VAI TRÒ CỦA NGUYÊN THỦ QUỐC GIA TRONG NHÀ NƯỚC TƯ SẢN VÀ NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ VÀ LUẬT
 
ĐỀ TÀI:
VAI TRÒ CỦA NGUYÊN THỦ QUỐC GIA
TRONG NHÀ NƯỚC TƯ SẢN
V À NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

GVHD Th.S TRẦN ĐỨC TUẤN
SVTH MAI THỊ KIỀU NHI
MSSV 0954062121
LỚP LK09A2
Tp.HCM ngày 14 tháng 11 năm 2010
1
C
ác môn khoa học pháp lý nói chung đều nghiên cứu các vấn đề thuộc lĩnh vực của Nhà nước
và pháp luật nhưng mỗi môn khoa học lại có đối tượng nghiên cứu các vấn đề về nhà nước và
pháp luật một cách toàn diện và hoàn chỉnh. Luật Hiến pháp Việt Nam là một bộ môn khoa
học quan trọng thuộc lĩnh vực khoa học pháp lý – lý luận lịch sử có vị trí quan trọng trong hệ
thống khoa học pháp lý nói chung. Vì rằng đối tượng nghiên cứu của nó không phải là một
khía cạnh, một góc độ nào đó mà là tổng thể về nhà nước và pháp luật.
Trong tất cả các nội dung quan trọng của Luật Hiến pháp nói chung thì chế định về
nguyên thủ quốc gia là một chế định quan trọng trong thể chế chính trị. Nhưng ở mỗi nước
nguyên thủ quốc gia có tên gọi, vị trí, chức năng và vai trò khác nhau tuỳ thuộc vào thể chế
chính trị và cách thức tổ chức nhà nước, hay nói cách khác là phụ thuộc vào hình thức chính
thể của những nhà nước đó. Bài tiểu luận này sẽ phần nào giúp các bạn hiểu rõ hơn nữa vai
trò và quyền hạn của nguyên thủ quốc gia ở mỗi nước.
Mặc dù đã cố gắng hết sức trong việc tìm kiếm tư liệu và trình bày bài, nhưng vẫn còn
nhiều thiếu sót và hạn chế, rất mong thầy và các bạn đóng góp ý kiến để những bài tiểu luận
sau được hoàn chỉnh hơn. Hy vọng bài tiểu luận này sẽ là tài liệu học tập, tham khảo hữu ích
cho những bạn nghiên cứu về thể chế chính trị và nguyên thủ quốc gia.

Tài liệu tham khảo....................................................................................................................25
MỞ ĐẦU
Trong hệ thống bộ máy nhà nước của các nước hiện đại hầu như đều có một thiết chế
đặc biệt với những tên gọi khác nhau như: vua, hoàng đế, tổng thống, đoàn chủ tịch, hội
đồng nhà nước, chủ tịch nước. Những cơ cấu này có vị trí khác nhau trong bộ máy nhà nước
3
của từng nước, cùng được gọi chung là nguyên thủ quốc gia – người đứng đầu nhà nước, đại
diện cho nhà nước về đối nội, đối ngoại.
Nguyên thủ quốc gia là một chế định thuần tuý của bộ máy Nhà nước tư sản. Khi cách
mạng tư sản diễn ra và dành thắng lợi, giai cấp tư sản chiến thắng giai cấp phong kiến và lập
ra bộ máy cai trị mới. Trong bộ máy đó có sự xuất hiện của một thể chế mới, đó là thể chế
nguyên thủ quốc gia. Như vậy, về cơ bản thiết chế nguyên thủ quốc gia của các nước trên thế
giới hiện nay đều được xây dựng dựa trên thiết chế của nhà nước tư sản. Nhìn chung sự hiện
diện của nguyên thủ quốc gia ở các nước tư bản với nhiều vẻ khác nhau song cũng đóng một
vai trò nhất định trong việc tổ chức quyền lực nhà nước. Đặc biệt là vai trò biểu tượng cho
dân tộc, liên kết phối hợp các nhánh quyền lực thể hiện quan điểm thỏa hiệp giai cấp tại các
nước tư bản.
Đến nhà nước xã hội chủ nghĩa, bộ máy nhà nước được tổ chức theo chế độ tập quyền,
thì về nguyên tắc thiết chế nguyên thủ quốc gia riêng là không cần thiết, nếu không muốn nói
là không dung hợp. Tại một số nước xã hội chủ nghĩa khác do truyền thống lịch sử của mình,
còn lưu giữ thiết chế chủ tịch nước, thì chủ tịch nước tuy được coi là nguyên thủ quốc gia
đứng đầu nhà nước, song phát sinh từ cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và cùng cơ quan
này thực hiện các chức năng nguyên thủ. Sự hiện diện các biểu hiện “nguyên thủ quốc gia”
trong cơ chế nhà nước xã hội chủ nghĩa phần nhiều là do thông lệ quốc tế - để thuận lợi trong
việc thực hiện một số hoạt động nhà nước có tính chất long trọng, hình thức và chừng mực
nhất định, để phối hợp hoạt động của các cơ quan trong cơ chế nhà nước. Vị trí thứ hai này
của nguyên thủ quốc gia xã hội chủ nghĩa khá khác nhau, tùy thuộc vào từng nước.
I. KHÁI QUÁT VỀ NGUYÊN THỦ QUỐC GIA TRONG NHÀ NƯỚC
TƯ SẢN – NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.
I.1 NHÀ NƯỚC TƯ SẢN

5
quốc gia cùng thực hiện. Nguyên thủ quốc gia (vua, tổng thống) nói chung có vai trò
thực tế không lớn trong cơ chế nhà nước tư sản. Một số quốc gia thiết lập chế độ đại
nghị “bảo thủ” (ở các nước gọi là cộng hoà tổng thống) thì tổng thống được quy định
có nhiều quyền hành hơn – vừa đứng đầu nhà nước, vừa đứng đầu quyền hành pháp –
Song vẫn tuân thủ theo nguyên tắc trên, tức là cùng với nghị viện thực hiện chức
năng nguyên thủ quốc gia. Vị trí của các nguyên thủ quốc gia kiểu này giống như vua
trong chế độ quân chủ nhị nguyên tồn tại ở giai đoạn đầu của chế độ nhà nước tư sản.
Nhìn chung sự hiện diện của nguyên thủ quốc gia ở các nước tư bản với nhiều vẻ
khác nhau song cũng đóng một vai trò nhất định trong việc tổ chức quyền lực nhà
nước. Đặc biệt là vai trò biểu tượng cho dân tộc, liên kết phối hợp các nhánh quyền
lực thể hiện quan điểm thoả hiệp giai cấp ở các nước tư bản.
I.1.2 Hình thức chính thể nhà nước tư sản
Nhà nước tư sản là một thể chế hết sức phức tạp không những vì tính đa dạng
về hình thức mà còn vì cấu tạo bên trong của nó. Nhà nước tư sản đa dạng về hình
thức bởi trình độ phát triển kinh tế, tương quan lực lượng giữa các giai cấp và mức độ
mâu thuẫn giữa chúng khác nhau ở mỗi nước.
Hình thức chính thể của nhà nước tư sản là cách thức và trình tự thành lập các
cơ quan quyền lực tối cao và xác lập mối quan hệ giữa chúng. Hình thức chính thể
của nhà nước tư sản bao gồm Chính thể quân chủ lập hiến và chính thể cộng hoà.
Đối với chính thể quân chủ lập hiến, quyền lực của nguyên thủ (quốc vương,
vua…) được truyền lại cho người kế vị. Hình thức quân chủ lập hiến hiện còn tồn tại
ở một số nước tư bản như Anh, Nhật, Hà Lan… Sự tồn tại của chính thể quân chủ lập
hiến ở một số nhà nước tư sản có nguyên nhân lịch sử và chính trị của nó. Ở một số
nước buổi đầu giai cấp tư sản không thể xoá bỏ ngay được chế độ phong kiến nên
đành thoả hiệp và sau đó thì quay ra sử dụng một số thể chế phong kiến để phục vụ
lợi ích của mình. Ở chính thể quân chủ lập hiến, chúng ta thấy có sự hạn chế nhất
định đối với quyền lực của nguyên thủ. Nó cũng có những đặc trưng của một nền
hiến pháp mặc dù chưa thật sự đầy đủ và hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó. Căn cứ
6

Cộng hoà đại nghị được đặc trưng bởi việc nghị viện thành lập ra chính phủ;
bởi vai trò không lớn của tổng thống do nghị viện bầu ra. Tổng thống chọn thành viên
của nội các không phải tuỳ thích mà phải chọn từ số đại biểu của phe đa số trong
nghị viện. Hình thức này được áp dụng ở Tây Đức, Áo, Phần Lan, Italia…
Hiện nay, ngoài chính thể cộng hoà tổng thống và cộng hoà đại nghị thì còn
một hình thức chính thể khác đó là hình thức hỗn hợp giữa cộng hoà tổng thống và
cộng hoà đại. Hình thức này đang được sử dụng ở Pháp.
I.2 NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
I.2.1 Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa
Sau đại chiến thế giới lần thứ II, năm 1945 hàng loạt nhà nước theo hình thức
xã hội chủ nghĩa ra đời, trong đó có Việt Nam. Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa có
những đặc điểm: mang tính chất nhân dân sâu sắc, tổ chức và hoạt động trên cơ sở sự
uỷ nhiệm của nhân dân; luôn bảo đảm quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân
công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp (có sự chuyên môn hoá cao nhưng vẫn thiếu sự đồng bộ); các cơ quan
quản lý kinh tế phát triển hoàn thiện để thực hiện quản lý mọi mặt đời sống xã hội và
các cơ quan cưỡng chế chuyên nghiệp ngày càng tổ chức thu hẹp lại; đảm bảo sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản.
Các bộ phận cấu thành: Nguyên thủ quốc gia do Quốc hội bầu, đứng đầu và
thay mặt nhà nước về đối nội và đối ngoại; Cơ quan quyền lực nhà nước: Quốc hội
do nhân dân bầu, hội đồng nhân dân cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, nhân
dân địa phương bầu; Cơ quan xét xử: tổ chức theo đơn vị lãnh thổ; Cơ quan kiểm sát
có thẩm quyền rộng; Cơ quan quốc phòng an ninh có tổ chức và đặc thù riêng. Nhà
nước xã hội chủ nghĩa được tổ chức và hoạt động trên các nguyên tắc: Đảm bảo sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản; Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất của quyền lực nhà
nước; Bảo đảm sự tham gia của nhân dân vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà
8
nước xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc tập trung dân chủ; Nguyên tắc pháp chế xã hội
chủ nghĩa; Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc.
I.2.2 Hình thức chính thể nhà nước xã hội chủ nghĩa

phủ quyết lập pháp. Tại các nước đại nghị, nguyên thủ thực hiện quyền phủ quyết
luật nhằm hạn chế khả năng lạm quyền của nghị viện, và có thể là của cả Chính phủ.
Tại các nước có chế độ tổng thống thì tổng thống được trao quyền phủ quyết lập pháp
nhằm bảo đảm thế cân bằng quyền lực giữa hành pháp và lập pháp.
Có ba cách phủ quyết là phủ quyết tuyệt đối, phủ quyết tương đối và phủ quyết
lựa chọn. Phủ quyết tuyệt đối là khi nguyên thủ phủ quyết, dự luật đó không thể trở
thành luật (Anh, Bỉ…). Phủ quyết tương đối là dự luật đã bị nguyên thủ phủ quyết
vẫn có thể trở thành luật nếu nghị viện thông qua lần thứ hai với một đa số tương tự
hay cao hơn là 2/3 hay 3/4 thì dự luật đó trở thành luật. Phủ quyết lựa chọn là nguyên
thủ có quyền nguyên thủ phủ quyết một số điều khoản trong dự luật hay phủ quyết
một số điều khoản trong dự luật hay phủ quyết toàn văn dự luật. Nguyên thủ nhiều
nước đại nghị còn có quyền bổ nhiệm một số thượng nghị sĩ, có quyền triệu tập các
khóa họp của nghị viện, khai mạc kỳ họp nghị viện.
II.1.2 Thẩm quyền của nguyên thủ trong lĩnh vực hành pháp
Quyền hạn của nguyên thủ thể hiện trước hết bằng việc bổ nhiệm các quan
chức cấp cao của Chính phủ và điều hành hoạt động của nó. Tại các nước quân chủ
chuyên chế, quân chủ nhị nguyên, cộng hoà tổng thống hay cộng hoà hỗn hợp,
nguyên thủ tự mình lựa chọn và bổ nhiệm các thành viên Chính phủ hay phối hợp
với Nghị viện thực hiện quyền này. Tại Mỹ, Síp, Mônacô nguyên thủ trực tiếp lãnh
đạo Chính phủ. Nguyên thủ cũng có quyền cách chức các thành viên Chính phủ
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status