Khoỏ lun tt nghip
Nguyn Th Mai - K31B Vn
trờng đại học s phạm hà nội 2
khoa ngữ văn
*********
Nguyễn thị mai
Vai trò của tình thái t trong
truyện ngắn nguyễn huy thiệp
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Ngôn ngữ
Hà Nội 2009
1
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai - K31B Văn
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tiếng Việt của chúng ta là ngôn ngữ đơn lập. Những đặc điểm phức tạp
của loại hình ngôn ngữ đơn lập dẫn đến tính phức tạp trong việc nghiên cứu
và nắm bắt đặc điểm bản chất, khả năng hoạt động của các từ loại khác nhau.
Một trong những nhân tố làm nên sự thành công trong các truyện ngắn
của Nguyễn Huy Thiệp là khả năng sử dụng “thứ ngôn ngữ Việt Nam chính
xác, trong sáng và tinh tế, giàu hình tượng, đầy cá tính” (Diệp Minh Tuyền).
Nguyễn Huy Thiệp đã khá sâu sắc trong việc dùng tình thái từ. Nhờ việc sử
dụng một cách khéo léo các tình thái từ mà truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
đã để lại dấu ấn riêng trong lòng độc giả.
Chính vì những lí do trên, người viết đã lựa chọn đề tài “Vai trò của
tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” với mong muốn thông
qua việc khám phá về vai trò, chức năng của tình thái từ trong các truyện ngắn
của ông để hiểu sâu sắc hơn giá trị của những tác phẩm ấy.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Trong hệ thống các từ loại tiếng Việt, tình thái từ là lớp từ đã được các
nhà ngôn ngữ học, các công trình nghiên cứu đề cập đến. Tình thái từ được
nghiên cứu về các mặt chức năng, vai trò, phân loại… Và đã đạt được nhiều
thành tựu đáng kể. Ta có thể kể đến công trình nghiên cứu của các tác giả:
Nguyễn Anh Quế, Đinh Văn Đức, Lê Biên, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn
Thung…
Tác giả Lê Biên quan niệm: “Tình thái từ là một tập hợp riêng biệt, có
một số lượng từ không lớn, có tác dụng nhất định về ngữ pháp tiếng Việt”.
Đinh Văn Đức cho rằng: “Tình thái từ vốn là một khái niệm về ngữ
nghĩa của câu, nghĩa là thuộc địa hạt cú pháp… đó là một tập hợp từ không
lớn về mặt số lượng nhưng cái tập hợp ấy lại có một đặc trưng riêng về bản
chất ngữ pháp”.
3
Khoá luận tốt nghiệp
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai - K31B Văn
Thực hiện đề tài này, khoá luận nhằm đạt được những mục đích sau
đây:
- Nắm chắc khái niệm về tình thái từ, sự phân loại tình thái từ và vai trò
của tình thái từ trong hoạt động ngôn ngữ.
- Trên cơ sở đó tìm hiểu, nghiên cứu sự xuất hiện của tình thái từ trong
một số truyện ngắn để thấy được vai trò của chúng.
- Vận dụng đúng, có hiệu quả các tình thái từ vào quá trình tiếp nhận và
sản sinh văn bản nói cũng như văn bản viết.
- Vận dụng những hiểu biết về tình thái từ vào việc giảng dạy tiếng
Việt nói riêng cũng như môn Ngữ văn nói chung cho học sinh Trung học phổ
thông.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1. Nhiệm vụ của đề tài
Thực hiện đề tài này, người viết xác định cho khoá luận những nhiệm
vụ cụ thể sau đây:
- Hệ thống hoá những kiến thức lí luận, các quan niệm khác nhau về
tình thái từ, xem xét vai trò của chúng. Qua đó người viết nắm vững hơn về
đặc điểm, bản chất, chức năng của tình thái từ.
- Trên cơ sở những kiến thức lí luận đã được khái quát tác giả khoá
luận tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại sự xuất hiện của tình thái từ trong
một số truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
- Phân tích ngữ liệu cụ thể để rút ra những nhận xét, kết luận về vai trò
tác dụng của tình thái từ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Kết quả nghiên cứu của khoá luận sẽ đóng góp một hướng mới trong
việc tiếp cận các sáng tác văn chương Nguyễn Huy Thiệp. Từ đó giúp cho
bạn đọc hiểu sâu sắc hơn về giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật trong
truyện ngắn của ông.
7. BỐ CỤC
Khoá luận này được bố cục như sau:
Phần mở đầu: 5 trang.
Phần nội dung: - Chương 1.Cơ sở lý luận: 14 trang.
- Chương 2. Vai trò của tình thái từ trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp: 37 trang.
Phần kết luận: 1 trang.
Tài liệu tham khảo: 1 trang.
6
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai - K31B Văn
7
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai - K31B Văn
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
Nguyễn Thị Mai - K31B Văn
1.1.2. Sự phân định từ loại trong tiếng Việt
1.1.2.1. Mục đích
Việc phân định từ loại là nhằm phát hiện bản chất ngữ pháp, tính quy
tắc trong hoạt động ngữ pháp và sự hành chức của các lớp từ loại trong quá
trình thực hiện những chức năng cơ bản của ngôn ngữ: làm công cụ để giao
tiếp, để tư duy trừu tượng. Từ đó có thể sử dụng các lớp từ cho đúng quy tắc,
hợp với phong cách và chuẩn của tiếng Việt hiện đại.
1.1.2.2. Một số cách phân định từ loại
Về vấn đề này trong ngữ pháp học có nhiều cách phân định khác nhau.
Trần Trọng Kim phân tiếng Việt thành 13 loại: danh từ, mạo từ, loại từ, chỉ
định từ, đại danh từ, tính từ, động từ, trạng từ, giới từ, liên từ, tán thán từ, trợ
ngữ từ, từ đệm.
Bùi Đức Tịnh phân các “Tự ngữ” làm 8 từ loại: danh từ, đại từ, trạng
từ, động từ, phó từ, liên từ, giới từ, giới ngữ, hiện từ.
Ở giai đoạn này tuy các tác giả không đưa ra những cơ sở để phân định
từ loại nhưng có thể thấy mặt nghĩa của từ đã được sử dụng để làm cơ sở phân
chia từ loại. Ở các công trình sau, vấn đề phân chia từ loại đã được xem xét
một cách kỹ lưỡng hơn. Các tác giả căn cứ cả vào mặt ý nghĩa lẫn chức năng
ngữ pháp của từ để phân định từ loại. Nhìn chung các tác giả đều phân tiếng
Việt thành hai loại lớn: thực từ và hư từ. Theo một cách hiểu chung thực từ là
từ có nghĩa thực (hoặc nghĩa từ vựng) về sự vật, hiện tượng nhất định; còn hư
từ là những từ có nghĩa hư, loại nghĩa mà không thể nhờ nó làm sự liên hệ với
sự vật, hiện tượng; cho nên khi nói đến nghĩa hư là nói đến vai trò của hư từ.
Bên cạnh việc phân chia như vậy, một số tác giả còn phân ra một lớp từ
khác độc lập so với thực từ và hư từ. Đó là lớp từ biểu thị mối quan hệ của
người nói với nội dung phát ngôn và quan hệ của phát ngôn với thực tại.
Nguyễn Kim Thản gọi đó là ngữ thái từ, Đinh Văn Đức gọi là tình thái từ.
một quá trình trừu tượng hoá hàng loạt cái cụ thể (sự vật cụ thể, hành động cụ
thể, tính chất cụ thể) có mặt trong thực tại được người bản ngữ nhận thức,
phản ánh qua các khái niệm và đồng thời là những thực từ cụ thể (nhà, sách,
chạy, học, xanh, cao…). Do đó giữa ý nghĩa khái quát của từ loại và ý nghĩa
10
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai - K31B Văn
từ vựng của các thực từ có mối quan hệ tất yếu, và cũng do cái tất yếu này, ý
nghĩa khái quát trở thành nòng cốt của ý nghĩa từ loại ”.
b. Dựa vào khả năng kết hợp của từ
Tiêu chí này xét đến mối quan hệ của từ với từ trong ngữ lưu. Đinh
Văn Đức nói rõ: “Đối với tiếng Việt bản chất khả năng kết hợp là sự phân bố
các vị trí trong những bối cảnh”. Trong khi áp dụng tiêu chí này, Đinh Văn
Đức sử dụng khái niệm đoản ngữ do Nguyễn Tài Cẩn đề xuất (1960) để mô tả
nhận xét.
Xét khả năng kết hợp của từ là xem xét:
- Từ đó có khả năng làm thành tố chính hay phụ của một cụm chính
phụ.
- Từ đó có khả năng kết hợp với những từ nào (đặc biệt là hư từ được
coi là những từ chứng).
c. Dựa vào chức vụ cú pháp của từ
Theo Đinh Văn Đức đây là một tiêu chí đã được nhiều tác giả sử dụng
đồng thời với khả năng kết hợp của từ để tạo thành một cơ sở chung cho sự
phân loại dưới tên gọi “đặc trưng phân bố”.
Xét chức vụ cú pháp của một từ là xem xét:
b. Các hư từ
- Chiếm số lượng từ không lớn, khác với thực từ, hư từ không có ý
nghĩa định danh; ý nghĩa của các hư từ có tính chất ngữ pháp và là phương
tiện diễn đạt quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy theo cách thức phản ánh
bằng ngôn ngữ của người Việt.
- Hư từ không thể làm thành tố chính; một số hư từ có thể làm thành tố
phụ trong cấu trúc ngữ để thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp, ý nghĩa tình thái.
- Các hư từ không có khả năng dùng độc lập và không thể đảm nhiệm
những chức vụ cú pháp chính của câu. Trong những tình huống giao tiếp nhất
định, một vài hư từ có thể dùng độc lập (đã, chưa, rồi …). Ở tiếng Việt, phụ
từ, quan hệ từ, tình thái từ … là những lớp hư từ. Có những lớp hư từ chỉ xuất
hiện ở bậc câu – phát ngôn và có những nét đặc trưng đáng chú ý như tình
thái từ.
12
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai - K31B Văn
Ngoài hai nhóm thực từ và hư từ, tiếng Việt còn có nhóm từ trung gian
gồm đại từ và số từ.
Sơ đồ hệ thống từ loại tiếng Việt
Vốn từ tiếng Việt
Thực từ
Danh từ Động từ
13
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai - K31B Văn
1.2.2. Phân loại tình thái từ
Căn cứ vào vị trí, chức năng có thể chia phạm trù tình thái từ thành hai
loại: trợ từ và thán từ.
1.2.2.1. Trợ từ
a. Khái niệm
Trợ từ là từ thuộc vào lớp tình thái từ, không đảm nhận chức vụ cú
pháp trong câu, được sử dụng trong phát ngôn để biểu thị một số ý nghĩa như:
thái độ, tình cảm, sự đánh giá … của người nói đối với nội dung phát ngôn,
đối với hiện thực và đối với người đối thoại, hoặc để tham gia biểu thị các
mục đích của phát ngôn.
b. Vai trò của trợ từ
Ý nghĩa chung của trợ từ là gia tăng một sắc thái ý nghĩa (ý nghĩa phụ
trợ) cho từ, ngữ hoặc một câu, một cấu trúc trên câu (đoạn văn) nhằm nhấn
mạnh vào một nội dung cụ thể, một quan hệ cụ thể trong phát ngôn.
Trợ từ diễn đạt các mối quan hệ có tính chất bộ phận giữa người nói với
nội dung phát ngôn.
Ở tiếng Việt, ngôn ngữ giàu thanh điệu, vai trò ngôn điệu bị hạn chế,
hư từ (trong đó có trợ từ) được sử dụng như một phương thức ngữ pháp để
diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp. Vì vậy mà bất kì câu tường thuật nào, nếu
thêm trợ từ đi kèm đều có thể trở thành câu nghi vấn hoặc câu cầu khiến,
mệnh lệnh.
Ở cấp độ câu của tiếng Việt, việc sử dụng trợ từ có tính quy tắc chứ
7. Để tỏ ý kính trọng khi đáp lại người trên nói: ạ.
8. Để tỏ ý quyết chắc: vay.
9. Để làm cho tròn câu: vậy.
Nguyễn Kim Thản và I.I.Glebova có ý kiến gần nhau về cách phân loại
nhóm trợ từ tiếng Việt.
Nguyễn Kim Thản dựa vào tác dụng của trợ từ (mà tác giả gọi là ngữ
khí từ) trong câu phân nhóm trợ từ này thành hai loại chính:
1. Những ngữ khí từ phục vụ sự cấu tạo loại hình câu.
2. Những ngữ khí từ biểu thị thái độ của người nói.
15
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai - K31B Văn
I.I.Glebova về cơ bản cũng có sự phân loại giống với Nguyễn Kim
Thản, nhưng thay vì gọi loại 1 là “Những ngữ khí từ phục vụ sự cấu tạo loại
hình câu” như Nguyễn Kim Thản, tác giả gọi loại này là “Các tiểu từ được sử
dụng chủ yếu trong những kiểu câu có kiểu chức năng xác định”.
Bên cạnh sự phân loại trợ từ theo chức năng ngữ nghĩa là sự phân loại
theo vị trí của chúng ở trong câu. Dựa vào đặc điểm thường xuất hiện ở vị trí
cuối trong câu của các trợ từ, một số tác giả đã gọi chúng bằng những tên gọi
như: phụ từ tận cùng (Lê Văn Lý), tiểu từ kết thúc (C.Thomson), tiểu từ hậu
trí (Hoàng Tuệ), hư từ ở cuối câu (M.B. Emeneau)…
Trong cuốn sách gần đây viết về cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt
V.J.Panfilov cũng phân tiểu từ tiếng Việt thành hai loại: tiểu từ đứng đầu câu
và các tiểu từ đứng cuối câu.
Trên cơ sở vị trí, vai trò của trợ từ, chúng ta có thể phân trợ từ ra làm
(“Cạm bẫy người” – Vũ Trọng Phụng)
Các trợ từ nhấn mạnh thường đứng ở vị trí trước bộ phận cần nhấn
mạnh, chúng không có vị trí cố định trong câu. Nói khác đi vị trí của trợ từ
nhấn mạnh phụ thuộc vào vị trí của từng từ mà nó quan hệ.
Về tác dụng: Trợ từ nhấn mạnh chủ yếu nhấn mạnh bộ phận nội dung
của phát ngôn.
Về chức năng: Trợ từ nhấn mạnh được xem như một phụ ngữ của câu.
c.2. Các trợ từ tình thái (tiểu từ tình thái)
- Các trợ từ tình thái bao gồm một lớp từ không thuần nhất, có thể có vị
trí rất linh hoạt ở trong câu.
+ Những trợ từ tình thái đứng ở đầu các phát ngôn: A, à, thế, đấy, ấy
đấy, đấy nhé, này nhé…
Ví dụ:
- À quên, tiên sinh xem số tử vi cho đệ đi.
(“Giông tố” – Vũ Trọng Phụng)
-Aà!
(“Kỹ nghệ lấy Tây” – Vũ Trọng Phụng)
- Thế đã chết chưa.
(“Tối ba mươi” - Thạch Lam)
- Đấy nhé, tao nói rồi mà !
+ Những trợ từ tình thái đứng ở cuối phát ngôn như: Ư, nhỉ, nhé, ấy, cả,
kia, cả mà, cả đấy, hử, hả, cơ mà, đấy chứ …
17
Khoá luận tốt nghiệp
- Hay nhỉ !
Ừ.
- Hoa hả ?
Không .
- Trợ từ tình thái có chức năng biểu thị thái độ hoài nghi, cũng có thể
biểu thị thái độ ngạc nhiên (nhỉ, ư, ấy, không …), thái độ cầu mong (đi, nào,
18
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai - K31B Văn
thôi, thì, với, chứ …), có thể biểu thị thái độ khẳng định hay phủ định rõ ràng,
dứt khoát (mà, chứ, đâu, đấy …) hoặc có thể biểu thị thái độ, cảm xúc gần gũi
thân mật (nhé, nhỉ, mà …)
Ví dụ:
- Mày đấy ư Lan ?
- Đi thôi nào !
- Tôi đã nói rồi đấy.
- Yêu anh em nhé !
1.2.2.2. Thán từ
a. Khái niệm
Thán từ là từ biểu thị tiếng gọi, tiếng đáp, tiếng reo vui, tiếng than vãn,
tiếng nguyền rủa…cũng như trợ từ, nó là yếu tố được tham gia thêm vào nòng
- Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa
nghe thấy một tiếng còi sương?
(“Người lái đò Sông Đà” - Nguyễn Tuân)
- Các ông sắp phải đi tuần à?
Dạ … Vâng.
(“Một huyện ăn tết” – Vũ Trọng Phụng)
c.2. Thán từ dùng để bày tỏ tình cảm, thái độ, cảm xúc trực tiếp
Ở mảng này các thán từ được dùng vô cùng phong phú nhưng tiêu biểu
có một số loại sau đây:
- Loại biểu thị sự ngạc nhiên: Ồ, ơ, ơ hay, ô hay, ơ kìa …
Ví dụ:
- Ô hay! Không biết đứa nào nói với tôi rằng sáng
sớm hôm nay, thằng phó tổng Hưởng đã vào lễ tết
quan rồi mà ?
(“Một huyện ăn tết” – Vũ Trọng Phụng)
- Ồ, ông còn định xuất bản quyển này nữa hay sao?
(“Cuốn sách bỏ quên” - Thạch Lam)
- Ơ kìa, đâu mất rồi!
(“Chiều sương” – Bùi Hiển)
- Loại biểu thị sự sợ hãi, đau đớn, than thở: Eo ôi, ái, ối, than ôi, than
ơi, hỡi ôi …
Ví dụ:
- Ối trời ơi! Tôi bán cả con lẫn chó và hai gánh
khoai mới được hai đồng bảy bạc.
(“Tắt đèn” - Ngô Tất Tố)
- Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa …
(“Vội vàng” – Xuân Diệu)
20
dụng của chúng.
2.1.2. Kết quả khảo sát thống kê
2.1.2.1. Kết quả khảo sát
Đọc và khảo sát 37 tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp chúng tôi
đã thống kê kết quả sử dụng tình thái từ với tần số xuất hiện như sau:
Tổng số phiếu: 1272 phiếu.
+ Thán từ: 201 phiếu.
+ Trợ từ: 1071 phiếu.
Trong đó:
Trợ từ nhấn mạnh: 345/1071 phiếu.
Trợ từ tình thái: 726/1071 phiếu.
Trợ từ tình thái đứng ở đầu các phát ngôn: 101/726 phiếu.
Trợ từ tình thái đứng ở cuối các phát ngôn: 199/726 phiếu.
Trợ từ tình thái vừa có thể đứng đầu và cuối các phát
ngôn: 426/726 phiếu.
Với 37 tác phẩm đã khảo sát tuy chưa phải là lớn và cũng không thể
khảo sát một cách tuyệt đối nhưng với kết quả sơ bộ này chúng tôi mong rằng
22
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Mai - K31B Văn
đó có thể là những minh chứng đáng kể khẳng định vai trò to lớn của tình thái
từ trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp.
2.1.2.2. Nhận xét về tình hình khảo sát, thống kê
Nguyễn Thị Mai - K31B Văn
nhanh chóng. Đồng thời, trợ từ này còn cho thấy sự khốc liệt của hoàn cảnh,
nguy hiểm, bệnh tật của tự nhiên luôn rình rập và có thể ập xuống bất ngờ.
Ví dụ 2:
“Nó hay xét nét sự quan tâm săn sóc của những người xung quanh nó
bằng cách đặt ra câu hỏi: nếu là mẹ sẽ thế nào? Chẳng hạn, lúc tắm bà ngoại
kì cọ kĩ quá, nó nghĩ ngay rằng nếu là mẹ thì không làm thế”.
(“Tâm hồn mẹ” – T224)
Trợ từ “ngay” trong ví dụ trên có vai trò nhấn mạnh tới hành động
“nghĩ” của “nó”. Đồng thời thể hiện tính chất so sánh trong hành động nghĩ
ấy. Nhân vật “nó” đã so sánh và khẳng định suy nghĩ của mình. Từ “ngay”
còn có dụng ý bộc lộ thái độ của tác giả với nhân vật được nói tới trong câu,
đó là thái độ thương xót.
a.2. Nhận xét:
Trợ từ “Ngay” trong các ví dụ trên dùng để miêu tả cụ thể sinh động
những sự việc, tình huống đã xảy ra, tái tạo được thời gian diễn ra sự kiện.
Nhờ vậy sự việc trở nên rõ ràng hơn. Hơn nữa từ “Ngay” còn có tác dụng
khẳng định tính chất dứt khoát trong hành động của nhân vật. Đồng thời thể
hiện được nội dung sự việc và thái độ của người viết. Khi sử dụng trợ từ này,
Nguyễn Huy Thiệp đã đạt được hiệu quả như mong muốn, nghĩa là vừa miêu
tả được sự việc diễn ra, vừa thể hiện được một cách rõ ràng, cụ thể tình cảm,
thái độ của mình đối với các chi tiết sự việc đó.
b. Trợ từ “Đến”
b.1. Khảo sát các ví dụ:
Ví dụ 1:
“Mẹ kiếp… Hạnh nghĩ - Bọn người này họ coi đồng tiền như rác. Mỗi
kì sóc vọng tiêu pha đến mấy chục nghìn”.
(“Huyền thoại phố phường” – T236)
c. Trợ từ “Những”
c.1. Khảo sát các ví dụ:
Ví dụ 1:
25