Khoỏ lun tt nghip
Trng HSP H Ni 2
Trường Đại học sư phạm hà Nội 2
Khoa Ngữ văn
-------------***-----------
Đinh Thị Tuyền
Đọc - hiểu tác phẩm tự sự
Việt nam hiện đại sau 1975 trong
nhà trường THPT theo
đặc trưng thể loại
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
ThS-GVC. Vũ Ngọc Doanh
Hà Nội 2010
inh Th Tuyn
1
Lp:K32D - Ng Vn
Khoá luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Với tư cách là một giáo viên Ngữ Văn tương lai, mong muốn trang bị
cho mình những kiến thức và kĩ năng cần thiết khi bước lên bục giảng. Tôi
xin cam đoan khoá luận tốt nghiệp Đại học với đề tài “Đọc - hiểu tác phẩm tự
sự Việt Nam hiện đại sau 1975 trong nhà trường THPT theo đặc trưng thể loại” là
công trình nghiên cứu của cá nhân tôi.
Kết quả này không trùng với kết quả của bất kì tác giả nào đã công bố.
Nếu sai tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2010
Tác giả khoá luận
Đinh Thị Tuyền
Đinh Thị Tuyền
3
Lớp:K32D - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
DANH MỤC VIẾT TẮT
GV
Lớp:K32D - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỤC LỤC
Mở đầu
1) Lí do chọn đề tài
1
2) Lịch sử vấn đề
2
3) Đối tượng nghiên cứu
4
4) Mục đích nghiên cứu
4
5) Nhiệm vụ nghiên cứu
4
6) Phạm vi nghiên cứu
7
1.1.2. Vấn đề thể loại và quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học
11
1.1.2.1. Khái niệm thể loại
11
1.1.2.2. Vai trò của thể loại đối với quá trình tiếp nhận tác
13
phẩm văn học
1.1.3. Đọc – hiểu tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại –
14
một con đường tiếp nhận tác phẩm văn học
1.2. Cơ sở thực tiễn
15
1.2.1. Vị trí-vai trò của văn học Việt Nam hiện đại sau 1975
15
trong tiến trình phát triển văn học Việt Nam
19
2.1.3. Đặc trưng của thể loại tự sự Việt Nam sau 1975
20
2.1.3.1. Cốt truyện
20
2.1.3.1.1. Quan niệm về cốt truyện và đặc trưng chung
21
của cốt truyện
2.1.3.1.2. Đặc trưng của cốt truyện trong tác phẩm tự
23
sự Việt Nam sau 1975
2.1.3.2. Nhân vật
28
2.1.3.2.1. Quan niệm và đặc trưng chung về nhân vật
28
2.1.3.2.2. Đặc trưng nhân vật trong tác phẩm tự sự
40
Đinh Thị Tuyền
6
Lớp:K32D - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
2.2.2. Các cấp độ đọc – hiểu
41
2.2.2.1. Đọc thông - đọc thuộc
41
2.2.2.2. Đọc kĩ - đọc sâu
43
2.2.2.3. Đọc hiểu - đọc sáng tạo
44
Đinh Thị Tuyền
Kết luận
82
Tài liệu tham khảo
83
7
Lớp:K32D - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Theo Quyết định số 3/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/01/2001 của Bộ giáo dục
và đào tạo, việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ Văn theo quan điểm tích
hợp, trong đó trọng tâm của yêu cầu dạy học phần Văn là đọc – hiểu văn bản.
Lí thuyết về đọc hiểu là vấn đề giảng dạy khoa học còn tương đối mới mẻ đối
với môn học Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông. Nó giúp HS thực hiện
thao tác chiếm lĩnh giá trị tác phẩm, hướng tới hiệu quả thực hành, vận dụng
kết nối kiến thức với phần tiếng Việt, làm văn.
Điều 28.2 trong Luật Giáo dục (2005) đã ghi: “Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS: phù hợp
gũi với cuộc sống. Việc lựa chọn tìm hiểu tác phẩm tự sự hiện đại sau 1975,
người viết muốn giới hạn đề tài nghiên cứu để thấy diện mạo của văn học
hiện đại Việt Nam sau 1975 so với các giai đoạn trước.
2. Lịch sử vấn đề
Đọc – hiểu không còn là vấn đề hoàn toàn mới đối với các nhà khoa
học; các nhà giáo dục. Đã có rất nhiều nhà khoa học, nhà phê bình, nhà
nghiên cứu văn học tốn không ít giấy mực để đề cập đến đọc – hiểu. Vì vậy,
rất nhiều công trình nghiên cứu về đọc – hiểu ra đời: những luận án, luận văn,
chuyên đề, cuốn sách…
Trên bình diện lí luận, hai giáo trình, một của Đại học Tổng hợp do Hà
Minh Đức (chủ biên) đã đề cập đến những đặc trưng chung của thể loại tự sự,
đặc biệt quan tâm nhiều đến truyện và kí; một của Đại học Sư phạm do
Phương Lựu (chủ biên) quan tâm đến: Anh hùng ca; truyện thơ, thơ trường
thiên, truyện ngắn, truyện vừa, truyện ngụ ngôn. Hai cuốn giáo trình đã đề cập
đến những vấn đề thể loại, mỗi cuốn giáo trình nhấn mạnh vào thể loại khác
nhau, nhưng đều nhằm mục đích trang bị cho người đọc những kiến thức về lí
luận cơ bản để tạo ra tiền đề đi vào khai thác và chiếm lĩnh tác phẩm. Tuy
nhiên, hai cuốn giáo trình mới thành công trên lĩnh vực nghiên cứu mà chưa
đề cập đến phương pháp giảng dạy.
Trong cuốn “Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo thể
loại” của Nguyễn Viết Chữ (NXB GD. Hà Nội. 2000) đã vận dụng những
kiến thức lí luận văn học vào việc giảng dạy tác phẩm văn học ở cả ba thể
loại: Tự sự, trữ tình, kịch. Đề cập đến mối quan hệ giữa học và giảng văn hiện
Đinh Thị Tuyền
9
Lớp:K32D - Ngữ Văn
cho HS từ bậc THCS nhằm phát huy tính tích cực, ham học hỏi của HS khi
tiếp cận với văn bản.
Đinh Thị Tuyền
10
Lớp:K32D - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Trong cuốn “Thi pháp hiện đại” do Đỗ Đức Hiểu đã tập hợp từ hai
cuốn “Đổi mới phê bình văn học” (1994) và đổi mới đọc và bình văn (1999).
Trong đó nội dung trọng tâm là thi pháp truyện và giảng dạy truyện. Nhưng
công trình này mới dừng lại và thành công trên bình diện nghiên cứu, phê
bình, chưa đề cập đến phương pháp giảng dạy.
Cuốn “Tìm hiểu tác giả, tác phẩm văn học” do Nguyễn Trọng Hoàn
(chủ biên) NXB GD. 2006. Cũng đề cập đến việc đọc – hiểu tác phẩm theo
đặc trưng thể loại, nâng cao năng lực tự học cho HS. Trang bị cho HS những
đặc trưng cơ bản của từng thể loại, từ đó giúp HS có kĩ năng nhận biết và cảm
thụ, chiếm lĩnh tác phẩm.
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đã đóng góp rất lớn cả về lí luận
và thực tiễn cho hoạt động đọc – hiểu. Với đề tài này tác giả khoá luận một
mặt kế thừa những công trình đi trước, mặt khác vận dụng sáng tạo những kết
quả đó, để khoá luận thực sự trở thành một công trình đắc lực, một tài liệu
tham khảo khi dạy học Ngữ Văn đặc biệt là văn học Việt Nam sau 1975.
3. Đối tượng nghiên cứu
6. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài khoanh vùng giới hạn vì vậy tập trung triển khai vào việc xác
định cách đọc – hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 trong
chương trình THPT, cụ thể là lớp 12. Cả tiết học chính và tiết học thêm theo
đặc trưng thể loại tự sự. Điều đó được minh chứng cụ thể qua hai giáo án:
1) Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)
2) Một người Hà Nội (Nguyễn Khải).
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp khái quát lí luận.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
7.2. Phương pháp thực nghiệm
8. Đóng góp khóa luận
Đề tài “Đọc - hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975 trong
nhà trường THPT theo đặc trưng thể loại” góp phần bổ sung, hoàn thiện, cụ
thể hoá việc dạy học tác phẩm văn chương theo phương pháp đọc – hiểu,
cũng như góp phần nâng cao chất lượng giờ học đó.
9. Bô cục khoá luận
Gồm 3 phần:
- Phần mở đầu.
- Phần nội dung gồm:
+ Chương 1: Những vấn đề chung
Đinh Thị Tuyền
12
Lớp:K32D - Ngữ Văn
thức cơ bản về tiếp nhận để từ đó cảm thụ được giá trị của tác phẩm mà nhà
văn gửi gắm và bài học cho chính mình.
1.1.1.1. Khái niệm tiếp nhận tác phẩm văn học
Có rất nhiều ý kiến đề cập đến vấn đề tiếp nhận.
Theo từ điển tiếng Việt: NXB Đà Nẵng 2006 [tr.988].
“Tiếp nhận” là đón nhận cái từ nơi khác, người khác chuyển đến cho
mình.
Trong cuốn giáo trình “Lí luận văn học” do Phương Lựu (chủ biên).
NXB GD.2005. tr221 cho rằng: Sự tiếp nhận văn học là chuyển nội dung văn
bản thành một thế giới tinh thần, biến tác phẩm thành một thế giới tinh thần,
biến tác phẩm thành yếu tố của đời sống ý thức xã hội.
Trong cuốn “Đọc và tiếp nhận văn chương” GS. Nguyễn Thanh Hùng
cho rằng: Tiếp nhận tác phẩm văn học là quá trình đem lại cho người đọc sự
hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động để củng cố và phát triển
một cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần và năng lực cảm
xúc của con người trước đời sống.
Đinh Thị Tuyền
14
Lớp:K32D - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Các tác giả của cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi [tr.235] cho rằng: Tiếp nhận tác phẩm văn học là
Lớp:K32D - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
đổi đó gọi là quá trình sáng tác. Để làm được điều này đòi hỏi nhà văn phải có
những năng lực và phẩm chất quan trọng. Năng lực và phẩm chất đòi hỏi nhà
văn phải có: một trực giác nhạy bén; tâm hồn giàu cảm xúc. Luôn mở rộng để
đón nhận những âm vang của cuộc đời bằng khả năng quan sát tinh tế và vốn
tích luỹ của cuộc sống.
Năng khiếu bẩm sinh là yếu tố không thể thiếu để hình thành tài năng
văn học. Nhưng nhà văn phải biết trau dồi, rèn luyện về mọi mặt tư tưởng;
tình cảm; bản lĩnh; nhân cách; vốn văn hoá… kết hợp cả năng khiếu văn
chương và năng lực cảm thụ nhà văn sẽ sáng tạo ra tác phẩm có giá trị.
Trong thực tế diễn ra rất đa dạng, sự đa dạng này phụ thuộc vào đặc
điểm tâm lí, cá tính của nhà văn, đặc điểm thể loại mà nhà văn sáng tác. Trên
những nét chung nhất của quá trình sáng tác cũng phải tuân thủ theo các bước
cơ bản sau: Hình thành ý đồ sáng tác -> giai đoạn chuẩn bị -> giai đoạn viết > giai đoạn sửa chữa. Có thể nói rằng con đường làm ra tác phẩm của nhà văn
xét trên bình diện tiếp nhận là tương đối gian khổ để tạo ra nhịp cầu nối kết
giữa tác giả với đời sống và bạn đọc. Thông qua tác phẩm người đọc có thể
hiểu được những điều mà nhà văn muốn gửi gắm.
b) Sự tiếp nhận của bạn đọc
Một tác phẩm chỉ thành công khi được bạn đọc và công chúng đón
nhận.
Tiếp nhận văn học là hoạt động “tiêu dùng” thưởng thức, phê bình văn
học của người đọc thuộc nhiều loại hình, nhiều trình độ khác nhau. Tiếp nhận
văn học là quá trình hoàn thành quá trình sáng tác – giao tế của văn học.
Người đọc là người tiếp nhận văn bản nghệ thuật của nhà văn và cấp
* Trước hết: tiếp nhận đòi hỏi người đọc phải biết tri giác; cảm thụ tác
phẩm qua việc nắm vững và hiểu biết về ngôn ngữ, nhân vật, cốt truyện… để
có thể cảm nhận được hình tượng một cách trọn vẹn trong mối liên hệ với các
yếu tố khác. Thực hiện được yêu cầu này là người đọc đã tiến hành xong hoạt
động đọc, đây là sự khởi đầu của quá trình tiếp nhận tác phẩm. Dù là đọc văn
bản theo cách nào đi nữa thì cuối cùng người đọc cần nắm được tác phẩm. Ở
mỗi thể loại có một cách đọc riêng: trữ tình cần chú ý tới cảm xúc, nhịp
điệu…. Thể loại tự sự thì chú ý tới cốt truyện, nhân vật, người kể truyện; Kịch
chú ý tới xung đột kịch. Vì vậy, cần có cách đọc phù hợp với từng thể loại để
tiếp cận tác phẩm đạt được hiệu quả cao nhất.
* Tiếp theo là hoạt động phân tích
Đinh Thị Tuyền
17
Lớp:K32D - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất giữa nội dung và hình
thức. Phân tích tác phẩm văn học là thao tác chia nhỏ, tháo gỡ tất cả những
yếu tố có mối quan hệ vốn không thể tách rời nhau trong một chỉnh thể nghệ
thuật, sau đó lắm ghép, tổng hợp lại. Qua phân tích người đọc phát hiện ra ý
đồ của nghệ sĩ thông qua khai thác hình tượng được tác giả kết tinh tư tưởng,
tình cảm của mình. Tuy nhiên, trong quá trình phân tích người đọc cần xác
định trọng tâm từ đó thâm nhập và khái quát nội dung tư tưởng mà tác giả gửi
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Như vậy, để chiếm lĩnh tác phẩm văn học người đọc phải huy động
những hiểu biết của mình, tuân thủ những thao tác tiếp nhận để chiếm lĩnh tác
phẩm một cách toàn diện nhất.
c) Những khó khăn khi tiếp nhận tác phẩm văn học
Văn học luôn gắn liền với hoàn cảnh lịch sử nhất định của từng thời
đại. Vì vậy khi tiếp nhận tác phẩm văn học cũng gặp phải những khó khăn vì
thời đại của tác phẩm mà nghệ sĩ sáng tạo ra với thời đại mà người đọc tiếp
nhận là khác nhau: đòi hỏi người đọc phải có vốn hiểu biết về lịch sử, về văn
hoá, về tư tưởng, quan niệm… của hoàn cảnh mà tác phẩm ra đời, từ đó để
hiểu giá trị tư tưởng nhà văn gửi gắm.
Một khó khăn không nhỏ khi tiếp nhận tác phẩm văn học là sự khác
biệt về phong cách thời đại: như thời trung đại văn chương bị chi phối nhiều
về quan niệm trung quân ái quốc, văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí; thơ mới giai
đoạn (1930 – 1945) thì cái tôi cá nhân được bộc lộ…; sự khác biệt về ngôn
ngữ: trung đại chủ yếu sáng tác bằng chữ Hán… Bên cạnh đó ngôn ngữ địa
phương, các điển tích, điển cổ… làm người đọc gặp phải rất nhiều khó khăn
khi tiếp nhận tác phẩm văn chương.
Đặc biệt thời đại công nghệ thông tin hiện nay, không có nhiều thời
gian cho việc cảm thụ tác phẩm văn học: thị hiếu về tiểu thuyết, kể cả truyện
ngắn giảm sút nghiêm trọng.
Với đề tài “Đọc – hiểu tác phẩm tự sự Việt Nam hiện đại sau 1975
trong nhà trường THPT theo đặc trưng thể loại”, tác giả khoá luận mong
muốn rút ngắn những khoảng cách, những khó khăn thông qua phương pháp
đọc – hiểu theo đặc trưng thể loại.
1.1.2. Vấn đề thể loại và quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học
1.1.2.1 Khái niệm thể loại
Theo từ điển Tiếng Việt:
Loại hình phản ánh tính quy luật của văn học (tính ổn định) vì mọi tác
phẩm đều thuộc một loại nào đó. Đồng thời chỉ ra tính cá biệt của mỗi hình
tượng văn học thể hiện ở những phương diện sau: mang đặc điểm riêng của
một nền văn học; mang đặc điểm riêng của các trào lưu văn học; mang đặc điểm
riêng cá tính của nhà văn.
Thể (thể tài) là phương thức tổ chức hình thức thiên về ngôn ngữ của
tác phẩm. Khái niệm “thể” so với “loại” thì nhỏ hơn, tuy nhiên sự biến động
và số lượng cũng nhiều hơn. Thể tài không chỉ có ba mà nó vô cùng phong
Đinh Thị Tuyền
20
Lớp:K32D - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
phú. Ví dụ trong thể loại tự sự có nhiều thể như: Truyện ngắn, truyện vừa,
tiểu thuyết, phóng sự… Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại. Loại mang tính
ổn định và bền vững, còn thể thường xuyên vận động và biến đổi.
“Thể” và “loại” là hai khái niệm tồn tại độc lập nhưng có mối quan
hệchặt chẽ với nhau: “loại” là khái niệm lớn mang tính phương thức, “thể” là
khái niệm nằm trong “loại”. Vì vậy, người ta thường gộp thành khái niệm kép
“thể loại”.
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” [tr.299] thể loại được hiểu là: dạng
thức của tác phẩm văn học được hình thành và tồn tại tương đối ổn định trong
quá trình phát triển của lịch sử văn học, thể hiện sự giống nhau về cách thức
văn học, hình thành trên cơ sở của sự lặp đi lặp lại có tính quy luật của các
yếu tố trong tác phẩm, là căn cứ để phân loại tác phẩm. Tính quy luật như một
nguyên tắc để xây dựng thế giới nghệ thuật. Khi nghiên cứu có thể nhận ra sự
kế thừa với giai đoạn văn học trước và vai trò của nó với việc tiếp nhận.
Thể loại văn học thuộc phạm trù lí luận văn học, thuộc khoa học của
văn chương. Lí luận văn học ảnh hưởng trực tiếp đến việc dạy và học trong
nhà trường phổ thông. Tiếp nhận văn học là vấn đề liên quan đến hoạt động
dạy và học – là cơ sở của phương pháp dạy và học thuộc khoa học giáo dục.
Thể loại có tác động lớn đến tiếp nhận văn học, vì tác giả sáng tác theo thể
loại; người dạy dạy theo đặc trưng thể loại, người đọc tiếp nhận theo thể loại.
Vì vậy phương pháp sáng tác của nhà văn quy định đến cách thức cảm thụ của
người học, người đọc.
Để tiếp nhận tác phẩm văn học theo quy luật thẩm mĩ, người tiếp nhận
phải biết tác phẩm đó viết cái gì? viết bằng cách nào? viết như thế nào? Ngoài
ra muốn hiểu sâu tác phẩm phải khám phá và tìm ra con đường nhà văn đã đi.
Nắm được đặc trưng về thể loại để chiếm lĩnh tác phẩm một cách hiệu quả nhất.
1.1.3. Đọc – hiểu tác phẩm văn học theo đặc trưng thể loại – một con
đường tiếp nhận tác phẩm văn học
Đọc – hiểu là hoạt động diễn ra giữa hai thành tố tác động qua lại lẫn
nhau:
Người đọc (chủ thể): thông qua văn bản bằng cảm xúc của mình; khả
năng tri giác, chuyển ngôn ngữ thành những thông tin thẩm mĩ đầy đủ nhất
của hình tượng nghệ thuật.
Văn bản (đối tượng) từ hệ thống tín hiệu là ngôn ngữ trở thành đối
tượng của người đọc, tạo ra sự đồng cảm với tác giả và suy nghĩ của mình. Ví
dụ: thông qua bài thơ “Vội vàng” (Xuân Diệu) người đọc cảm nhận được
Đinh Thị Tuyền
22
- Văn học hiện đại: Từ đầu thế kỉ XX đến hết thế kỉ XX, tiếp nối thế kỉ
XXI.
Tìm hiểu, nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại sau 1975 không thể
tách rời sự vận động biến đổi tiến trình phát triển của văn học dân tộc. Bởi
một đặc trưng cơ bản của phương pháp sáng tác không thể thiếu đó là tính kế
Đinh Thị Tuyền
23
Lớp:K32D - Ngữ Văn
Khoá luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
thừa thành tựu của các giai đoạn văn học trước nó. Theo cuốn: “Lịch sử văn
học Việt Nam” tập 3 [tr.39]. Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) thì văn học Việt
Nam hiện đại có thể chia làm 5 thời kì nhỏ gắn với hoàn cảnh lịch sử của dân
tộc:
+ Từ 1945 -> 1946: Văn học trong những ngày hội lớn của cách mạng.
+ Từ 1946 -> 1954: Văn học thời kì kháng chiến chống Pháp.
+ Từ 1954 -> 1964: Văn học thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược : Xây
dựng CNXH ở miền Bắc; đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất
nước.
+ Từ 1964 -> 1975: Văn học trong cao trào kháng chiến chống Mĩ.
+ Văn học sau 1975: Văn học hậu chiến và đổi mới.
Như vậy, văn học bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử đất nước, bám sát
hiện thực đời sống. Lịch sử biến đổi thì văn học thay đổi để phục vụ và đáp
vườn” (Ma Văn Kháng); Thơ: Đàn ghi ta của Lor-Ca (Thanh Thảo); Đò Lèn
(Nguyễn Duy); Kịch: “Hồn Trương Ba da hàng thịt” (Lưu Quang Vũ).
Có thể thấy được văn học Việt Nam hiện đại sau 1975 được đưa vào
giảng dạy thuộc đầy đủ các thể loại: tự sự, trữ tình, kịch, với nội dung, tư
tưởng có nhiều điều mới lạ tạo ra sự hấp dẫn, lôi cuốn HS. Vì những tác phẩm
này đề cập đến những vấn đề hiện thực cuộc sống gần gũi với thời đại mà các
em đang sống. Đặc biệt thể loại kịch lần đầu tiên đưa vào chương trình đã tạo
ra động lực rất lớn cho HS tìm tòi và khám phá những đặc trưng của thể loại
mới, là cơ sở để khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm mới.
Cùng với dòng chảy của các giai đoạn văn học trước đó, văn học Việt
Nam hiện đại sau 1975 đã và đang tìm được chỗ đứng và ngày càng khẳng
định được vị trí của mình trong tiến trình phát triển của nền văn học Việt
Nam. Với những lợi thế về phong cách, phương pháp sáng tác… kế thừa từ
giai đoạn văn học trước đó; đặc biệt là với hiện thực và các điều kiện kinh tế
xã hội phát triển; nhu cầu của bạn đọc, đã tạo điều kiện rất lớn cho các nhà
văn đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm, những số phận đời tư, những mảnh
đời bé nhỏ không ở đâu xa mà ngay trên mặt đất, ở xung quanh chúng ta. Vì
thế văn học sau 1975 đã trở thành tâm điểm; sự quan tâm lớn đối với các nhà
giáo dục; đối với HS.
Với khả năng phản ánh hiện thực sâu sắc, toàn diện văn học Việt Nam
hiện đại sau 1975 tác động và có vai trò rất lớn đối với hoạt động tiếp nhận và
quá trình nhận thức của HS, ngày càng khẳng định được vị trí của mình không
Đinh Thị Tuyền
25
Lớp:K32D - Ngữ Văn