nâng cao sức cạnh tranh của dịch vụ vận tải Container tại công ty cổ phần GEMADEPT - Pdf 31

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Trờng đại học kinh tế quốc dân
khoa kinh tế và kinh doanh quốc tế
Chuyên ngành quản trị kinh doanh quốc tế

CHUYÊN Đề TốT NGHIệP
Đề tài:

NÂNG CAO sứC CạNH TRANH CủA DịCH Vụ VậN TảI
CONTAINER TạI CÔNG TY Cổ PHầN GEMADEPT
Giáo viên hớng dẫn
: thS. nGUYễN THị THANH Hà
Sinh viên thực hiện:
Chu Nam Trung
Lớp :
KDQT A
Khoá:
46
Hệ:
chính quy

Hà Nội - 2008
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong suốt những năm qua, đặc biệt là từ khi Việt Nam thực hiện chính
sách mở cửa, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Vận tải biển Việt Nam nói
riêng đã và đang có sự phát triển mạnh mẽ. Chính sách mở cửa gắn liền với quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế đã làm cho khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu
tăng lên nhanh chóng, kéo theo đó là sự phát triển của thị trường Hàng hải Việt
Nam.

Gemadept.
Nhiệm vụ của chuyên đề:
• Hệ thống hóa lý luận về sức cạnh tranh của dịch vụ vận tải
container, làm rõ phương pháp luận đánh giá sức cạnh tranh của dịch vụ vận tải
container.
• Phân tích, đánh giá thực trạng sức cạnh tranh của dịch vụ vận tải
container của công ty cổ phần Gemadept trong thời gian vừa qua.
• Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của dịch
vụ vận tải container của công ty cổ phần Gemadept trong thời gian tới nói riêng
và các công ty cung ứng dịch vụ vận tải container khác nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp chính là sức cạnh tranh
của dịch vụ vận tải container, cụ thể khóa luận sẽ tập trung nghiên cứu sức cạnh
tranh của dịch vụ vận tải container của công ty cổ phần Gemadept.
- Phạm vi nghiên cứu:
Chu Nam Trung Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
+ Về không gian: Thị trường dịch vụ vận tải container đường biển Việt
Nam.
+ Về thời gian: Từ năm 2004 – 2007.
4. Kết cấu của chuyên đề.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề của em được chia làm ba
chương:
Chương I: Lý luận chung dịch vụ vận tải container và sức cạnh tranh
của dịch vụ vận tải container.
Chương II: Thực trạng sức cạnh tranh của dịch vụ vận tải container tại
công ty cổ phần Gemadept.
Chương III: Định hướng và một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh
tranh của dịch vụ vận tải container tại công ty cổ phần Gemadept.

tiêu chuẩn hóa, có sức chứa lớn, có thể tách biệt khỏi phương tiện vận tải, bốc
xếp như một đơn vị trọng tải, và chuyển tải không phải xếp dỡ lại hàng hóa bên
trong.
1.1.1.2. Phân loại container
o Phân loại theo kích thước container.
+ Container loại nhỏ: Trọng lượng dưới 5 tấn và dung tích dưới 3m
3
.
+ Container loại trung bình: Trọng lượng 5 – 8 tấn và dung tích nhỏ hơn
10m3.
+ Container loại lớn: Trọng lượng hơn 10 tấn và dung tích hơn 10m
3
.
Để phương thức chuyên chở hàng hóa bằng container được phát triển và
áp dụng phổ biến đòi hỏi tiến hành tiêu chuẩn hóa container về hình thức bên
ngoài, về trọng lượng, về kết cấu nóc, cửa, khóa container…
Cho đến nay có rất nhiều tổ chức trên thế giới nghiên cứu để tiêu chuẩn
hóa container, song tổ chức ISO vẫn là tổ chức đóng vai trò quan trọng nhất.
Năm 1967, đại diện tổ chức tiêu chuẩ1n hóa của 16 quốc gia thành viên của ISO
đã chấp nhận tiêu chuẩn hóa container của Ủy ban kỹ thuật thuộc ISO.
Bảng 1.1: Tham số kỹ thuật của một số loại container theo tiêu chuẩn ISO

hiệu
Chiều cao Chiều rộng Chiều dài Trọng
lượng
Trọng
lượng
Dung
tích
Foot Mm Foot Mm Foot mm

12.190
12.190
9.125
6.055
2.990
30
30
25
20
10
27.0
27.0
23.0
18.0
8.7
61.0
61.0
45.5
30.5
14.3
1.E 8.0 2345 8.0 2345 6.5 1.965 7 6.1 9.1
Chu Nam Trung Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.F 8.0 2345 8.0 2345 4.9 1.460 5 4.0 7.0
Nguồn: Giao nhận vận tải hàng hóa quốc tế, 2002
Theo quy ước thì container loại 1.C có chiều dài 19,1 feet, trọng lượng tối đa 20
tấn, dung tích chứa hàng hóa 30,5 m
3
được lấy làm đơn vị chuẩn để quy đổi cho

1.1.2.1. Khái niệm về dịch vụ vận tải container.
Để có thể hiểu đầy đủ về khái niệm dịch vụ vận tải container, trước hết
chúng ta tìm hiểu thế nào là dịch vụ: Dịch vụ là một loại hoạt động hay lợi ích
được cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc
chuyển quyền sở hữu.
Dịch vụ vận tải container là loại hình dịch vụ nhận gửi, vận tải các loại
hàng hóa được đóng trong các container theo một lịch trình và thời gian xác định
trước.
1.1.2.2. Các loại hình dịch vụ vận tải container
1.1.2.2.1 Sự ra đời và phát triển của hệ thống vận tải container
Sự ra đời của hệ thống vận tải container
Quá trình vận tải luôn được cải tiến và hoàn thiện không ngừng. Mục
đích chủ yếu của việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và tổ chức
trong vận tải là rút ngắn thời gian chuyên chở, đảm bảo an toàn cho đối tượng
chuyên chở và giảm chi phí chuyên chở tới mức thấp nhất.
Thời gian khai thác công cụ vận tải bao gồm thời gian chạy trên đường
và thời gian đỗ tại các điểm vận tải như ga, cảng…
Đối với các phương thức vận tải khác nhau thì tỷ lệ thời gian trên là
không giống nhau.
Muốn rút ngắn thời gian chuyên chở thì phải tăng tốc độ vận chuyển của
công cụ vận tải và giảm thời gian đỗ tại các ga, cảng… Việc tăng tốc độ kỹ thuật
của công cụ vận tải sẽ không đạt được hiệu quả kinh tế nếu như không giảm
được thời gian đỗ tại các ga, cảng…Do vậy, để tăng năng lực vận tải và năng
suất chuyên chở thì vấn đề cơ bản nhất là tăng cường cơ giới hóa khâu xếp dỡ
Chu Nam Trung Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hàng hóa ở các điểm vận tải. Một trong những yếu tố chủ chốt để thúc đẩy cơ
giới hóa toàn bộ khâu xếp dỡ hàng hóa là tạo ra những kiện hàng thích hợp gọi
là “đơn vị hóa” hàng hóa. Việc hình thành đơn vị hóa hàng hóa trong vận tải có

chia sự phát triển của container thành bốn giai đoạn:
- Giai đoạn 1: tính đến năm 1955.
Đây là giai đoạn mà một số nước mới bắt đầu thí nghiệm sử dụng
container loại nhỏ vào sử dụng trong chuyên chở đường sắt.
Từ năm 1948 - 1955, việc chuyên chở container được phát triển với tốc
độ nhanh hơn. Phạm vi sử dụng container được mở rộng sang các phương thức
vận tải khác như đường biển, ô tô nhưng cũng chỉ áp dụng trong chuyên chở nội
địa và sử dụng container loại nhỏ và trung bình với trọng tải dưới 5 tấn, dung
tích 1-3 khối.
- Giai đoạn 2: Từ năm 1956 - 1966.
Đây là thời kỳ bắt đầu áp dụng container trong vận tải quốc tế, sử dụng
ngày càng nhiều container loại lớn và tốc độ phát triển chuyên chở hàng hóa
bằng container rất cao. Có thể coi đây là thời kỳ bắt đầu cuộc cách mạng
container trong chuyên chở hàng hóa. Các hãng tàu của Mỹ như Sea Land
Service, Maillson Navigation Company bắt đầu sử dụng tàu chuyên dụng chở
container.
Trong vận tải quốc tế giai đoạn này xuất hiện nhiều loại container có
kích thước, hình dáng khác nhau gây ra nhiều khó khăn cho quá trình chuyên
chở và làm giảm hiệu quả kinh tế của phương pháp chuyên chở container.
- Giai đoạn 3: từ năm 1967 – 1980.
Tháng 6 năm 1967, Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) đã thông qua
tiêu chuẩn container quốc tế loại lớn áp dụng trong chuyên chở quốc tế.
Vận tải quốc tế giai đoạn này áp dụng phổ biển các loại container lớn
theo tiêu chuẩn của ISO. Ở nhiều nước trên thế giới đã hình thành hệ thống vận
tải container bao gồm vận tải container đường sắt, ô tô.
Chu Nam Trung Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Số lượng container loại lớn, số lượng các công cụ vận tải chuyên dụng
chở container và thiết bị xếp dỡ container tăng nhanh. Các cảng biển, ga đường

phải có trách nhiệm vận chuyển hàng hóa của mình ra bãi container và đóng
hàng vào container.
o Dịch vụ gửi hàng lẻ (LCL – Less than container load).
LCL là phương pháp gửi hàng theo đó những lô hàng khác nhau đóng
chung trong một container mà người gom hàng phải chịu trách nhiệm đóng hàng
và dỡ hàng khỏi container. Nếu hàng không đủ đóng nguyên một container, chủ
hàng có thể gửi hàng theo phương pháp gửi hàng lẻ (có thể thông qua người
gom hàng, đại lý).
Người kinh doanh chuyên chở hàng hóa lẻ gọi là người gom hàng sẽ tập
hợp những lô hàng lẻ của nhiều chủ hàng, tiến hành sắp xếp, phân loại hàng, kết
hợp các lô hàng lẻ đóng vào container và tiến hành các thủ tục theo quy định.
Việc chuyên chở hàng lẻ thường do các công ty giao nhận đứng ra kinh
doanh trên danh nghĩa người gom hàng. Như vậy trong quan hệ hợp đồng với
người gửi hàng, họ chính là người chuyên chở chứ không phải đại lý. Họ phải
chịu trách nhiệm đối với hàng hóa của người gửi hàng trong suốt quá trình từ
khi nhận hàng đến khi giao hàng. Người gom hàng không có phương tiện vận tải
để tự kinh doanh vận tải vì vậy họ sẽ phải thuê tàu của người chuyên chở thực tế
để chở các lô hàng lẻ đã xếp trong container. Lúc này quan hệ giữa người gom
hàng và người chuyên chở là quan hệ giữa người thuê tàu và người chuyên chở.
o Dịch vụ gửi hàng kết hợp (FCL/LCL – LCL/FCL).
Phương pháp gửi hàng này là sự kết hợp của phương pháp FCL và
phương pháp LCL. Tùy theo những điều kiện cụ thể mà chủ hàng có thể thỏa
thuận với người chuyên chở để áp dụng phương pháp gửi hàng kết hợp.
Phương pháp gửi hàng kết hợp bao gồm:
+ Gửi nguyên, giao lẻ (FCL/LCL).
+ Gửi lẻ, giao nguyên (LCL/FCL).
Căn cứ vào loại hàng hóa.
Chu Nam Trung Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chuyên chở hàng hóa bằng con là tìm mọi biện pháp giảm tối đa những chi phí
bỏ ra trong quá trình cung ứng dịch vụ vận tải container. Vận tải hàng hóa bằng
container đã mang lại điều đó cho cả người chuyên chở cũng như chủ hàng.
- Đối với chủ hàng:
+ Giảm chi phí bao bì vận tải.
Hàng hóa vận chuyển bằng các phương pháp thông thường thì bao bì
hàng hóa đòi hỏi phải thực sự chắc chắn để đảm bảo an toàn cho hàng hóa. Khi
vận chuyển bằng container, chi phí bao bì có thể được giảm bớt do một số hàng
hóa đã được giải phóng khỏi bao bì vận tải hoặc chỉ phải dùng bao bì đơn giản,
rẻ tiền.
+ Giảm chi phí giao hàng.
Chi phí giao hàng bao gồm: cước phí vận tải, chi phí xếp dỡ, chi phí lưu
kho, lưu bãi, chi phí bảo quản và các loại chi phí khác… Khi giao hàng bằng
container thì tất cả các chi phí trên đều giảm đáng kể so với khi gửi hàng bằng
phương pháp thông thường.
+ Rút ngắn thời gian lưu thông hàng hóa.
Đối với hàng hóa vận tải bằng container thì thời gian xếp dỡ ở cảng rất
nhanh, nhờ có những phương tiện xếp dỡ chuyên dụng, lượng container được
xếp dỡ lên tàu và giải phóng khỏi tàu là rất lớn nên có thể tiết kiệm thời gian lưu
tàu tại cảng. Qua đó góp phần đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa.
+ Giảm tỷ lệ tổn thất, hao hụt, mất mát hàng hóa trong container từ mức
8% xuống mức 0,5% đến 1%.
Sử dụng container để vận tải hàng hóa an toàn hơn nhiều so với vận tải
thông thường có tỷ lệ tổn thất, hao hụt hàng hóa lên tới 8%.
+ Góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc ký kết thực hiện các hợp
đồng ngoại thương.
Chu Nam Trung Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp

15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Do hàng hóa vận tải trong container luôn có mức độ an toàn cao, do vậy
hạn chế tối đa được những khiếu nại do hư hỏng, thiệt hại, mất mát hàng hóa
trong quá trình vận tải, nâng cao uy tín của người chuyên chở trong kinh doanh.
1.1.2.3.2 Ý nghĩa về mặt xã hội
- Tăng năng suất lao động xã hội.
Vận tải hàng hóa bằng container do sử dụng những trang thiết bị tiên
tiến, hợp lý và đồng bộ trong quá trình vận tải, kết hợp với việc tổ chức trong
vận tải đã làm tăng năng suất lao động của ngành Hàng hải. Qua đó góp phần
không nhỏ vào việc tăng năng suất lao động xã hôi.
- Tiết kiệm chi phí sản xuất xã hội.
Một trong những nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của container trong vận
tải hàng hóa là giảm chi phí vận tải. Container hóa trong vận tải hàng hóa đã
giảm bớt được thời gian chuyên chở, giảm chi phí bao bì, xếp dỡ… góp phần
tiết kiệm chi phí sản xuất cho xã hội.
- Tạo điều kiện áp dụng quy trình kỹ thuật mới trong ngành vận tải, góp
phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Container hóa là một cuộc cách mạng trong vận tải hàng hóa trên toàn
thế giới. Tàu chuyên dụng chở container ra đời, cảng container được xây dựng,
việc bốc xếp hàng hóa được cơ giới hóa, tự động hóa… tất cả đã mở màn cho
cuộc cách mạng công nghệ trong vận tải hàng hóa, góp phần đẩy nhanh sự
nghiệp công nghiệp hóa đất nước.
- Đảm bảo an toàn cho lao động ngành nghề trong xã hội.
Container hóa đã giảm đáng kể lao động nặng nhọc của con người trong
quá trình vận tải hàng hóa. Đồng thời tạo ra một môi trường lao động an toàn
hơn nhiều so với các loại hình vận tải thông thường.
1.2 – LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỨC CẠNH TRANH CỦA DỊCH VỤ VẬN TẢI
CONTAINER
1.2.1. Khái niệm về sức cạnh tranh của dịch vụ

thác hiệu quả. Một ví dụ sinh động nhất đó là sự phát triển thần kỳ của
Chu Nam Trung Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Singapore. Trước kia, Singapore chỉ là một làng chài nhỏ bé nhưng nhờ biết tận
dụng lợi thế có được do vị trí địa lý là một quốc đảo nằm trên tuyến đường hàng
hải quốc tế họ đã đầu tư xây dựng hệ thống cảng biển, đẩy mạnh phát triển kinh
tế biển. Với việc vận chuyển 27,9 triệu container năm 2007, Singapore tiếp tục
là cảng trung chuyển container lớn nhất thế giới. Chính sách này của Singapore
đã làm cho họ phát triển mạnh và đã trở thành một trong những nền kinh tế năng
động nhất khu vực Châu Á hiện nay.
Việt Nam cũng là nước có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển dịch vụ vận
tải đường biển. Với trên 3200 km đường bờ biển chạy dài từ Bắc xuống Nam,
nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế chạy từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình
Dương chúng ta hoàn toàn có thể có được những thành công trong phát triển
kinh tế biển như Singapore nếu như có những chiến lược và bước đi hợp lý.
Một quốc gia không có biển, không có vị trí địa lý thuận lợi vẫn có thể
thành lập những đội tàu container để chuyên chở hàng hóa. Tuy vậy họ sẽ không
có được ưu thế như các quốc gia có các cảng biển, do phải bỏ chi phí thuê cảng
ở nước ngoài và việc điều hành các hoạt động kinh doanh gặp những trở ngại
nhất định.
1.2.2.2 Chính trị và luật pháp
Chính trị và luật pháp có ảnh hưởng lớn tới tất cả mọi ngành kinh tế,
ngành kinh doanh dịch vụ vận tải container cũng không phải là một ngoại lệ.
Nếu hệ thống chính trị của một quốc gia ổn định, điều này sẽ tạo điều kiện cho
các nhà sản xuất kinh doanh tahm gia vào các hoạt động sản xuất và hoạt động
đầu tư để mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Một nền chính trị ổn định sẽ
tạo điều kiện mở rộng quan hệ thương mại hợp tác, giao lưu buôn bán với các
quốc gia khác và theo đó khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu tăng lên tạo điều
kiện cho dịch vụ vận tải container phát triển.

tàu chở container trọng tải lớn hơn, tốc độ cao hơn, phương pháp xếp dỡ tối ưu
hơn, rút ngắn thời gian vận chuyển và xếp dỡ, tạo điều kiện giảm giá thành vận
chuyển. Tuy vậy không phải quốc gia nào, không phải doanh nghiệp nào cũng
Chu Nam Trung Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
có đủ vốn đầu tư để có thể ứng dụng công nghệ mới vào quá trình cung ứng dịch
vụ vận tải container của mình. Tận dụng được sự tiến bộ khoa học kỹ thuật,
những công nghệ mới vào quá trình vận tải container sẽ tạo ra ưu thế cạnh tranh
rất lớn trên thị trường.
1.2.2.4 Nguồn nhân lực và trình độ quản lý
Nguồn nhân lực luôn là vấn đề sống quyết định sự thành bại đối với mỗi
tổ chức, doanh nghiệp. Người hoạt động kinh doanh dịch vụ vận tải container
vừa phải có kiến thức về nghiệp vụ ngoại thương, hiểu biết về luật pháp, tập
quán và thương mại quốc tế, nhân sự cấp cao, nhân sự thuộc bộ phận vận tải
quốc tế còn đòi hỏi phải có trình độ ngoại ngữ tốt. Theo nghiên cứu của cơ quan
bảo hiểm Anh quốc thì có tới 80% vụ tai nạn hàng hải là do con người gây ra.
Tỷ lệ mắc lỗi cao của những người làm việc trực tiếp trên tàu biển đã đặt ra
những vấn đề về an toàn trong vận tải đường biển.
Doanh nghiệp vận tải container sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn khi
đội ngũ nhân sự thực sự có chất lượng cao, nhiệt tình có trách nhiệm với công
việc, được đào tạo tốt về chuyên môn nghiệp vụ và phải luôn phấn đấu vì thành
công chung của doanh nghiệp.
Trình độ tổ chức quản lý của một doanh nghiệp được thể hiện thông qua
cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị, hệ thống thông tin quản lý, hoạt động và văn
hóa doanh nghiệp. Trình độ quản lý sẽ quyết định cách mà các thành viên hoạt
động và phối hợp với nhau, tổ chức việc tiến hành các hoạt động kinh doanh ra
sao, kiểm tra các hoạt động đó như thế nào… Một doanh nghiệp biết cách tập
hợp, phát huy các cá nhân lại với nhau để tạo thành sức mạnh tổng hợp qua đó
có thể tận dụng được tốt hơn các cơ hội kinh doanh. Đây luôn là một đòi hỏi đặt

mồm dùng để đổ bộ hoặc tàu phà. Tàu có nhiều boong, giữa các boong có các
đường dốc nghiêng. Để xếp container người ta dùng xe nâng để đưa container từ
trên cảng vào thằng hầm tàu mà không cần đến thiết bị cẩu chuyên dụng của
cảng. Người ta còn có thể cố định container trên một loại khung xe có bánh
Chu Nam Trung Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
(chassis) và có thể kéo cả container chạy trên chassis lên hoặc xuống tàu.
Phương pháp này có ưu điểm là giải phóng hàng nhanh, rút ngắn thời gian tàu
đỗ ở cảng.
+ Tàu LO – LO (Lift on / Lift off): Loại tàu này có cấu trúc một boong
duy nhất được chia thành nhiều hầm và có vách ngăn giữa các hầm. Hầm tàu
xếp được 6 tầng container và trên boong cũng có thể xếp được khoảng 40% tổng
số container trên tàu. Loại tàu này không có công cụ xếp dỡ riêng mà phải sử
dụng công cụ xếp dỡ của cảng.
+ Tàu có thể biến thành tàu chở container (Convertable con Ship): Loại
tàu này có cấu tạo đặc biệt để có thể thay đổi tùy theo yêu cầu của hàng hóa vận
chuyển. Nó có một phần hay toàn bộ dung tích chứa hàng có thể chuyên chở
hàng hóa thông thường hoặc container.
Bảng 1.2: Đặc điểm chính của các loại tàu container chuyên dụng
Thế hệ
tàu
Sức chứa
(TEU)
DWT Dài
(m)
Rộng
(m)
Mớn nước
(m)

hơn một đội tàu “già”, giảm bớt nguy cơ rủi ro xảy ra trên hành trình do tàu
Chu Nam Trung Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
không đủ khả năng đi biển, hay hạn chế việc phải dừng lại dọc đường để sửa
chữa gây ra chậm chễ trong việc chuyên chở hàng hóa.
Lấy ví dụ thực tế với trường hợp của Việt Nam, đội tàu của chúng ta
nhìn chung tình trạng kỹ thuật là thấp kém, tuổi tàu, loại tàu về cơ bản là không
phù hợp thậm chí lạc hậu so với các đội tàu trong khu vực và thế giới. Trong
thành phần đội tàu Việt Nam thiếu vắng các loại tàu chuyên dụng như tàu chở
khí hóa lỏng, xi măng rời, hóa chất…Đội tàu container thì còn ít ỏi và trọng tải
hạn chế.
Hiện trạng đó đã làm cho sức cạnh tranh của dịch vụ vận tải container
của Việt Nam trên thị trường khu vực và thế giới không cao. Đội tàu container
Việt Nam chỉ có thể chuyên chở cự ly ngắn trong khu vực Đông Nam Á, Nam
Trung Quốc và chạy nội địa trong nước. Bên cạnh đó việc tuổi tàu, tình trạng kỹ
thuật của tàu kém lại thường xuyên bị các nước tại cảng đến kiểm tra và không
đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của công ước quốc tế và ISM Code (Bộ luật Quản lý
an toàn quốc tế) nên bị lưu giữ và hạn chế chuyên chở qua các nước này. Đó là
những khó khăn rất lớn cho đội tàu container Việt Nam để cạnh tranh với các
đội tàu hiện đại trong khu vực và thế giới
Một yếu tố vật chất cơ bản khác của vận tải container chính là các
container. Mỗi doanh nghiệp, hãng tàu vận tải container đều phải có các
container đủ tiêu chuẩn để có thể chuyên chở hàng hóa. Các container này hiện
nay đều được tiêu chuẩn hóa để tiện cho việc chuyên chở và xếp dỡ trên phạm vi
toàn thế giới. Chất lượng container (chủ yếu đánh giá dựa vào mức độ bảo vệ
hàng hóa bên trong), độ bền (chịu được các tác động bình thường trong quá trình
chuyên chở) cũng là chỉ tiêu ảnh hưởng tới mức độ tin tưởng của khách hàng khi
sử dụng dịch vụ của các hãng tàu. Số lượng container của mỗi doanh nghiệp,
hãng tàu phải có sự phù hợp với năng lực vận chuyển của tàu và khối lượng

là nơi tiến hành việc giao nhận và bảo quản container có hàng và container rỗng
và được bố trí tiếp giáp với bến container. CY thường có diện tích rất lớn, phụ
thuộc vào số lượng container và chiều dài bến container. CFS là nơi giao nhận
và phục vụ hàng lẻ để đóng vào container, tiến hành việc chuyên chở hoặc dỡ
Chu Nam Trung Lớp Kinh doanh quốc tế 46A
24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hàng lẻ ra khỏi container để giao cho người nhận và CFS thường được xây dựng
ở ngoài phạm vi khu vực cảng.
Các trạm container đường bộ là nơi tiến hành việc giao nhận và bảo
quản hàng hóa bằng container. Ngoài ra còn có thể tiến hành cả việc sửa chữa vỏ
container. Trạm container đường bộ còn là nơi làm các thủ tục hải quan, kiểm
tra, kiểm hóa hàng hóa xuất nhập khẩu. Các trạm container này thường được bố
trí nằm sâu trong nội địa và được gọi là cảng cạn (Inland Clearance Deport –
ICD) hay cảng thông quan nội địa.
1.2.2.5.3 Công cụ xếp dỡ container
Một trong những điểm thành công của quá trình container hóa là việc
tiêu chuẩn về kích thước, trọng lượng, điểm đầu móc cẩu của container. Nhờ
vậy mà các thiết bị xếp dỡ cũng được sản xuất theo các kích thước phù hợp với
việc xếp dỡ container. Công cụ xếp dỡ container có ảnh hưởng trực tiếp tới chất
lượng của dịch vụ vận tải container.
Một số công cụ xếp dỡ container :
- Cần cẩu giàn (Gantry Crane).
- Xe khung nâng hàng (Straddle forklift).
- Cần cẩu tự vận hành (Mobile Crane).
1.2.3. Các công cụ để nâng cao sức cạnh tranh của dịch vụ vận tải
container
1.2.3.1. Cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ vận tải container
Dịch vụ là hướng phát triển chiến lược của các tập đoàn toàn cầu, xu
hướng này hình thành nên một nền kinh tế dịch vụ tại các nước phát triển. Nếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status