Trường Đại học sư phạm hà Nội 2
Khoa Ngữ văn
----------------------------
Nguyễn Thị Thanh Nhàn
Đặc trưng thể loại trữ tình
hiện đại với việc đọc - hiểu thơ
trữ tình tố hữu trong
nhà trường THPT
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Người hướng dẫn khoa học
ThS.GVC Vũ Ngọc Doanh
Hà Nội - 2010
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo thể loại là một vắn đề được
đặt ra từ lâu trong thực tiễn giảng dạy văn học ở trường phổ thông. Và trong
một thời gian dài, nó vẫn thường là băn khoăn, suy nghĩ, tìm tòi của phần lớn
giáo viên Ngữ văn THPT chúng ta. Tất cả những trăn trở, cố gắng tìm tòi
trong đổi mới phương pháp giảng dạy đều nhằm mục đích nâng cao chất
lượng dạy học Ngữ văn, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế thị trường phát triển
như vũ bão, tất cả mọi người dân nói chung và học sinh nói riêng đều bị cuốn
theo sự phát triển đó của xã hội. Hơn nữa, cách lựa chọn chương trình trong
SGK cầu kỳ, hàn lâm, không thiết thực, GV vẫn thiên về lối dạy truyền thống:
tượng, ý nghĩa. Đó là tư tưởng sâu sắc” (SGV Ngữ văn 12 (thí điểm)(2004),
NXB Giáo Dục, tr.176).
Mặt khác, mỗi tác phẩm văn chương lại tồn tại dưới một thể loại nhất
định (tự sự, trữ tình, kịch). Mỗi thể loại có đặc trưng riêng nên hướng tiếp cận
cũng khác nhau. Vấn đề giảng dạy theo đặc trưng thể loại được đánh giá là
phương pháp có nhiều triển vọng. Nó vừa tránh được những bất cập mà các
phương pháp khác tồn tại vừa đáp ứng được yêu cầu bức xúc đặt ra trong việc
giảng dạy tác phẩm văn chương trong nhà trường.
Tố Hữu là nhà thơ xuất sắc và tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng. Thơ
ông gắn chặt với cuộc đấu tranh cách mạng của dân tộc ta suốt mấy chục năm
dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, phản ánh những nét lớn trong đời sống
tinh thần của dân tộc ở một thời kì đã diễn ra nhiều biến cố trọng đại và đổi
thay to lớn của lịch sử Việt Nam trong thế kỉ XX. Thơ Tố Hữu đã có sức cảm
hóa, chinh phục đông đảo quần chúng nhân dân trong một thời kì dài suốt
mấy mươi năm. Với vị trí và sức mạnh của mình, thơ Tố Hữu đã có ảnh
hưởng mạnh mẽ đến những đặc điểm và xu hướng vận động của nền thơ ca.
Việc giảng dạy thơ hiện đại nói chung, thơ Tố Hữu nói riêng trong nhà
trường phổ thông hiện nay vẫn còn nhiều bất cập khi cách dạy truyền thống
thầy giảng- trò chép đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi giáo viên và học sinh. Làm
thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học? Làm thế nào để học sinh thấy hết
được cái hay cái đẹp của mỗi vần thơ để từ đó hoàn thiện nhân cách và có tri
thức bước vào cuộc sống đã trở thành câu hỏi lớn đang đặt ra. Hơn nữa lại áp
dụng phương pháp đọc- hiểu và giảng dạy các tác phẩm văn học giai đoạn
này. Trong khi xã hội đang ngày càng phát triển, việc dạy văn- học văn cũng
cần phải đổi mới, nâng cao hơn nữa để đáp ứng nhu cầu mới của một xã hội
hiện đại.
Vì vậy, để góp phần vào việc giảng dạy có hiệu quả thơ Tố Hữu nói
riêng, thơ trữ tình nói chung dựa trên đặc trưng thể loại, người viết chọn đề
chưa chỉ rõ phương pháp giảng dạy tác phẩm trữ tình theo đặc trưng loại thể
vận dụng vào bài học thơ Tố Hữu.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu.
Thông qua việc trình bày những tri thức cơ bản về đặc trưng của thể loại
trữ tình, đặc trưng của thơ Tố Hữu, người viết muốn vận dụng vào việc tổ
chức dạy học các tác phẩm thơ Tố Hữu trong chương trình Ngữ văn THPT.
Qua đó giúp học sinh tiếp nhận được cái hay, cái đẹp của các tác phẩm thơ Tố
Hữu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu, khảo sát các tài liệu về thể loại, đặc điểm về thể loại và thể
loại trữ tình, phương pháp đọc - hiểu theo đặc trưng thể loại.
- Trên cơ sở đặc trưng đó và lý thuyết giảng dạy tác phẩm văn chương
trong nhà trường vận dụng đọc - hiểu các tác phẩm thơ trữ tình Tố Hữu trong
chương trình THPT.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
- Lí thuyết tiếp nhận văn chương, vấn đề thể loại, đặc trưng thể loại trữ
tình, thơ Tố Hữu, lí thuyết đọc hiểu và vận dụng trong giảng dạy ở trường
THPT.
- Tài liệu nghiên cứu: Toàn bộ tác phẩm thơ trữ tình Tố Hữu, tập trung
vào các tác phẩm được tuyển chọn trong “Tuyển tập thơ Tố Hữu” và trong
chương trình THPT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
- Nghiên cứu trong phạm vi thể loại trữ tình với các tác phẩm thơ trữ tình
Tố Hữu.
- Nghiên cứu các tác phẩm thơ trữ tình Tố Hữu trong nhà trường THPT.
5. Đóng góp của khóa luận.
- Theo “Từ điển Tiếng Việt” thì thể loại là hình thức sáng tác văn học,
nghệ thuật phân chia theo phương thức phản ánh hiện thực, vận dụng ngôn
ngữ.
Theo các nhà lí luận, khái niệm thể loại được hiểu là: “Thể loại tác phẩm
văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm trong đó ứng với một
nội dung nhất định có hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức
chỉnh thể”[12,339]
Thực chất, khái niệm “thể loại” được hiểu là: sự gộp lại của hai khái
niệm “thể” và “loại”
“Loại” (loại hình): từ thời cổ đại, Aristot đã đề xuất khái niệm này. Loại
là phương thức nhà văn sử dụng để nhận thức, khám phá đời sống khách
quan, để tái hiện đời sống và sáng tạo ra hình tượng nghệ thuật. Thông qua
hình tượng nghệ thuật ấy để biểu hiện tư tưởng, tình cảm. Bao gồm ba loại
hình tiêu biểu cho ba phương thức sáng tác:
- Loại hình tự sự với phương thức tự sự
- Loại hình trữ tình với phương thức trữ tình
- Loại hình kịch với phương thức tạo xung đột và kịch tính
Ba loại hình đó tổ chức thành hai dạng văn bản: văn vần và văn xuôi. Ba
loại hình có mặt ở tất cả mọi nền văn học, mọi thời kì văn học ở mọi quốc gia,
khuynh hướng, trào lưu, tác giả, … Loại hình vừa mang tính phổ biến lại vừa
phản ánh đặc điểm riêng của một dân tộc, một cộng đồng, một cá nhân nghệ
sĩ.
“Thể” (thể tài): là hình thức tổ chức ngôn ngữ, quy mô, dung lượng của
tác phẩm. Số lượng nhiều hơn loại, sự biến đổi cũng phong phú hơn. Mỗi loại
có thể bao gồm nhiều thể khác nhau.
Nói chung, loại là một khái niệm lớn, có quan hệ bao chứa; thể là một
khái niệm nhỏ nằm trong loại.
Thể loại tác phẩm văn học là một hiện tượng loại hình sáng tác và giao
Từ ba thể loại trên có thể chia nhỏ:
- Tự sự:
+ Tự sự dân gian: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện
cười.
+ Tự sự trung đại và hiện đại: truyền kì, tiểu thuyết, kí, truyện.
- Trữ tình:
+ Trữ tình dân gian: ca dao, câu đố.
+ Trữ tình trung đại và hiện đại: thơ cổ thể truyền thống, thơ tự do.
- Kịch:
+ Kịch dân gian: chèo, tuồng, múa rối.
+ Kịch hiện đại: bi kịch, hài kịch.
Ở khóa luận này, người viết chỉ tập trung nghiên cứu thể loại trữ tình.
Tác phẩm trữ tình là tác phẩm phản ánh hiện thực đời sống thông qua
cảm xúc và tâm trạng. Cho nên các đặc trưng của tác phẩm trữ tình thường
tập trung thể hiện các chiều hướng cảm xúc, các trạng thái tình cảm, thông
qua đó để tái hiện đời sống. Và bạn đọc chỉ có thể nhận ra đời sống thông qua
tâm trạng, cảm xúc của nhà văn được trình bày và sắp xếp theo một trật tự kế
thừa theo hàng dọc. Vì vậy, khi tiếp cận tác phẩm trữ tình, người ta chú ý đến
ba đặc trưng:
- Nội dung trữ tình
- Nhân vật trữ tình
- Ngôn ngữ trữ tình
1.1.1.3. Vấn đề tiếp nhận tác phẩm theo đặc trưng thể loại.
Hoạt động tiếp nhận, hoạt động dạy và học tồn tại độc lập, riêng rẽ
nhưng thực chất đây là những hoạt động có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Nó như là những cơ sở, những căn cứ lí thuyết của phương pháp dạy học. Vấn
đề thể loại có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động dạy, học tác phẩm văn
chương trong nhà trường. Lí thuyết vấn đề thể loại được sử dụng như những
Tiếp nhận văn học có rất nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau. Theo
giáo trình “Lí luận văn học” (Nxb ĐHSP): tiếp nhận văn học là giai đoạn
hoàn tất quá trình sáng tác, giao tế của văn học. Người nghệ sĩ sáng tạo tác
phẩm văn học là truyền đạt những cảm nhận khái quát về cuộc đời cho người
đọc. Chỉ khi được bạn đọc tiếp nhận, quá trình sáng tạo mới được hoàn tất.
Thực chất của quá trình này là chuyển cảm xúc đến bạn đọc cộng hưởng cảm
xúc đó.
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “tiếp nhận văn học là hoạt động
chiếm lĩnh giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của các tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự
cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan
niệm nghệ thuật, tài nghệ của tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách
hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng của hoạt động sáng tạo, bản dịch,
chuyển thể,…” [5, 325].
Trong cuốn “Đọc và tiếp nhận văn chương”, GS. Nguyễn Thanh Hùng
quan niệm: “tiếp nhận văn học là quá trình đem lại cho người đọc sự hưởng
thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động để củng cố và phát triển một cách
phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần và năng lực cảm xúc của
con người trước đời sống” (tr.105).
Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoàn trong một số công trình nghiên cứu cũng đã
đưa ra quan niệm của mình về tiếp nhận văn học. Nó được xem như là “Thi
pháp ứng dụng, từng bước chuyển chủ thể tiếp nhận và chủ thể văn học để
người đọc trực tiếp tham gia những tình huống văn học, tạo điều kiện để
người tiếp nhận được cắt nghĩa, thể nghiệm, nếm trải, sẻ chia và tạo nên sự
đồng cảm nghệ thuật, đồng thời tiếp nhận cũng bộc lộ một số phương diện về
thiên hướng, năng lực thẩm mĩ và phong cách của mình.
Như vậy, các quan niệm trên đã thâu tóm tương đối đầy đủ bản chất của
quá trình tiếp nhận. Có thể thấy rằng đó là quá trình giao tiếp giữa bạn đọc
với tư cách là “người nhận tin” và tác giả với tư cách là “người truyền tin”.
đọc phải đưa hình tượng vào văn cảnh đời sống và kinh nghiệm đời sống của
mình để thể nghiệm, đồng cảm. Cuối cùng nâng cấp, lí giải tác phẩm trong
lịch sử, văn hóa tư tưởng, đời sống và truyền thống, hiểu được vị trí tác phẩm
trong lịch sử văn học, tư tưởng, đời sống và truyền thống nghệ thuật. Quá
trình tìm ra cách giải thích ý nghĩa tượng trưng của văn bản và ý định chủ
quan của tác giả chính là quá trình tiếp nhận tác phẩm văn học.
Như vậy, sáng tác tác phẩm văn học là một quá trình. Tiếp nhận chân lí
nghệ thuật cũng là một quá trình. Tiếp nhận tác phẩm văn học vì thế thực sự
là một quá trình lâu dài có nhiều cấp độ, thực chất đó là một hoạt động tái tạo
và sáng tạo mới hình tượng nghệ thuật dựa theo đặc điểm cá nhân và cảm xúc
của từng người. Đó là quá trình tri giác tác phẩm cụ thể hóa, khái quát nghệ
thuật để hiểu được giá trị đích thực của tác phẩm.
Quá trình sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm văn chương mặc dù tồn tại độc
lập nhưng thống nhất và có mối quan hệ biện chứng với nhau. Quá trình sáng
tạo chỉ kết thúc khi quá trình tiếp nhận được diễn ra và khi quá trình tiếp nhận
diễn ra lại nảy sinh một quá trình sáng tạo mới.
1.1.2.3. Những vấn đề cơ bản của lý thuyết tiếp nhận.
1.1.2.3.1. Phương pháp sáng tác của nhà văn.
Văn chương là một hình thái ý thức đặc thù, là một loại hình nghệ thuật
đặc biệt, đó là nghệ thuật ngôn từ. Do vậy nhà văn – những người sáng tạo ra
các tác phẩm văn chương chính là những nghệ sĩ ngôn từ, họ chính là người
sáng tác và biểu diễn nghệ thuật, họ có năng lực nổi trội và sự sáng tác biểu
diễn của họ mang tính chất chuyên nghiệp. Người nghệ sĩ ngôn từ chuyên
sáng tác văn thơ, có tài năng và có tác phẩm có giá trị được mọi người công
nhận. Quá trình sáng tác của nhà văn thực chất là lịch sử xây dựng lại những
hình tượng tình cảm ở công chúng (Kuobakine). Nhà văn giữ vai trò vô cùng
quan trọng, đó là chủ thể sáng tạo nên các tác phẩm văn chương. Trong bốn
thành tố tạo nên quá trình sáng tác và thưởng thức văn học (thời đại – nhà văn
a) Đọc (văn bản).
Đọc là sự khởi đầu cho tiếp nhận văn học. Đọc được coi là con đường
đặc trưng không thể thay thế trong việc tiếp nhận văn học. Bởi tác phẩm văn
học tồn tại dưới dạng văn bản văn học, đó là tập hợp các kí hiệu ngôn ngữ
trong đó chứa đựng thông tin. Chúng ta chỉ có thể tiếp nhận các thông tin ẩn
chứa trong đó bằng phương pháp đọc. Đọc là con đường, là cách thức tiếp
nhận thông tin làm giàu sự hiểu biết, phục vụ cho học tập và cuộc sống. Đọc
chính là quá trình chuyển tải các kí hiệu ngôn ngữ ở dạng văn bản viết sang
những kí hiệu âm thanh. Đọc chính là quá trình khôi phục lớp vỏ âm thanh
trong tác phẩm. Đọc được coi là con đường đặc thù không thể thay thế. Với
mỗi bạn đọc khác nhau với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, thời đại, nghề
nghiệp khác nhau sẽ có cách hiểu khác nhau. Đó thực sự là quá trình độc giả
đồng sáng tạo với tác giả.
b) Phân tích.
Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thống nhất về nội dung và trọn vẹn
về hình thức. Phân tích tác phẩm được hiểu là chia nhỏ tác phẩm thành từng
phần để tìm hiểu và sau đó tích hợp lại. Với thao tác phân tích tác phẩm thì
người đọc mới hiểu được một cách cụ thể, chi tiết các tầng nghĩa, những hình
ảnh và ngôn từ gợi ra. Qua đó người đọc mới tìm hiểu được tác phẩm một
cách toàn diện, nhìn nhận tác phẩm ở nhiều góc độ, nhờ đó hiểu tác phẩm sâu
hơn.
Khi phân tích, chúng ta phải có phương pháp phù hợp bởi không phải chỗ nào
cũng chia nhỏ ra mà cần phải xác định đâu là trọng tâm, phải lựa chọn ra
những yếu tố bản sắc của tác phẩm, biết đi sâu vào cảm xúc mãnh liệt trung
thực nhất trong thế giới nội tâm, vượt qua sự đủ đầy, quen thuộc xáo mòn. Từ
đó tìm hiểu sự súc tích của ngôn ngữ nghệ thuật.
Thêm đó, khi phân tích tác phẩm thì người đọc cũng phải có những hiểu
biết nhất định về ngôn ngữ, kết cấu, thể lọai, hiểu biết về văn học. Đây chính
Tác phẩm văn học tồn tại dưới dạng văn bản, đó là tập hợp các kí hiệu
ngôn ngữ. Việc tiếp nhận tác phẩm trước hết là tiếp xúc với tập hợp ngôn ngữ
đó. Chính vì vậy việc tiếp nhận, cảm thụ tác phẩm văn học gặp không ít khó
khăn mà người ta gọi là khoảng cách chuyên chế. Bao gồm các khoảng cách:
- Khoảng cách về ngôn ngữ: trong tác phẩm văn học dù là lời kể chuyện
hay của nhân vật thì đó đều là ngôn ngữ của tác giả. Giữa ngôn ngữ độc giả
và ngôn ngữ tác giả không bao giờ trùng khớp, đó là khoảng cách bạn đọc
phải phá bỏ để đến với tác phẩm.
- Khoảng cách tâm lý: Phụ thuộc vào tâm lý của tác giả, tâm lý của người
tiếp nhận và tâm lý thời đại. Tác phẩm thuộc thời đại nào sẽ phải phụ thuộc
vào tâm lý thời đại đó, đồng thời còn phụ thuộc vào thời đại mà bạn đọc đang
sống .
- Khoảng cách lịch sử: Lịch sử phản ánh trong tác phẩm phần lớn thuộc
về quá khứ và ngay cả những tác phẩm văn chương đương đại bản thân nó
cũng gây khó khăn cho học sinh trong quá trình tiếp nhận. Lịch sử được phản
ánh trong tác phẩm với lịch sử ra đời trong tác phẩm đương đại bản thân nó
cũng gây khó khăn cho học sinh trong quá trình tiếp nhận. Lịch sử được phản
ánh trong tác phẩm với lịch sử ra đời trong tác phẩm không phải bao giờ cũng
giống nhau. Tác phẩm ra đời ngày hôm nay nhưng lại có thể viết về thời kì
trước.
Để khắc phục những khó khăn đó, đọc và tiếp nhận tác phẩm ấy trên cơ
sở đặc trưng thể loại là biện pháp hữu hiệu nhất.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN.
Dạy văn theo đặc trưng thể loại được đặt ra từ lâu song việc áp dụng vào
giảng dạy và giảng dạy đạt hiệu quả còn chưa rộng rãi và phổ biến, nhiều khi
còn chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Giảng dạy văn hiện nay vẫn coi trọng
phương pháp truyền thống - giáo viên thuyết giảng mà còn chưa mạnh dạn
thay đổi phương pháp. Giáo viên vẫn chủ yếu áp đặt sự cảm nhận về tác phẩm
1.3. VẤN ĐỀ ĐỌC - HIỂU
1.3.1. Khái niệm đọc - hiểu.
1.3.1.1. Đọc.
Theo “Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc”, quyển “Giáo dục” cho biết:
“Đọc là một quá trình hoạt động tâm lý nhằm tiếp nhận ý nghĩa từ kí hiệu
ngôn ngữ được in hay viết” (SGK Ngữ văn 12(thí điểm) (2004), Nxb GD, H).
Xét về mặt triết học, đọc có bốn nội dung sau:
Một, đọc là một quá trình tiếp nhận ý nghĩa từ văn bản, tất nhiên phải
hiểu ngôn ngữ của văn bản (ngôn ngữ dân tộc, ngôn ngữ thể loại, ngôn ngữ
nghệ thuật của văn bản), phải dựa vào tính tích cực của chủ thể (hứng thú,
nhu cầu, năng lực) và tác động qua lại giữa chủ thể và văn bản .
Hai, đọc là quá trình giao tiếp và đối thoại với người tạo ra văn bản (tác
giả, xã hội, văn hóa).
Ba, đọc là quá trình tiêu dùng văn hóa văn bản (hưởng thụ, giải trí, học
tập).
Bốn, đọc là quá trình tạo ra các năng lực người (năng lực hiểu mình, hiểu
văn hóa và hiểu thế giới).
Theo “Từ điển tiếng việt” đọc là: “Tiếp nhận nội dung của một tập hợp
kí hiệu bằng cách nhìn vào các kí hiệu” [4, 333].
Như vậy đọc là một hoạt động văn hóa có tầm nhân loại và có ý nghĩa
giáo dục sâu sắc.
1.3.1.2. Hiểu .
Hiểu là một khái niệm có nội hàm rất rộng. Theo “Từ điển tiếng việt”
hiểu là: “nhận ra ý nghĩa, bản chất, lí lẽ của cái gì, bằng sự vận dụng trí tuệ”
[4, 439].
Theo M.Bakhtin, trong sách “Con người và thế giới ngôn từ” (M.1995),
hiểu trong đọc - hiểu bao gồm nhiều hành động gắn với nhau: 1- Cảm thụ
trò đặc biệt, nó là phương pháp đặc trưng trong dạy tác phẩm văn học vì tác
phẩm văn học là nghệ thuật ngôn từ.
CHƯƠNG 2:
ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI TRỮ TÌNH HIỆN ĐẠI VỚI VIỆC ĐỌC HIỂU THƠ TRỮ TÌNH TỐ HỮU TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT
2.1- ĐẶC TRƯNG THƠ TRỮ TÌNH HIỆN ĐẠI
2.1.1. Khái niệm thơ trữ tình hiện đại
2.1.1.1. Thơ trữ tình là gì ?
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về thể loại trữ tình.
Người đầu tiên đề cập đến thuật ngữ này là Aristot. Ông cho rằng đó là
phương thức mô phỏng hiện thực “Cái mà người ta mô phỏng vẫn là cái mà
bản thân anh ta không thay đổi bộ mặt của mình” [1,45].
Kế thừa quan điểm ấy, Biêlinxki đã khẳng định, loại trữ tình gồm các tác
phẩm thông qua sự bộc lộ tình cảm của tác giả mà phản ánh hiện thực. Tác
giả trực tiếp bộc lộ những tình cảm yêu ghét của mình trước cuộc sống (Sự
phân chia thơ ra loại và kiểu, tập 5, NXB Viện hàn lâm khoa học Liên Xô,
M).
Theo “Từ điển văn học”: “Trữ tình là một trong ba phương thức thể hiện
(bên cạnh tự sự và kịch) làm cơ sở cho một loại tác phẩm văn học. Nếu tự sự
thể hiện tư tưởng, tình cảm của tác giả bằng con đường tái hiện lại một cách
khách quan các hiện tượng đời sống thì trữ tình lại phản ánh đời sống bằng
cách bộc lộ trực tiếp ý thức con người”.
Theo “Từ điển Hán - Việt”: Trữ tình là bày tỏ tình cảm. Như vậy tác
phẩm trữ tình là tác phẩm bày tỏ tình cảm.
Về sau, có nhiều quan niệm khác nhau định nghĩa về trữ tình mà cụ thể
nhất là ở thơ trữ tình.
Trong cuốn “Thơ”, Sóng Hồng khẳng định “thơ là một hình thái nghệ
thuật cao quý và tinh vi. Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự
Thơ trữ tình Việt Nam hiện đại được giới hạn bởi tác phẩm thơ trữ tình
thuộc quá trình văn học Việt Nam hiện đại như thơ mới, thơ kháng chiến và
các tác phẩm trữ tình sau khi kết thúc kháng chiến chống Mĩ (1975) đến nay.
2.1.2 - Đặc trưng của thơ trữ tình hiện đại.
Thể loại trữ tình gồm 3 đặc trưng cơ bản: nội dung trữ tình, nhân vật trữ
tình, ngôn ngữ trữ tình. Đây là cơ sở lý luận, là lý thuyết chung để soi chiếu
vào các tác phẩm trữ tình. Căn cứ vào những đặc trưng thể loại nói chung
được các nhà lí luận đúc kết, thể loại trữ tình Việt Nam hiện đại cũng mang
đặc trưng của thể loại trữ tình nói chung.Bởi vì cùng một phương thức phản
ánh và biểu hiện thì dù có ở thời đại nào, cảm xúc và nhu cầu thể hiện của con
người cũng có. Tất nhiên, sự bộc lộ diễn tả nó ra là không giống nhau.
Sự xuất hiện của thể loại là không đồng thời và không đồng nhất ở các
thời kì văn học. Dù cùng là thể loại trữ tình nhưng trữ tình ở thời kì hiện đại
mang những đặc điểm riêng, khác biệt với trữ tình ở thời kì trung đại. Chính
những đặc điểm riêng này làm nên giá trị độc đáo, diện mạo văn học một thời.
Nhưng cũng chính nó gây cho ta những khó khăn trong việc tiếp nhận và
giảng dạy. Bởi bất kì một tác phẩm nào khi tiếp nhận cũng bị chi phối bởi
khoảng cách (không gian, thời gian, tâm lý, thời đại, ngôn ngữ, …) tác phẩm
nào càng xa lạ chúng ta, càng uyên bác khúc triết thì càng khó hiểu. Mỗi tác
phẩm gắn liền với một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nó phản ánh tinh thần thời
đại, ước mơ, hoài vọng, tình cảm của con người thời đại họ sống, dưới một
hình thức phù hợp.
Có thể nói, thơ ca hiện đại Việt Nam phát triển khá nhanh chóng, mạnh
mẽ với nhiều thành tựu rực rỡ. Trong đó đáng nói nhất là thơ trữ tình. Tác
phẩm trữ tình không chỉ có thơ nhưng thơ là đại diện tiêu biểu và nó có đầy
đủ các đặc trưng của thể loại.
Đặc trưng của thơ trữ tình và thơ trữ tình hiện đại Việt Nam: