Đặc sắc phong cách nghệ thuật truyện ngắn nguyễn công hoan qua nhóm tác phẩm có nhân vật trung tâm là những người nghèo đói - Pdf 31

Khoá luận tốt nghiệp

Bùi Thị Duyên

Phần mở đầu
1. Tầm quan trọng của đề tài

1.1. Lịch sử của những nền văn học lớn trên thế giới đã chứng minh thật hùng
hồn luận điểm cho rằng: Một nền văn học lớn là một nền văn học có những nhà văn
lớn. Lẽ dĩ nhiên, những nhà văn lớn, những nghệ sĩ lớn là những nhà văn phải có
phong cách độc đáo. Đó chính là mục đích cuối cùng mà bất cứ ai dấn thân vào con
đường trở thành người thư ký trung thành của thời đại (Ban Zắc) đều khát khao,
ước mơ và chiếm lĩnh. Và thực tế đã chứng minh không ít người đã phải chấp nhận
sự thất bại. Quả thật không sai khi mà đại văn hào V.Huygô nói: tương lai chỉ
thuộc về những ai nắm được phong cách và một tác phẩm viết tốt không bao giờ
làm cho người ta mệt mỏi, phong cách - đó là cuộc sống. Đó chính là máu của tư
tưởng (Flôbe). Do đó, nói đến phong cách nghệ thuật là nói đến vấn đề cơ bản, cốt
lõi của lý luận văn học; là mục đích cuối cùng của mọi nền văn học; là nói đến
những sáng tạo đạt đến trình độ cao của nghệ thuật, ở một nhà văn, rộng hơn là của
một trào lưu hay trường phái văn học. Vì vậy, việc nghiên cứu phong cách nghệ
thuật là một niềm vinh dự và sẽ là bài học kinh nghiệm quý giá, là sự khích lệ cho
tác giả khoá luận với tư cách là một người bước đầu tập nghiên cứu khoa học.
1.2. Lịch sử văn học, xét đến cùng là lịch sử của những phong cách lớn.
Những nghệ sĩ vĩ đại, những tác giả tiêu biểu và tác phẩm xuất sắc của họ lẽ dĩ
nhiên luôn luôn là đối tượng trung tâm và cốt lõi của văn chương nghệ thật đích
thực; của việc dạy học văn ở trường phổ thông và đại học. Bởi vì suy cho cùng:
Nghệ thuật trước hết là loại văn hoá nổi bật ở tính sáng tạo của nó và nhất là sáng
tạo phong cách nghệ thuật cá nhân của mỗi nghệ sĩ vĩ đại [7;34, 35]. Việc tiếp cận
tác giả, tác phẩm từ góc độ phong cách vì vậy sẽ có ý nghiã lý luận thực tiễn quan
trọng .
Lâu nay, tình hình giảng dạy văn học trong nhà trường phổ thông thường

Nam hiện đại.
Đồng thời, việc thực hiện đề tài này còn giúp tác giả khoá luận mới bắt đầu
tìm hiểu công việc nghiên cứu khoa học có những cơ sở ban đầu cho một công việc
quan trọng và khó khăn: nghiên cứu phong cách Nguyễn Công Hoan trong tiến trình
của lịch sử văn học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.

Lý luận văn học là khoa học lấy văn chương làm khách thể nghiên cứu.
Trong văn chương, cái cốt lõi đương nhiên phải là vấn đề phong cách. ở Việt Nam,
số lượng những công trình nghiên cứu về phong cách nghệ thuật là vô cùng phong
phú và đa dạng. Tuy nhiên, những quan niệm mà các nhà nghiên cứu đưa ra về
phong cách vẫn chưa nhất quán. Chẳng hạn Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi
nhân Việt Nam đã chỉ rằng: phong cách là sự độc đáo về nội dung. Còn Phan Ngọc
lại cho rằng: phong cách là sự phù hợp giữa nội dung và hình thức nghệ thuật, nhưng

2


Khoá luận tốt nghiệp

Bùi Thị Duyên

khi nghiên cứu tác giả lại thiên về ngôn ngữ. Có quan niệm tiến bộ hơn về phong
cách, Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: phong cách là sự độc đáo từ nội dung đến hình
thức qua hàng loạt tác phẩm của một tác giả nhất định. Các quan niệm trên mặc dù
đã tiệm cận được khái niệm phong cách, nhưng vẫn chưa thực sự đưa ra được một
định nghĩa thống nhất và thuyết phục, đặc biệt là chưa có sự phân chia cấu trúc của
nó một cách dễ dàng. Chỉ đi theo quan niệm của M. B. Khrapchenko trong Cá tính
sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, chúng ta mới thực sự tiếp cận
vấn đề phong cách đúng đắn hơn, toàn diện hơn và thoả đáng hơn.

Vinh danh hơn nữa cho truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Hoành
Khung khẳng định: ông là một bậc thầy trong truyện ngắn trước hết là truyện ngắn
trào phúng, truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan là hiện tượng chưa có đến
hai lần trong văn học Việt Nam (). Tiếng cười trào phúng trong truyện ông là
tiếng cười hồn nhiên, khoẻ khoắn, mặn mà. Văn truyện Nguyễn Công Hoan là thứ
văn của đời sống, rất linh hoạt và đặc biệt là rất vui. [18;1.4]
Trong số những nhà nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan, Lê Thị Đức Hạnh là
người dành nhiều công sức hơn cả. Tác giả đã có hẳn một chương riêng bàn về nghệ
thuật trào phúng trong truyện ngắn của ông [15]. Nhà nghiên cứu đã có những phát
hiện rất tinh tế , chính xác nghệ thuật xây dựng truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
được thể hiện ở một số mặt: đề tài, chủ đề, tư tưởng, cốt truyện, chi tiết nghệ thuật,
bố cục văn phong, ngôn ngữ
Tuy nhiên, rất dễ nhận ra rằng: các bài nghiên cứu trên chủ yếu khai thác bút
pháp trào phúng của Nguyễn Công Hoan - một thủ pháp chủ đạo tạo sức hấp dẫn
riêng cho truyện ngắn của ông. Đó mới chỉ là một biểu hiện của phong cách nghệ
thuật cá nhân. Các tác giả bài viết chưa có kết luận khái quát về phong cách Nguyễn
Công Hoan và nghiên cứu về phong cách không phải là trọng tâm của những bài viết
trên; nên nhiều vấn đề về phong cách truyện ngắn Nguyễn Công Hoan chưa được
đào sâu, và chưa có hệ thống, thống nhất hoàn chỉnh. Song đối với đề tài này, thì các
bài viết nghiên cứu trên vẫn là những gợi ý có giá trị và quan trọng đối với người tập
nghiên cứu khoa học như tác giả khoá luận này.
Công trình nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan ngày càng dày thêm bởi những
đóng góp gần đây của nhiều luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ: Trần Ngọc Dung với luận án
Phó tiến sĩ: Ba phong cách truyện ngắn trong văn học Việt Nam thời kỳ đầu những
năm 1930-1945: Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao (1992); Trần Văn Hiếu
với luận án Thạc sĩ: Ba phong cách trào phúng trong văn học Việt Nam thời kỳ từ
1930-1945: Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao (1994).
Các công trình nghiên cứu trên đã phát hiện khá tinh tế: nghệ thuật tạo dựng
các cấu trúc trí tuệ phong phú, đa dạng; nghệ thuật trần thuật giàu kịch tính- cái
duyên mặn mà nhất của Nguyễn Công Hoan; sáng tạo cốt truỵên và cách kể chuyện,

3. giới hạn của đề tài

3.1. Về nội dung
Với đề tài đã chọn, tác giả khóa luận sẽ tiến hành nghiên cứu phong cách
Nguyễn Công Hoan trong sự so sánh với nhóm tác phẩm tương ứng của Nam Cao.
Đặc biệt để làm nổi bật đặc sắc dòng phong cách truyện ngắn trào phúng của ông,
chúng tôi cũng đồng thời thực hiện thao tác so sánh với nhóm tác phẩm thể hiện
hình ảnh những người giàu trong sáng tác của chính nhà văn này.
3.2. Về tư liệu
3.2.1. Nhóm tác phẩm thể hiện nhân vật trung tâm là những người nghèo đói
1. Kép Tư Bền
2. Người ngựa ngựa người
3. Thằng ăn cắp
4. Thế cho nó chừa.

5


Khoá luận tốt nghiệp

Bùi Thị Duyên

3.2.2. Nhóm tác phẩm có nhân vật là những người giàu có
1. Báo hiếu: trả nghĩa cha
2. Cụ Chánh Bá mất giày
3. Mất cái ví
4. Răng con chó của nhà tư sản.
3.2.3. Nhóm tác phẩm có nhân vật trung tâm là những người nghèo đói của Nam
Cao gồm:
1. Lão Hạc


Khoá luận tốt nghiệp

Bùi Thị Duyên

gọi tên những dấu hiệu biểu hiện phong cách truyện ngắn Nguyễn Công Hoan qua
nhóm tác phẩm có nhân vật trung tâm là những người nghèo đói.
Chỉ ra được đặc sắc phong cách truyện ngắn Nguyễn Công Hoan qua nhóm
tác phẩm đã dẫn.
6. Đóng góp của khoá luận

6.1. Nắm chắc khái niệm phong cách, vận dụng có sáng tạo nhằm làm nổi bật
các dấu hiệu biểu hiện phong cách truyện ngắn Nguyễn Công Hoan qua nhóm tác
phẩm thể hiện nhân vật trung tâm là người nghèo đói.
6.2. Chỉ ra và phân tích những nét độc đáo trong phong cách truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan qua nhóm tác phẩm kể trên. Từ đó, chúng tôi muốn góp thêm
một tiếng nói khẳng định những đóng góp quan trọng của Nguyễn Công Hoan vào
sự phát triển của nền văn học nước nhà.

7


Khoá luận tốt nghiệp

Bùi Thị Duyên

Phần nội dung
Chương 1. Cơ sở lý luận về phong cách
1.1. Phong cách - xét về phương diện từ ngữ



Khoá luận tốt nghiệp

Bùi Thị Duyên

Tuy nhiên, cũng không nên thần thánh hoá bản thân những thuật ngữ và
những định nghĩa, không nên cho rằng chúng là chiếc chìa khoá duy nhất để khám
phá tất cả các bí mật của nghệ thuật. Do đó trong phạm vi bài tiểu luận này, chúng
tôi đã chỉ ra một vài cách hiểu tiêu biểu như viện sĩ M. B. Khrapchenko tập hợp và
phân tích trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học.
1.2.2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2.2.1.1. Phong cách sự thống nhất với phương pháp và thế giới quan nghệ sỹ.
Đó là những cách hiểu của Đ. Likhachev và Ar. Grigôrian. Đ. Likhachev cho
rằng: Phong cách nghệ thuật kết hợp trong bản thân nó sự thụ cảm chung về hiện
thực vốn có ở nhà văn và phương pháp nghệ thuật được quy định bởi những nhiệm
vụ mà nhà văn đặt ra cho mình. Với ý nghĩa đó, khái niệm phong cách có thể được
áp dụng vào những thể loại nghệ thuật khác nhau và giữa chúng có thể có những sự
tương ứng đồng loại [8;258].
Tương tự với cách hiểu này, Ar. Grigôrian nói: Phong cách không thể vô can
với phương pháp, với thế giới quan, với bút pháp, với cá nhân người nghệ sỹ với
cách hiểu của nghệ sỹ về thời đại, với vẻ đặc thù dân tộc trong sáng của anh ta
Phong cách là sự thống nhất cao nhất của tất cả những phạm trù đó [8;258].
Trên đây là hai cách hiểu mang ý nghĩa khái quát cao cho mọi loại hình nghệ
thuật, nhưng lại không có sự phân biệt rõ ràng, nên không tiến thêm được bước nào
về định nghĩa phong cách. Vì là, họ đã thống nhất phong cách với phương pháp sáng
tác, nhưng lại không chỉ ra được những đặc trưng của phong cách và cũng không
nhấn mạnh được vai trò sáng tạo của cá nhân nghệ sỹ.
1.2.2.1.2. Phong cách một hiện tượng có tính chất ngôn ngữ.
V. Turbin cho rằng: Phong cách là ngôn từ được xét trong mối quan hệ của
nó với hình tượng, đó là tác động qua lại thường xuyên giữa những khái niệm và ý

chế xem xét những hiện tượng phong cách chỉ trong khuôn khổ một tác phẩm. Đây
là điều khó có thể bỏ qua trong nghiên cứu và phê bình văn học.
1.2.2.1.4. Phong cách Như là hình thức trọn vẹn có tính nội dung
V. Đneprôv nhận xét: Phong cách là mối liên hệ của những hình thức, mối
liên hệ đó bộc lộ thống nhất của nội dung nghệ thuật[8;261].
Phát triển ý kiến của V. Đneprôv, Ya. Elxberg nhấn mạnh: Phong cách biểu
hiện sự toàn vẹn của hình thức có tính nội dung được hình thành trong sự phát triển,
trong tác động qua lại và trong sự tổng hợp các yếu tố của hình thức nghệ thuật,
dưới ảnh hưởng của đối tượng và nội dung tác phẩm, của thế giới quan của nhà văn
và của phương pháp của ta vốn thống nhất với thế giới quan Phong cách đó là sự
thống trị của hình thức nghệ thuật [8;261].
Hai quan niệm trên đây đã vi phạm nguyên tắc về mối quan hệ giữa nội dung
và hình thức, do quá coi trọng yếu tố hình thức. Mà khi hình thức có tính nội dung
thì vẫn chưa bao hàm được chất lượng thể hiện phong cách, do đó quan niệm này
chưa bao hàm được chất lượng thể hiện phong cách.
Có thể nói, một số cách hiểu về phong cách ở trên (theo M.B Khrapchenko)
vẫn còn tồn tại nhiều điểm bất cập, hạn chế, chưa hợp lý. Do đó, lẽ dĩ nhiên cần một

10


Khoá luận tốt nghiệp

Bùi Thị Duyên

quan niệm đúng đắn hơn cả, hợp lý, thoả mãn và khắc phục tất cả những hạn chế
của những quan niệm trên. Và chúng tôi coi quan niệm của M.B. Khrapchenko sau
đây là có thể thoả mãn được các điều kiện đó.
1.2.2.1.5. Phong cách Phương thức biểu hiện cách chiếm lĩnh hình tượng đối
với cuộc sống.



Khoá luận tốt nghiệp

Bùi Thị Duyên

7. Phong cách sự đóng góp mang lại màu sắc riêng cho thể văn.
Có thể thấy rằng, chỉ có những yếu tố biểu hiện phong cách mới chính là
những dấu hiệu của bản thân phong cách, còn những nhân tố quy định phong cách
chỉ là những nhân tố phát sinh, dẫn đến sự hình thành phong cách.
M.B. Khrapchenko trong công trình nghiên cứu của mình đã có những khái
quát rất đúng đắn. Đó là mỗi nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và những
phương tiện độc đáo để thể hiện những tư tưởng và hình tượng của mình. Điều đó có
nghĩa là, nhà văn đã tạo ra được phong cách. Phong cách cần phải được định nghĩa
như thủ pháp biểu hiện cách khai thác hình tượng đối với cuộc sống như thủ pháp
thuyết phục và thu hút độc giả. Nhưng cụ thể, cái gì là sự biểu hiện phương
thức thuyết phục và thu hút ấy? M. B. Khrapchenko đã có cách lý giải hợp lý hơn
cả, đó là: Phong cách thuyết phục bằng cách thể hiện những đặc tính của sự vật,
của những quá trình hiện thực, của những tính cách của con người [8; 279]. Xét
đến cùng, điểm quy chiếu cho tất cả mọi hiện tượng văn học chính là độc giả. Cái
mà các nhà văn luôn luôn hướng tới và khát vọng đạt được là khắc phục những
chướng ngại vật giữa mình và độc giả. Tựu chung lại, sự thành công cao nhất của
phong cách, vấn đề cơ bản nhất của phong cách là ở sự giao tiếp chặt chẽ với độc
giả. Như vậy, định nghĩa của M. B Khrapchenko về phong cách có thể xem là đã
thoả mãn phần nào tất cả những vấn đề bất cập trên.
1.2.2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Xung quanh vấn đề phong cách ở Việt Nam ,từ lâu cũng đã có những ý kiến
khá đa dạng và phong phú.
Đáng chú ý là Hoài Thanh Hoài Chân trong cuốn Thi nhân Việt Nam đã
tìm ra được những nét độc đáo trong phong cách của các nhà thơ Mới. Nhưng đáng

cách là một chỉnh thể nghệ thuật Phong cách bao gồm những đặc điểm độc đáo
của tác phẩm từ nội dung đến hình thức Phong cách một khi đã định hình thì
thường có tính bền vững. [20]
Tác giả đã chỉ ra được phong cách là sự độc đáo từ nội dung đến hình thức
qua một loạt tác phẩm, tuy nhiên nhà nghiên cứu vẫn chưa bàn cụ thể về các yếu tố
biểu hiện phong cách, mà cái này mới là vấn đề trọng tâm của phong cách.
Có thể nói, tình hình nghiên cứu phong cách ở trong và ngoài nước là rất sôi
động, sôi nổi. Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau xung quanh vấn đề này và nó
ngày càng tịnh tiến gần hơn đến đặc trưng của phong cách theo đúng nghĩa nhất của
từ này. Như Viện sĩ M.B. Khrapchenko đã từng nói: Không nên cho rằng những
định nghĩa, thuật ngữ là chiếc chìa khoá duy nhất để khám phá tất cả những bí mật
của nghệ thuật, do đó chúng tôi nhận thấy rằng định nghĩa của M.B.Khrapchenko
là hợp lý hơn cả. Vì thế, trong khoá luận tốt nghiệp này, chúng tôi thừa nhận và đi
theo hướng nghiên cứu của M.B. Khrapchenko về phong cách nghệ thuật của nhà
văn.

13


Khoá luận tốt nghiệp

Bùi Thị Duyên

Chương 2. Những yếu tố biểu hiện phong cách truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan qua nhóm tác phẩm có nhân vật trung tâm
là người nghèo đói

2.1. Phong cách chức năng - một kiểu máy phát năng lượng nghệ
thuật.



Bùi Thị Duyên

không biết đau. Nó mê lên rồi. Cuối cùng là sự kết thúc đầy bất ngờ. Đám người
đuổi tưởng tượng ra bao nhiêu thứ đồ ăn cắp to tát nên đã cố công đuổi theo, nhưng
kết quả thằng ăn cắp chỉ ăn hai xu bún riêu rồi nó quịt
ở truyện Người ngựa ngựa người lại là một tình huống đầy hài hước và oái
oăm. Đó là tình huống con ngựa người lại phải kéo con người ngựađầy bất đắc dĩ.
Đó còn là tình huống lừa đầy ngoạn mục của ả gái giang hồ làm cho anh phu xe
lủi thủi ra về trong bao nhiêu nỗi cơ cực, đắng cay cho thân phận nghèo của mình.
Thực chất đó là tình huống gặp gỡ của hai kiếp người tương ngộ, người này mong
dựa vào người kia, nhưng cuối cùng lại là sự bất hạnh trong ngay ngày đầu tiên của
năm mới.
Với truyện Kép Tư Bền, sự kiện cha ốm, chủ đến đòi nợ, tiền thuốc thang
cho cha cạn kiệt, sự chờ mong vai diễn của anh của khán giả dồn dập ập đến với
Kép Tư Bền làm cho anh rầu gan nát ruột. Tình huống truyện được đẩy lên kịch
tính cao nhất là khi cha anh đang thở những hơi thở cuối cùng thì anh lại phải diễn
lại một lần nữa để làm trò cười cho khán giả. Kết thúc truyện khép lại bằng một
thông báo hết sức ngắn gọn, bất ngờ: Hỏng từ ban nãy mất rồi! Khốn nạn thân anh
quá!. Khi tình huống truyện được đẩy đến mức cao nhất, cũng là lúc tiếng cười
chua chát bật ra cùng với những giọt nước mắt cảm thương cho thân phận người
nghệ sỹ nghèo trong xã hội xưa.
Như vậy, việc sử dụng tình huống giàu kịch tính đã giúp Nguyễn Công
Hoan làm bộc lộ sâu sắc xung đột trào phúng, tạo được sự thuyết phục đặc biệt đối
với độc giả.
2.1.2. Thủ pháp phóng đại những xung đột trào phúng.
Nhằm thu hút và thuyết phục độc giả, ở nhóm tác phẩm thể hiện người
nghèo đói, Nguyễn Công Hoan thường xuyên sử dụng thủ pháp phóng đại những
xung đột trào phúng để làm nổi bật tính chất chế giễu, phê phán. Nguyễn Công
Hoan là nhà văn rất có sở trường về việc sử dụng những xung đột trào phúng mang

đây nó bước dần vào con đường bị tha hoá. Xung đột tiếp tục được phát triển khi nó
ở trong tù và chịu sự đầy đoạ của những kẻ thừa hành pháp luật. Xung đột này
được phóng đại qua chi tiết vụt một cái, bây giờ cả tấm bánh lẫn nó biến mất,
không những nó không sợ, không chừa mà bây giờ nó bợm hơn trước.
Như vậy, sự phóng đại xung đột trào phúng ở đây không những không làm
giảm đi tính chân thật của hình tượng, mà còn làm tăng thêm hiệu quả trào phúng,
thu hút và thuyết phục độc giả.
2.1.3. Thủ pháp đòn bẩy
Đây là kiểu thu hút thuyết phục độc giả mà nhà văn tập trung thể hiện những
nhân vật có quan hệ trực tiếp với nhân vật trung tâm, làm nổi bật nhân vật, từ đó in
đậm hơn tính cách nhân vật trung tâm.

16


Khoá luận tốt nghiệp

Bùi Thị Duyên

Trong nhóm tác phẩm viết về người nghèo đói của Nguyễn Công Hoan, điểm
nhấn của đòn bẩy được tác giả đặt vào các nhân vật trong mối quan hệ rất phong
phú, đa dạng với nhân vật trung tâm.
Với truyện Kép Tư Bền, điểm nhấn của đòn bẩy được đặt vào các nhân vật
đối lập, trong quan hệ kẻ quyền thế tôi đòi. Từ đó, nhà văn phanh phui bản chất,
thể hiện sâu sắc sự bi đát của thân phận người nghệ sĩ nghèo trong chế độ xưa.
Còn trong Người ngựa ngựa người, điểm nhấn lại được đặt vào nhân vật
cùng cảnh ngộ với nhân vật trung tâm. Đó là sự trôi dạt của hai kiếp người: phu xe
nghèo và gái giang hồ nghèo cùng đi kiếm khách, người này hi vọng vào người
kia đem đến vận may cho mình, nhưng cuối cùng cả hai lại càng dấn sâu hơn vào
con đường ngõ cụt.

Nguyễn Công Hoan thật tài tình và tinh tế khi cùng viết về những con người ở
đáy cùng của xã hội nhưng ông có những cách gọi tên thật đặc sắc, độc đáo, không
nhân vật nào giống nhân vật nào. Điều đó chứng tỏ tài năng của người hiểu và nắm
rõ sức mạnh của ngôn từ.
2.1.5. Thủ pháp sử dụng những chi tiết đánh lạc hướng độc giả.
Đây là một trong những thủ thuật hóm hỉnh nhất của Nguyễn Công Hoan khi
viết về những người nghèo đói. Ông đã khéo léo sử dụng những chi tiết đánh lạc
hướng độc giả khỏi cái đích thật sự của câu chuyện. Người đọc càng bị lạc đi xa
bao nhiêu thì khi kết truyện càng bị bất ngờ bấy nhiêu.
ở truyện Thằng ăn cắp, thủ pháp này cũng được phát huy tối đa tác dụng.
Hành động đấm đá túi bụi của những người qua đường vào một đứa trẻ khiến người
ta tưởng rằng nó ăn cắp một cái gì lớn lắm. Bao nhiêu giả thuyết về những thứ đồ
ăn cắp được đưa ra là bấy nhiêu lần thằng bé bị một trận mưa đòn. Kết truyện cuối
cùng thật bất ngờ được mở ra bằng câu nói của khổ chủ Nó ăn của tôi hai xu
bún riêu rồi nó quịt nó chạy!.
Truyện Thế cho nó chừa, người ta (bà hàng) cứ đinh ninh là sau khi bỏ tù
nó, thì nó sợ, nó chừa. Chả hoá ra bây giờ nó bợm hơn trước. Người đọc thì cứ
đinh ninh rằng sau quá trình rèn luyện của nhà tù, nó sẽ thay đổi. Cuối cùng,
chẳng những nó không thay đổi mà ngày càng lún sâu hơn vào con đường tha hoá.
Đến với Kép Tư Bền, một lần nữa chúng ta lại thấy được tài năng của
Nguyễn Công Hoan trong việc sử dụng những chi tiết đánh lạc hướng độc giả.
Người đọc tưởng rằng sau màn diễn đầu tiên, Kép Tư Bền sẽ được về ngay với cha
nhưng đến lúc mà anh có thể về thì cũng là lúc cha anh đã hỏng từ ban nãy mất
rồi.
Nguyễn Công Hoan đã từng nói: Câu kết của tôi là một cái lờ. Nó thường
làm độc giả đột ngột cũng như đi đến chỗ hẹp, nước chảy mạnh thì cá bất thình lình
tuột vào hom [17].
Việc sử dụng những chi tiết đánh lạc hướng độc giả chính là một trong những
thủ thuật tạo nên sức thuyết phục, thu hút cho những truyện ngắn của ông.


vai diễn của mình thì cha anh đã hỏng từ ban nãy mất rồi.
Truyện Thế cho nó chừa lại là một loạt sự kiện hành động được kể lại
mang tính kịch đậm nét: Nó bị bắt quả tang ăn cắp nó oà lên khóc rất thảm thiết.
Một lúc, nó lăn ra đất kêu gào Hai người cảnh sát xuống xe đạp. Những nét mặt
tươi tỉnh hẳn lên
ở Thằng ăn cắp, thì sau hành động ăn hai xu bát bún riêu không trả tiền
của nó là một loạt hành động tiếp nối, tăng cấp độ: tiếng kêu của bà hàng, bọn
bán hàng nhốn nháo, một người đuổi, hàng chục người đuổi, một cái đá vào

19


Khoá luận tốt nghiệp

Bùi Thị Duyên

mạng mỡ, một quả tống vào ngực, huỵch! huỵch! bốp! bốp!, hành động đòi
tiền, cứ liên tiếp dồn dập ập đến với nó làm cho nó mê man bất tỉnh.
Nhà văn tỏ ra rất tài trong việc kể để gia tăng cấp độ các hành động, để dựng
tình huống đầy kịch tính. Dường như Nguyễn Công Hoan không bao giờ kể chuyện
một cách trừu tượng mà cách kể của ông rất gần với lối kể của kịch. Chính cách kể
này là yếu tố quan trọng tạo cho tác phẩm của Nguyễn Công Hoan có sức lôi cuốn
bất ngờ và đầy kịch tính.
2.1.6.2. Biện pháp tả
Tả là biện pháp thể hiện đối tượng về mặt không gian có tác dụng khắc họa
trực tiếp bề ngoài đối tượng tới mức sinh động, khiến cho người đọc có thể cảm
nhận đối tượng trực tiếp bằng nhiều giác quan.
Nguyễn Công Hoan là nhà văn rất có duyên trong việc kết hợp nhuần nhuyễn
hai yếu tố kể và tả trong quá trình trần thuật của mình. Hình như ông không bao giờ
kể chuyện một cách mơ hồ mà thường thông qua tả để kể. Nguyễn Công Hoan tả để

qua đó giúp độc giả đánh giá tính cách, phẩm chất của nhân vật, tức là thể hiện tính
cách nhân vật một cách gián tiếp.
Nhìn chung, sở trường Nguyễn Công Hoan là dựng đối thoại. Đối thoại trong
văn ông rất chân thật, sinh động, giàu kịch tính. Truyện ngắn của Nguyễn Công
Hoan hiện ra trước mắt chúng ta với những lớp lang và đối thoại như trong một màn
kịch [11;186,187]. Nguyễn Công Hoan sử dụng rất nhiều đối thoại giữa các nhân
vật. Lời thoại của nhân vật thường ngắn gọn và dồn dập. Lời tác giả như được thu
hẹp tối đa, thậm chí lẩn hẳn đi để nhường chỗ cho lời đối thoại của các nhân vật
truyện.
Lời thoại trong Thế cho nó chừa rất ngắn gọn, nhưng qua đó tác giả đã
dựng được màn kịch ngắn đầy kịch tính làm bật lên tiếng cười trước sự phi lí của
cuộc đời.
Đối thoại trong Kép Tư Bền cũng là những lời đối thoại rất ngắn gọn giữa
Kép Tư Bền (kẻ làm thuê) với ông chủ. Qua đó, tác giả dựng lên được xung đột trào
phúng sâu sắc và tấn bi kịch của người kép hát nghèo khổ mà hiếu thảo.
Chẳng hạn, đây là đoạn đối thoại giữa Kép Tư Bền và ông chủ:
- Sao? Cái số tiền đó, cậu đã có để trả tôi chưa?
- Thưa ngài, xin ngài, hãy thư cho ít bữa, khi nào thư thả, tôi sẽ đi làm và nộp
sau.
Ông chủ bĩu môi, nói:
- Thôi, biết bao lần rồi! Cậu không trả, tôi sẽ đem ra toà đó.
Còn trong Người ngựa ngựa người là lời đối thoại giữa anh phu xe và ả gái
giang hồ, cả hai đều dựa vào nhau, hi vọng kiếm được chút may mắn cuối cùng của
một năm bất hạnh, hoá ra càng kéo nhau đi sâu hơn vào con đường tuyệt vọng.

21


Khoá luận tốt nghiệp


vật.
ở truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan dường như không có loại xung đột
giữa các phương diện khác nhau của tính cách. Vũ Ngọc Phan đã nhận định rằng:

22


Khoá luận tốt nghiệp

Bùi Thị Duyên

Nếu xét về những vấn đề ông thường quan tâm và luôn khêu gợi nguồn cảm hứng
của ông trong các truyện, chúng ta thấy ông băn khoăn nhất về những đụng chạm
của cái giàu với cái nghèo trên đường đời. Sự xung đột giữa kẻ giàu, người nghèo là
cái cốt của hầu hết các truyện ngắn, truyện dài của Nguyễn Công Hoan [24]. Do
đó, biện pháp xung đột kịch tính được Nguyễn Công Hoan sử dụng rất thành công
nhằm thu hút và thuyết phục độc giả. Bản thân xung đột này đã mang tính kịch
gay gắt, một mất một còn và nó được biểu hiện ở các tình huống khác nhau.
Trong Kép Tư Bền, xung đột và kịch tính bộc lộ rõ trong cảnh cha Tư Bền
đang trong cơn hấp hối mà anh lại phải diễn trò và phải diễn đi diễn lại các trò cười
cho khán giả xem. Kịch tính lên đến đỉnh cao khi cha anh trút hơi thở cuối cùng thì
cũng là lúc anh phải diễn lại cảnh cuối cho những người ở hàng ghế hạng nhất xem
lại. Từ đó, làm bật lên tiếng cười chua xót, cười ra nước mắt cho số phận trớ trêu của
anh kép hát nghèo. ở đây, con người không được làm chủ, kể cả làm chủ tiếng cười,
khóc của mình.
Còn trong Thằng ăn cắp và Thế cho nó chừa, Nguyễn Công Hoan đã triệt
để khai thác xung đột giàu nghèo. Cụ thể hơn đó là xung đột: nguyên nhân nhỏ
nhặt bình thường (hai xu bún riêu, tấm bánh), nhưng kết quả lại to tát, nghiêm trọng
(bị đánh đập dã man). Tiếng cười trào phúng, đả kích châm biếm được cất lên,
nhưng thấm đẫm nước mắt chua xót, đắng cay cho thân phận nghèo, đói khát.

đòn, thì ra người ta rất có thể phạm tội nhiều lần, dại gì mà tha thằng ăn cắp,
càng ghét càng đánh.
Trên đây là những thủ pháp nghệ thuật mà Nguyễn công Hoan ưa sử dụng và
đã rất thành công nhằm thu hút và thuyết phục độc giả. Qua phân tích, chúng tôi
nhận thấy: nhà văn có những sáng tạo rất mới mẻ trong việc khám phá, khai thác về
một loại người phổ biến trong xã hội lúc bấy giờ. Đó là những nghệ sỹ nghèo, giang
hồ nghèo, phu xe nghèo, trẻ em nghèo Họ cùng chung một tình trạng : nghèo đói
và từ tình trạng này, dẫn đến mỗi người có những số phận khác nhau, không ai
giống ai. Cuộc đời, số phận tính cách nhân vật của Nguyễn Công Hoan luôn có
những thay đổi bất ngờ, được chuyển biến nhanh chóng tạo nên kiểu con người trực
quan sôi động. Do đó, truyện ngắn Nguyễn Công Hoan như những lát cắt chéo của
đời sống xã hội, giàu tính kịch, tạo được sự hấp dẫn, lôi cuốn mạnh mẽ của độc giả.
2.2. Chức năng hình thành cấu trúc bên trong.

Nguyện vọng tha thiết của người nghệ sỹ nhằm đạt tới tác động thẩm mỹ
cao nhất thể hiện rõ rệt trong sự hoàn chỉnh bên trong của những tác phẩm nghệ
thuật. [8;171] Mỗi một phong cách là tạo ra một kiểu sinh thể nghệ thuật như lời
của PGS.TS Phùng Minh Hiến trong công trình nghiên cứu Tác phẩm văn chương
một sinh thể nghệ thuật đã khẳng định. Điều đó có nghĩa chúng như một tác nhân
hoá học biến tất cả những sự vật, hiện tượng, tình tiết ngỡ là lộn xộn ngẫu nhiên
trở thành một khối thống nhất, làm nên một chỉnh thể tác phẩm sống động có khả
năng thu hút và thuyết phục độc giả, được thể hiện ở 4 cấp độ sau:

24


Khoá luận tốt nghiệp

Bùi Thị Duyên


Như vậy, hành động của các nhân vật đều được lí giải biện minh một cách

25


Trích đoạn Về yếu tố biểu hiện thứ nhất của phong cách 1 Về thủ pháp lựa chọn “tình huống giàu kịch tính”. Về yếu tố biểu hiện thứ hai của phong cách 1 Về tính hoàn chỉnh ở cấp độ chi tiết – hành động. Về yếu tố biểu hiện thứ 7 của phong cách. Phần kết luận Lời cam đoan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status