
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ..........................................................................................7
Phần 2: Nội dung ............................................................................................. 7
Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu............................................... 8
1.1. Lược sử về phương pháp hỏi đáp - tìm tòi bộ phận ..........................................8
1.2. Tình hình nghiên cứu, vận dụng phương pháp hỏi đáp - tìm tòi bộ phận trong
dạy học SGK cơ bản. ...............................................................................................8
1.3. Cơ sở lý luận ....................................................................................................9
1.3.1. Khái niệm về phương pháp dạy học ................................................ 9
1.3.2. Khái niệm về phương pháp hỏi đáp. .............................................. 10
1.3.3. Phương pháp hỏi đáp - tìm tòi bộ phận ......................................... 11
1.3.4. Vai trò của phương pháp hỏi đáp - tìm tòi bộ phận..................... 12
hệ trẻ có trình độ khoa học kỹ thuật, năng động, sáng tạo trong lý luận và hoạt
động thực tiễn.
Sinh học là môn khoa học thực nghiệm đòi hỏi rất nhiều những kiến
thức liên quan đến thực tế. Nhưng hiện nay một số phương pháp dạy học môn
sinh học ở trường phổ thông vẫn còn gây cho học sinh mệt mỏi , không hứng
thú học tâp, không phát huy tư duy sáng tạo của học sinh . Do đó đòi hỏi giáo
viên phải tìm được phương pháp dạy học có hiệu quả sư phạm cao, khắc phục
được những mặt còn hạn chế trong dạy học .
Để phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh đã có nhiều
phương pháp dạy học được áp dụng. Một trong các phương pháp đó là phương
pháp hỏi đáp- tìm tòi bộ phận. Phương pháp dạy học này vừa gây được hứng
thú, khát vọng tìm tòi của học sinh, vừa phát triển khả năng tư duy, cách lập
luận lôgic một vấn đề.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn.
Năm học 2007 - 2008 lần đầu tiên SGK mới lớp 11 được đưa vào giảng
dạy và học tập ở tất cả các trường trung học trong cả nước.
Chương trình đưa vào SGK ban cơ bản có sự đổi mới về nội dung kiến
thức và hình thức trình bày. Trong đó về nội dung có sự cắt giảm những kiến
6
Bùi Thị Tâm Thức K30B Sinh - KTNN
Khoá luận tốt nghiệp đại học
thức thông báo, tăng cường nội dung kiến thức cơ bản và kiến thức ứng dụng,
đồng thời cũng có sự thay đổi trình tự nội dung chương trình.
Là một sinh viên sư phạm sắp ra trường được tiếp cận ngay với SGK
mới do đó đòi hỏi phải có sự chuẩn bị nhất định
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu
ý, sáng tạo của học sinh.
- Phương pháp này đơn giản, dễ áp dụng.
Tuy nhiên nhiều giáo viên còn lúng túng trong việc xây dựng câu hỏi và
câu hỏi chưa chau chuốt lắm nên vẫn chưa phát huy được hết tác dụng tích cực
của học sinh.
SGK cơ bản lớp 11 mới biên soạn được nhiều nhà giáo dục quan tâm
nghiên cứu, nhận xét: Thiết kế giáo án theo các phương pháp dạy học khác
nhau tuy nhiên việc áp dụng phương pháp hỏi đáp - tìm tòi bộ phận để dạy
các bài trong SGK cơ bản là một hướng phổ biến và đặc biệt coi trọng. Chính
vì vậy, chúng tôi chọn hướng nghiên cứu: Vận dụng phương pháp hỏi đáp tìm tòi bộ phận trong dạy học chương IV: Sinh sản - SGK Sinh học lớp 11 .
Ban cơ bản.
1.3. Cơ sở lý luận
1.3.1. Khái niệm về phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của thầy tạo ra mối liên hệ
qua lại với hoạt động của trò để đạt được mục đích dạy học.
Có rất nhiều phương pháp dạy học, dựa vào cơ sở phân loại khác nhau
mà có các nhóm phương pháp cụ thể khác nhau:
- Dựa vào nguồn tri thức và tính đặc trưng của sự tri giác thông tin:
+ Phương pháp dùng lời
+ Phương pháp trực quan
+ Phương pháp thực hành
- Căn cứ vào mục đích lý luận dạy học:
+ Nghiên cứu tài liệu mới, hình thành kỹ năng, kỹ xảo.
9
Bùi Thị Tâm Thức K30B Sinh - KTNN
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Khoá luận tốt nghiệp đại học
tổng hợp những tri thức đã có để tìm ra lời giải mà các em cho là đúng nhất.
[7].
Tuỳ mức độ, yêu cầu của câu hỏi mà chia thành hai kiểu:
- Phương pháp hỏi đáp - tái hiện thông báo
- Phương pháp hỏi đáp - tìm tòi bộ phận
1.3.3. Phương pháp hỏi đáp - tìm tòi bộ phận
Phương pháp thầy tổ chức sự trao đổi, kể cả tranh luận giữa thầy và cả
lớp, có khi giữa trò với nhau thông qua đó mà đạt được mục đích dạy học. Hệ
thống câu hỏi của thầy phải mang tính chất nêu vấn đề Ơrixtic để buộc trò
phải luôn ở trạng thái nêu vấn đề, căng thẳng trí tuệ và tự lực tìm lời giải đáp
qua đó trò không những lĩnh hội được cả nội dung trí dục mà còn học được cả
phương pháp nhận thức và cách diễn đạt tư tưởng bằng ngôn ngữ nói.
Trong phương pháp này hệ thống câu hỏi của thầy giữ vai trò chỉ đạo có
tính chất quyết định đối với chất lượng lĩnh hội của cả lớp. Trong đó thầy
giống như người tổ chức, còn trò có vẻ như người phát hiện. Thầy như nhà đạo
diễn còn trò như người diễn viên, trò có vẻ như tự lực tìm ra chân lý và chính
khía cạnh này đã tạo ra cho trò niềm vui sướng của nhận thức, một tình cảm
rất tốt đẹp cần trồng cấy ở học sinh. Cuối cùng, phương pháp này nằm ở mức
thứ hai của dạy học nêu vấn đề. ở đây có cả thầy và trò tham gia hoạt động
trên lớp [7, trang 91-93].
Phương pháp hỏi đáp - tìm tòi bộ phận khác với đàm thoại (đang rất phổ
biến trong thực tế dạy học ở phổ thông, chỉ đòi hỏi học sinh nhớ lại những
kiến thức đã có) ở một số đặc điểm riêng sau:
- Tính mục đích của đàm thoại đối với học sinh là giải quyết một vấn đề
mới nào đó.
- Mối liên hệ lôgic của hệ thống câu hỏi, thể hiện các bước giải quyết
Mặc dù phương pháp hỏi đáp - tìm tòi bộ phận là một trong những
phương pháp dùng lời những vẫn phát huy được cao độ tính tích cực, sáng tạo
của học sinh.
12
Bùi Thị Tâm Thức K30B Sinh - KTNN
Khoá luận tốt nghiệp đại học
1.3.5. Những yêu cầu sư phạm của câu hỏi sử dụng trong phương
pháp hỏi đáp - tìm tòi bộ phận.
* Để xây dựng được hệ thống câu hỏi hợp lí cần tuân thủ các quy trình
nhất định. Giáo viên có thể lựa chọn cách làm thích hợp nhất với khả năng và
ý đồ của mình nhưng tối thiểu phải qua những bước cơ bản sau:
- Chuẩn bị câu hỏi ban đầu: Phải xác định nội dung và ý chính của nội
dung học tập, cần phải hỏi về những gì? Hỏi để làm gì? Cần dự kiến hai nhóm
câu hỏi:
+ Câu hỏi chốt - bao quát nội dung học tập cơ bản, không thể không
hỏi, có liên quan đến những ý chính của bài học, không nhiều 3 - 4 câu.
+ Câu hỏi mở rộng được chuẩn bị dưới dạng các tình huống dự kiến, giả
định.
- Đối chiếu và thích ứng các câu hỏi với đặc điểm và trình độ khác nhau
của học sinh. Cần xem xét những đặc tính sau của câu hỏi:
+ Tính rõ ràng, sáng sủa: Câu hỏi đơn giản theo nghĩa tránh rắc rối, đa
nghĩa, cần phải rõ nghĩa, rõ ý, tập trung vào một vấn đề có liên quan đến chủ
đề hoặc khái niệm chủ yếu.
+ Tính thách thức: Câu hỏi tránh lặp đi lặp lại, chỉ xoáy vào một số sự
kiện, dễ quá, tránh trường hợp đáp án đã có sẵn trong SGK hay đã vô tình
+ Hình thái - hội tụ hay phân kỳ, dài hay ngắn. Phức tạp hay đơn giản.
+ Mục đích - hướng dẫn hay chẩn đoán, khuyến khích, động viên hay
tất cả.
+ Tính đối tượng - nhận thức hay giá trị. Sự kiện - nhân vật hay nguyên
lý - khái niệm, tri thức hay kỹ năng, nội dung hay ý nghĩa công dụng .
+ Tính năng câu hỏi chốt hay mở rộng.
+ Hình thức ngôn ngữ - Cái gì, ai, ở đâu, khi nào hay tại sao như thế
nào, làm thế nào.
- Khích lệ học sinh suy nghĩ để trả lời: Cần phát triển câu hỏi động viên
khuyến khích, thăm dò giá trị, gợi nhớ kinh nghiệm.cùng với những hành vi
ứng xử không lời thân thiện, biểu cảm, hấp dẫn - Biết chờ đợi trong giây lát
cần thiết (lớp nhỏ là 5 - 6 giây, lớp lớn là 3 - 5 giây).
- Duy trì tiến trình hỏi đáp bằng các câu hỏi: Sử dụng các kiểu loại câu
hỏi thăm dò giá trị, chẩn đoán và hướng dẫn, kết hợp với trình diễn trực quan
14
Bùi Thị Tâm Thức K30B Sinh - KTNN
Khoá luận tốt nghiệp đại học
tài liệu, thực nghiệm, hay các kỹ năng, kịp thời hình thành và sử dụng câu hỏi
bổ trợ, mở rộng, vừa hướng dẫn, vừa cũng cố những kết quả mà học sinh đạt
được.
- Đánh giá và thu nhận thông tin phản hồi về kết quả và quá trình học
tập. Nên dùng câu hỏi phân kỳ, có tính vấn đề với một phương án khó và một
phương án dễ kết hợp với nhau. Cách hỏi này đánh động đồng thời nhiều học
sinh, chỉ cần một vài em trả lời nhưng giáo viên vẫn nắm được tình trạng
chung nhờ quan sát phản ứng của cả nhóm hay cả lớp. Nó cho phép quét được
các trình độ khác nhau từ dễ đến khó, vì thế đánh giá được cả trình độ trung
cố của giáo viên.
Luôn bám sát nhóm của câu hỏi chốt đã chuẩn bị từ trước.
- Chủ động cảnh giác với những câu hỏi của học sinh đặt ra cho giáo
viên theo phương châm chung là chuyển câu hỏi đó cho các em khác trả lời
còn giáo viên gợi ý để học sinh suy nghĩ cách trả lời câu hỏi.
- Khi dùng câu hỏi để kiểm tra và tổng kết bài, cần tận chúng để nêu
vấn đề hay nhiệm vụ mới.
* Những điều không nên làm khi nêu câu hỏi:
- Những câu cụt lủn, tuỳ tiện và quá dễ dãi. Không đặt những câu hỏi có
hay không, câu hỏi đã có đáp án ngay cạnh đó hoặc câu hỏi không có đáp án
bao giờ cũng như câu hỏi về loại chân lí muốn thuở câu hỏi vụn vặt, câu hỏi
áng chừng; Những câu hỏi trùng lặp, tối nghĩa hoặc có thể hiểu theo nhiều
nghĩa khác nhau; Những câu hỏi mớm lời , gà cách mách nước lộ liễu: Những
câu hỏi bỏ ngỏ cái đuôi để học sinh dễ dàng nói đế theo, nói dựa và cười đùa;
Những câu hỏi làm học sinh bối rối và bế tắc; Những câu hỏi sẵng giọng, tra
xét, gắt gỏng, thẩm vấn.
- Gọi tên học sinh hay chỉ định một học sinh trước khi và ngay sau khi
nêu câu hỏi; Lạm dụng những học sinh giỏi, nhanh nhẹn, hăng hái tham gia;
Cho phép hoặc bỏ qua những câu trả lời cẩu thả, những hành vi và ngôn ngữ
giao tiếp sỗ sàng của học sinh khi trả lời câu hỏi [7].
* Sau khi xây dựng hệ thống câu hỏi hợp lý cần tổ chức hoạt động của
học sinh trong phương pháp hỏi đáp - tìm tòi bộ phận có thể theo ba phương
án:
16
Bùi Thị Tâm Thức K30B Sinh - KTNN
Khoá luận tốt nghiệp đại học
2.1.2. Chương IV sinh học 11 ( Ban cơ bản)
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Nghiên cứu lý thuyết trên cơ sở tham khảo tổng hợp các tài liệu.
- Tài liệu về đường lối của Đảng, bộ, ngành giáo dục để nắm vững được
hướng giảng các bài trong chương nghiên cứu.
- Lý luận dạy học sinh học, các tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học
để xây dựng cơ sở lí luận của phương pháp hỏi đáp - tìm tòi bộ phận.
- Các sách tham khảo về động vật thực vật để phân tích cấu trúc nội
dung và soạn giáo án Chương IV sinh học 11
2.2.2. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến nhận xét, đánh giá của những giáo viên Sinh học THPT có
kinh nghiệm về chất lượng của các giáo án nói chung hệ thống các câu hỏi sử
dụng trong các giáo án nói riêng.
18
Bùi Thị Tâm Thức K30B Sinh - KTNN
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chương 3
Một số giáo án soạn
theo phương pháp hỏi đáp - tìm tòi bộ phận
A - Sinh sản ở thực vật
3.1 .
Bài 41. Sinh sản vô tính ở thực vật
- Đối với đời sống con người có vai trò quan trong trong nông lâm
nghiệp.
2. Lôgíc bài
Đây là bài mở đầu của chương Sinh sản và phần A sinh sản ở thực vật.
Do đó có phần khái niệm chung về sinh sản. Trong phần khái niệm chung về
sinh sản ở thực vật có hai kiểu sinh sản đó là sinh sản vô tính và sinh sản hữu
tính. Như vậy học sinh sẽ nhớ lại được sinh sản là gì và ở thực vật cũng như
động vật có những kiểu sinh sản nào.
Trong phần sinh sản vô tính ở thực vật SGK giới thiệu một cách hợp lí
phần này giúp cho học sinh lĩnh hội được lượng thông tin phong phú về các
hình thức sinh sản vô tính ở thực vật. Từ những hiểu biết đó người ta đã áp
dụng được các hình thức sinh sản vô tính vào thực tiễn như thế nào.
B. Một kiểu thiết kế bài 41
I. Mục tiêu bài học
- Nêu được khái niệm sinh sản
- Phân biệt được sự khác biệt cơ bản của 2 hình thức sinh sản vô tính và
sinh sản hữu tính
- Trình bày được đặc điểm của các hình thức sinh sản vô tính của thực
vật
- Giải thích được cơ sở khoa học và trình bày được cách tiến hành các
phương pháp nhân giống vô tính
- Nêu được vai trò của sinh sản vô tính ở thực vật và ứng dụng của sinh
sản vô tính trong đời sống con người.
II. Phương tiện dạy học
1. Các hình vẽ 41.1; 41.2 SGK
2. Một số mẫu vật: Khoai tây nảy chồi , dây rau má, lá bỏng nảy chồi,
cành giâm, cành chiết .
20
Hạt ngô nảy mầm
- GV chính xác
Lá bỏng nảy chồi ở mép lá thành
Cây ngô
cây bỏng
Lợn đẻ con, tre mọc măng.
- Hỏi: Sinh sản là gì? Dấu hiệu nào
giúp ta nhận biết hiện tượng sinh sản
của sinh vật? Sự sinh sản có ý nghĩa
gì đối với sinh vật?
- HS trả lời
21
Bùi Thị Tâm Thức K30B Sinh - KTNN
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Hoạt động của thầy và trò
- GV chốt kiến thức
Nội dung ghi bảng
- Khái niệm: Sinh sản là quá trình tạo
ra những cá thể mới đảm bảo sự phát
triển liên tục của loài.
thức sinh sản không có sự hợp nhất
của giao tử đực và giao tử cái, con cái
giống nhau và giống cây mẹ.
- GV hỏi: ở thực vật có những hình
22
Bùi Thị Tâm Thức K30B Sinh - KTNN
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Hoạt động của thầy và trò
Nội dung ghi bảng
thức sinh sản nào. Hãy kể tên một số
hình thức sinh sản vô tính ở thực vật
mà em biết?
2. Các hình thức sinh sản vô tính ở
thực vật
- HS: Trả lời
- GV: Chốt kiến thức
- Có 2 hình thức
+ Sinh sản sinh dưỡng
+ Sinh sản bằng bào tử
(Rễ, thân, lá).
23
Bùi Thị Tâm Thức K30B Sinh - KTNN
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Hoạt động của thầy và trò
Nội dung ghi bảng
- Hỏi: Hãy kể tên một số thực vật có b. Sinh sản bằng bào tử
khả năng sinh sản bằng bào tử?
- Ví dụ: Rêu, dương xỉ
- GV yêu cầu học sinh quan sát hình
41.1 SGK. Xác định cơ quan sinh
sản (túi bào tử) của dương xỉ xác
định cơ quan sinh dưỡng (rễ, thân,
lá)
- Hỏi: Trình bày tóm tắt quá trình
sinh sản bằng bào tử của rêu
và
dương xỉ?
- HS trả lời
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Hoạt động của thầy và trò
Nội dung ghi bảng
- GV chính xác
- Sinh sản bằng bào tử là hình thức
sinh sản vô tính trong đó cơ thể mới
được sinh ra từ tế bào được gọi là bào
tử. Bào tử được hình thành từ một cơ
quan chuyên biệt trên cơ thể mẹ
lưỡng bội gọi là túi bào tử.
- Hiệu suất sinh sản cao.
Chuyển ý: Người ta đã ứng dụng III. ứng dụng của sinh sản vô tính
sinh sản vô tính ở thực vật như thế ở thực vật.
nào, chúng ta cùng tìm hiểu phần III
1. Nhân giống vô tính
- Hỏi: kể tên các phương pháp nhân
giống vô tính ở thực vật?
- HS trả lời
- GV chính xác
- Gồm: Giâm cành, chiết cành, ghép
cành