Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
-----------------------
Vũ Thị Thu Hồng
NGHIấN CU KH NNG KHNG KHUN CA DCH ẫP C TI
(Allium sativum L) V C GNG (Zinziber officinale RoscOSC)" I VI VI
KHUN Aeromonas hydrophyla GY BNH M TRấN C GHẫ
(Bagarius rutilus NGg&KottelatOTTELAT, 2000)
Chuyên ngành: S S inh học thực nghiệm
Mã số: 60.42.30
Luận văn thạc sĩ khoa học sinh học
Ng ời h ớng dẫn khoa học:
TS. Trần Ngọc Hùng
Nghệ An - 2013
LI CM N!
Để hoàn thành tốt khóa luận này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS.
Trần Ngọc Hùng, là người đã định hướng và hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo
trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn ThS. Trương Thị Thành Vinh,
ThS. Nguyễn Thị Kim Chung và các cán bộ phòng thí nghiệm khoa Nông Lâm
Ngư, đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo Khoa Sinh học
- Đại học Vinh đã trang bị nền tảng kiến thức và giúp đỡ tôi trong những năm
CNNTTS
NN&PTNT
NXB
NTTS
TS
TW
Viết đầy đủ
Công nghệ
Cộng tác viên
Thạc sĩ
Khoa học công nghệ
Nutrien Aga
Công nghệ nuôi trồng thủy sản
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà xuất bản
Nuôi trồng thủy sản
Tiến Sĩ
Trung ương
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỤC LỤC
Trang
Công nghệ
Cộng tác viên
Thạc sĩ
Khoa học công nghệ
Nutrien Aga
Công nghệ nuôi trồng thủy sản
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nhà xuất bản
Nuôi trồng thủy sản
Tiến Sĩ
Trung ương
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
MỞ ĐẦU
Cá Ghé (Bagarius rutilus Ng & Kottelat, 2000) là một trong số các loài
cá quý hiếm, có giá trị kinh tế cao được xếp vào dạng “ngũ quý” cùng với cá
Lăng chấm, cá Bỗng, cá Anh vũ, cá Rầm xanh. Loài cá Ghé (Bagarius rutilus
Ng&Kottelat, 2000) là loài cá da trơn bản địa thường phân bố tự nhiên ở
Bangladesh, Thái lan, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã có những nghiên cứu thử nghiệm
tác dụng của thảo dược đối với một số tác nhân gây bệnh trên động vật thủy
sản. Ở nước ta, trong những năm gần đây các nhà khoa học cũng đã có các
nghiên cứu về tác dụng của thảo dược như: lá trầu không, hẹ, tỏi, lá xoan, lá
húng, gừng… trong phòng và trị bệnh trên cá chép, tôm sú, cá trắm cỏ, cá rô
phi vằn, cá bống bớp…Tuy vậy, trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có
một công bố cụ thể nào đánh giá khả năng kháng khuẩn của dịch ép một số
loại thảo dược đối với vi khuẩn gây bệnh bệnh đốm đỏ trên cá Ghé (Bagarius
rutilus Ng&Kottelat, 2000 ) thương phẩm.
Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu khả năng kháng
khuẩn của dịch ép củ Tỏi (Allium sativum LL) và củ Gừng (Zinziber
Officinale Rosc)" đối với vi khuẩn Aeromonas hydrophyila gây bệnh đốm đỏ trên
cá Ghé (Bagarius rutilus Ng&Kottelat, 2000)”
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá khả năng kháng khuẩn của dịch ép của (củ Tỏi, củ Gừng) ở
các nồng độ, nhiệt độ, thời gian sử dụng và bảo quản đối với vi khuẩn
Aeromonas hydrophyila gây bệnh đốm đỏ trên cá Gghé.
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vi khuẩn Aeromonas hydrophyilla
1.1.2.1. Vị trí phân loại
Theo hệ thống phân loại của Bergey (1974), loài vi khuẩn A.
hydrophyla thuộc nhóm phân loại như sau:
Ngành: Proteobacteri
Lớp: Gammaprteobacteria
Bộ: Aeromonadales
Họ: Aeromonadaceae
Giống: Aeromonas
Loài: Aeromonas hydrophyilla
Tại Philippin, năm 2001 khi cá Trê nuôi ở đây bị mắc phải bệnh lở loét
do vi khuẩn Aeromonas sp, Bonda và et. al đã phân lập vi khuẩn ở mô bị
nhiễm bệnh, da lở loét, vây và đuôi bị mòn, hốc mắt, thận và lá lách thì xác
định được vi khuẩn Aeromonas sp với tỷ lệ nhiễm 52% A.hydrophyla,
19% A. sobria, 29% A.caviae [33].
Tại New zealand, theo Diggles và et.al (2002) khi cá Tra xuất hiện
những vết loét, da xuất huyết, bóng hơi phình to, gan xuất huyết tiến hành
phân lập vi khuẩn và xác định được tác nhân gây bệnh là A. hydrophyla,
A.sobria [24].
Năm 2008, Wahli và ctv nghiên cứu về bệnh vi khuẩn trên cá nuôi ở các
trang trại của Mỹ cho thấy bệnh vi khuẩn chủ yếu trên cá Tra là A. hydrophyla,
A.sobria, Edwardsiella ictaluri [39].
Ở Việt Nam, cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về vi khuẩn A. hydrophyla.
Bùi Quang Tề và cộng sự đã phân lập được A. hydrophyla từ cá trắm cỏ bị
bệnh đốm đỏ. Lê Thanh Hùng và ctv (1998) đã phân lập được vi khuẩn
A.hydrophyla từ mẫu cá bị bệnh và kết luận rằng nó là tác nhân gây bệnh
chính làm cho cá Tra giống chết hàng loạt [18]. Bùi Quang Tề cũng đã phân
lập được vi khuẩn A.hydrophyla, A. sobria gây bệnh cho cá tra [18,20]. Trần
Thị Thanh Tâm (2003) cũng đã phân lập được vi khuẩn Aeromonas
hydrophyla trong ao nuôi cá tra công nghiệp bị bệnh đốm trắng với tần số bắt
gặp là 16% [20]. Lý Thị Thanh Loan (2006) đã phân lập được vi khuẩn
Aeromonas sp trên cá Tra bị bệnh xuất huyết với tần số bắt gặp như sau:
A. hydrophyla là 51,61%, A. caviea là 6,45%, A. sobria là 6,45%, Aeromonas
sp là 22,58% và kết luận rằng vi khuẩn A. hydrophyla, A. sobria là một trong
những tác nhân chủ yếu gây ra bệnh nhiễm khuẩn trên cá Tra [11].
Khi gây bệnh trên động vật thủy sản chúng thường có các dấu hiệu điển
hình như: Cá có hiện tượng kém ăn hoặc bỏ ăn, nổi lờ đờ trên mặt. Da cá
thường đổi màu tối không có ánh bạc, cá mất nhớt, khô ráp. Cá xuất hiện các
Kết quả Chỉ tiêu
ONPG
ADH
LDC
ODC
CIT
H2S
URE
TDA
IND
VP
GEL
GLU
MAN
INO
SOR
RHA
SAC
MEL
AMY
ARA
OF
A.hydrophyl
a
+
+
+
+
+
2 mắt hẹp vào khoảng 2 lần đường kính mắt. Có 4 đôi râu, râu mũi rất ngắn.
Râu hàm trên phát triển thành phiến rộng và cứng. Râu hàm dưới mảnh và
ngắn. Phần cuối của xương sọ tạo thành mẫu nhỏ gắn vào thân. Khe mang rất
rộng và kéo dài xuống mặt bụng [28]. Vây lưng có khởi điểm phía dưới sau
gốc vây lưng, có gai cứng, phần ngọn mềm và phía sau có răng cưa. Vây mỡ
ngắn, có khởi điểm trước hoặc đối xứng với khởi điểm vây hậu môn. Vây
ngực rất phát triển có gai cứng ngọn mềm và phía sau có gai răng cưa. Vây
đuôi hai thùy nhọn, thùy trên dài hơn thùy dưới. Mút cuối các vây kéo dài
thành sợi.
Hình 1.1. Cá Ghé (Bagarius rutilus Ng&Kottelat, 2000)
Cá Ghé có thân phủ da, không có vẩy nhưng nhiều nốt sần sùi. Đường
bên hoàn toàn, bắt đầu từ một mấu nhọn phía sau sọ, chạy đến điểm gốc vây
đuôi. Mặt lưng của thân và đầu có màu nâu đỏ và nhạt dần xuống bụng. Mặt
bụng của thân và đầu có màu trắng. Lưng, hông và các vây có vân hoặc dải
nâu thẫm hoặc các chấm đen. Các nốt sừng màu nâu vàng [28],[27], [34].
Loài Bagarius rutilus phân biệt với một số loài khác trong giống
Bagarius thể hiện qua sau:
1.2.3. Đặc điểm phân bố và sinh trưởng
Bagarius rutilus thường sống thành đàn trung và thượng lưu các con sông,
suối, nơi có nhiều ghềnh thác, nước chảy xiết [28],[27], [34]. Cá sống ở tầng
đáy, thích trú ẩn trong các bụi cây, hốc đá và chủ yếu bắt mồi về ban đêm
[22]. Cá ghé thường sống ở vùng nước ngọt và lợ nhẹ (độ mặn < 7ppt). Chúng
sống và phát triển tốt ở vùng có độ pH dao động từ 6,5 ÷ 8, hàm lượng DO từ
3mg/l trở lên [28].
Theo Nguyễn Văn Hảo (2005), loài Bagarius rutilus tăng trọng nhanh
trong những năm đầu. Có thể dùng lát cắt của vây ngực và đốt sống để xác
định tuổi cá.
Còn theo Phạm Báu và ctv (2000), loài cùng giống với B.yarrelli có tốc độ
+ Bệnh do vi khuẩn Streptococcus spp
Dấu hiệu chung khi quan sát dấu hiện bên ngoài cá nhiễm bệnh là sự
kém ăn hoặc bỏ ăn, cá nổi lờ đờ trên tầng mặt, thân mất nhớt và khô ráp, xuất
hiện các đốm xuất huyết màu đỏ trên thân, các gốc vây, quanh miệng, có
đường kính từ 2 - 3 mm và những vết loét này nhanh chóng vỡ ra tạo thành
những vết lở loét xuất huyết không lành. Ở cá bị bệnh có thể xuất hiện những
vết loét lớn hơn ở vây ngực và phần đuôi, các tia vây có thể có hiện tượng xơ
rách. Một số cá thể bị bệnh có hiện tượng trướng bụng, khi giải phẫu nội tạng
thường quan sát thấy các hiện tượng như xuất huyết, xoang bụng có chứa
nhiều dịch có mùi hôi thối [7]
Hình 1.4 Biểu hiện bệnh lí của cá
Hai loại vi khuẩn Streptococcus spp và Staphylococcus spp đều cùng có
hình dạng tế bào giống nhau, phát triển trên môi trường Nutrien Agar, cùng là
vi khuẩn gram dương, bắt màu xanh tím với thuốc nhuộm, liên kết các tế bào
với nhau để thành chuỗi. Song điểm khác nhau cơ bản giữa chúng là
Staphylococcus spp phản ứng dương tính với Catalase, còn Streptococcus spp
phản ứng âm tính. Kết quả thử cho thấy vi khuẩn thu được âm tính với
Catalase, điều này giúp khẳng định vi khuẩn mà chúng tôi phân lập được là
Streptococcus spp.
Theo o Stoffregen et al. (1996), Shoemaker và Klesius (1997),
Streptococcus spp là nguyên nhân gây bệnh phổ biến trên cá nước ngọt, đặc
biệt là trên cá Rô phi, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của ngành nuôi
trồng thủy sản thế giới. Ước tính thiệt hại hằng năm khoảng 150 triệu USD
(dẫn theo Đinh Thị Thủy, 2007).
Tại Việt Nam, mặc dù chưa có những thống kê cụ thể về thiệt hại do vi
khuẩn này gây ra trên các đối tượng nuôi nhưng sức tàn phá nghiêm trọng của
nó có thể thấy rõ trong những năm gần đây tại nhiều địa phương như Hải
hydrophyla mẫn cảm với Tetracylin và Kanamycin [36].
Ở Ấn Độ, D. Saha và et.al (2002) đã thử nghiệm tính mẫn cảm của vi
khuẩn Pseudomonas sp và Aeromonas sp đối với một số loài kháng sinh thì
thấy tất cả vi khuẩn phân lập được đều mẫn cảm với Oxytetracyclin 75%,
Kanamycin 62,5%, Chloramphenicol 68,75%, Norfloxacin 75%, steptomycin
56,25%, Penicilin12,5%, Gentamycin 62,5%, Erothomycin 6,25%, CoTrimoxazole 43,75%, Amoxycylin 50%, Ampicillin 6,25%. Đồng thời Saha
và Pal cũng đã chứng minh tất cả các mầm bệnh do Pseudomonas sp và
Aeromonas sp đều đều dễ mẫn cảm với Chloramphenicol, Nalidixic axid và
Oxytetracyclin [36].
Theo Anissa và et. al (2003) đã thử nghiệm tính mẫn cảm kháng sinh đối
với vi khuẩn gây bệnh trên cá Nheo Mỹ thì thấy vi khuẩn nhạy cảm hoàn toàn
với kháng sinh Florfenicol và Amoxycylin. Nhưng một thời gian phát triển
nghề nuôi và dịch bệnh xảy ra thường xuyên, người nuôi đã sử dụng nhiều
loại kháng sinh để phòng trị bệnh. Cho nên tính mẫn cảm của kháng sinh đã
có những thay đổi từ 100% xuống 57,5% đối với Florfenicol và còn 51,6%
đối với Amicycillin .
Ở Ba Lan (2004), Leszek Gus và Alicja Kozinska đã phân lập được 2
loài Aeromonas hydrophyla và Aeromonas sobria trên cá Trê bị bệnh và sau
đó đã tiến hành thử nghiệm tính mẫn cảm của 2 vi khuẩn này đối với kháng
sinh. Kết quả cho thấy Aeromonas hydrophyla và Aeromonas sobria mẫn cảm
với Trimethoprim- Sulphamides, Oxalinic axid, Flumequie, Chloramphenicol,
Norfloxacin, Linkomycin, Pefloxacin và 100% kháng khuẩn lại Ampicillin,
pencillin.
Truong Thy Ho đã tiến hành nghiên cứu tính mẫn cảm kháng sinh của vi
khuẩn phân lập từ cá Tra nuôi trong ao của Việt Nam thì thấy 58 loài vi khuẩn
Edwardsiella ictaluri phân lập được đều mẫn cảm với 10 loại kháng sinh.
Loại mẫn cảm cao nhất là Ciprofloxacin là 74,1%, Doxycyclin là 68,9% và
Oxytetracyclin 63,7%, và tất cả loài Edwardsiella ictaluri kháng với
Gentamycin, Amoxycylin, Cephlexin, Neomycin và Norfloxacin .
Nguyễn Hữu Thịnh (2007) đã tiến hành thử nghiệm tính mẫn cảm của vi
khuẩn Edwardsiella ictaluri gây bệnh trên cá Tra ở Cần Thơ, Vĩnh Long, An
Giang, Bến Tre. Kết quả cho thấy vi khuẩn mẫn cảm với Doxycyclin là
72,3%, Florfenicol là 57,5%, Oxytetracycline là 68,1%, Sulphamethoxazole/
Trimethoprim là 0%. Ông thấy Florfenicol là loại kháng sinh cho kết quả
kháng sinh đồ tốt nhất vì vậy nó được lựa chọn là loại kháng sinh có khản
năng điều trị được bệnh đốm trắng ở cá Tra [16].
Theo Nguyễn Đức Hiền (2008), tiến hành so sánh tính nhạy cảm của
kháng sinh đối với vi khuẩn gây bệnh cho cá Tra kết quả như sau:
Bảng 1.13: So sánh độ nhạy cảm của các loại kháng sinh đồ đối với vi
khuẩn Pseudomonas sp và Aeromonas sp phân lập được trên cá Tra bị
bệnh xuất huyết
Năm
Năm 2006(n=104)
Độ nhạy (%) các loại kháng sinh khảo sát
Doxy
Flor
Flum
Norf
Enro
Amox