Đọc hiểu văn nghị luận theo đặc trưng thể loại ( một thời đại trong thi ca và mấy ý nghĩ về thơ) - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
*********

TRẦN THỊ TÂM

ĐỌC HIỂU VĂN NGHỊ LUẬN
THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
(“MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA”
VÀ “MẤY Ý NGHĨ VỀ THƠ”)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn

GV hướng dẫn: Th.S Trần Hạnh Phương
SV thực hiện:Trần Thị Tâm

HÀ NỘI- 5/ 2009


PHẦN MỞ ĐẦU.

1. Lí do chọn đề tài.
Môn Ngữ Văn là bộ môn quan trọng, mang tính chất công cụ trong giáo
dục phổ thông. Mỗi tác phẩm văn học, “đôi khi trở thành chiếc chìa khóa tốt để
mở cửa đi vào thế giới hiện thực mới và sau cánh cửa đó là con đường dẫn tới
cái cao sâu” (7).
Dạy học Văn, vì thế không những là một hoạt động sư phạm mà còn là
một nghệ thuật, đòi hỏi một năng lực tổ chức và trình độ hiểu biết của người
giáo viên. Cùng với việc đổi mới nội dung chương trình và sách giáo khoa Ngữ
văn, phương pháp dạy học Ngữ văn cũng được chú trọng đổi mới. Dưới góc độ
một phương pháp, đọc hiểu Văn là một hoạt động phân tích, tổng hợp tích cực,

2.1. Vấn đề đọc hiểu trong công việc dạy văn.
Trong cuốn: “Phương pháp giảng dạy văn trong nhà trường phổ thông”
(A.Nhicônxki) đã chú ý đến hoạt động đọc của học sinh, vị trí của người học
sinh trong giảng dạy, học tập Văn, chú ý đến bản chất của hoạt động đọc Văn
(đặc biệt là đọc diễn cảm và đọc bình).
Giáo trình “Phương pháp luận dạy Văn học” (Ia.Rez) đã chú ý nhiều nhất
đến phương pháp đọc sáng tạo, đặt ở vị trí hàng đầu với tư cách một môn học
nhằm hình thành những thể nghiệm nghệ thuật bằng phương diện nghệ thuật.
Trong kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc tế tổ chức lần thứ 4 tại Úc (từ ngày
25 đến 27.8.1978) đã tập trung khá nhiều bài viết, bài nghiên cứu về nhiều hoạt


động đọc của các nhà khoa học có uy tín trên thế giới. Các nhà khoa học cũng
đã trình bày một số khái niệm lí thuyết đọc- hiểu.
Đặc biệt ở Việt Nam, từ những năm 80 của thế kỉ XX đã xuất hiện nhiều
bài viết,công trình nghiên cứu về phương diện của hoạt đông đọc văn. Trước
đây đọc văn chỉ là một trong bốn thao tác thì bây giờ đọc văn được coi là một
phương pháp, một hoạt động cần tổ chức cho học sinh trong giờ học văn. Vì vậy
đọc văn vừa là một tiền đề, vừa là một kết quả xác thực của việc học văn và
chính việc đọc văn sẽ giúp chúng ta hiểu sâu, hiểu xa từng câu chữ trong văn
bản.
Trong cuốn “Văn học và nhân cách” (NXBVH- 1994), GS. Nguyễn
Thanh Hùng đã nhìn nhận trí tưởng tượng như là chìa khóa để mở ra thế giới
nghệ thuật phong phú sinh động của tác phẩm văn học và đó là dấu hiệu, chất
liệu của việc đọc văn. Bên cạnh đó, trong chuyên luận “Đọc và tiếp nhận văn
chương”, tác giả đã trả đọc về vị trí xứng đáng của nó trong quá trình khám phá
chiều sâu của tác phẩm văn học và chính tác giả cũng khẳng định rằng: “tiếp
nhận văn học là một quá trình vì nó chỉ thực hiện, diễn ra một hoạt động duy
nhất là đọc văn”.
Báo Văn nghệ số ra ngày 14.2.1998, bài viết “Môn Văn- thực trạng và

theo từng thể loại đòi hỏi một số nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học đưa ra
những quan điểm về dạy văn chương theo đặc trưng thể loại:
Tác giả Trần Thanh Đạm trong cuốn “Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn
học theo loại thể” (NXB GD- 1971) đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của thể
loại nghị luận và cách giảng dạy văn nghị luận. Tác giả chủ yếu chỉ ra những
yêu cầu cần đảm bảo trong tiết dạy văn nghị luận. Đó là đảm bảo yêu cầu giáo


dục thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa và phương pháp
duy vật biện chứng cho học sinh; đảm bảo yêu cầu phát triển năng lực tư duy
của học sinh; đảm bảo đặc điểm của "dạng nghị luận" thể hiện trong bài văn,...
Tác giả Đàm Gia Cẩn trong bài viết: “Giảng văn nghị luận theo đặc trưng
loại thể” đã đưa ra một số yêu cầu về nội dung bài giảng văn chính luận và chỉ
ra những điểm cần lưu ý khi giảng bài văn nghị luận văn học. Trước đó tác giả
cũng đã chỉ ra đặc trưng của thể loại này. Đó là: mỗi bài văn chính luận đều
mang tính thực tiễn, tính mục đích, tính chiến đấu rõ rệt; văn chính luận có sự
chặt chẽ, mạch lạc của lí lẽ và lập luận theo tư duy lôgic; ngôn ngữ văn chính
luận chính xác, trong sáng, cú pháp rõ ràng, chặt chẽ, có sức mạnh lôi cuốn, có
ngữ điệu hùng hồn.
Tác giả Trần Đình Trung trong cuốn: “Dạy văn bản Ngữ văn THCS theo
đặc trưng phương thức biểu đạt” đã biên soạn một chương riêng về dạy học văn
bản nghị luận. Ở đây, tác giả đã nêu lên những đặc trưng của phương thức nghị
luận và một số yêu cầu cụ thể của phương pháp dạy học văn bản nghị luận dân
gian, trung đại và hiện đại.

2.3 Những bài viết, công trình nghiên cứu liên quan đến hai tác phẩm: “Mấy
ý nghĩ về thơ” và “Một thời đại trong thi ca”.
Trong tạp chí Nghiên cứu văn học số 8.1960, tác giả Lê Anh Trà với bài
viết: “Nhân đọc Mấy vấn đề văn học và Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong
văn nghệ hiện nay của Nguyễn Đình Thi” đã có những luận bàn, đóng góp tích

hành tìm hiểu, nghiên cứu cụ thể vấn đề “Đọc hiểu văn chính luận theo đặc
trưng thể loại” và vận dụng vào hai văn bản “Mấy ý nghĩ về thơ” (SGK Ngữ


văn 12 tập 1- NXB GD) và “Một thời đại trong thi ca”(SGK Ngữ văn 11- tập
2- NXB GD).

3. Mục đích nghiên cứu.
Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu về lí thuyết tiếp nhận, lí thuyết đọc
hiểu, các đặc trưng của văn chính luận, tác giả khóa luận chỉ ra các đặc trưng cơ
bản, độc đáo của một loại nhỏ, đó là nghị luận văn học (phê bình văn học). Từ
đó đưa ra phương pháp đọc hiểu văn bản phù hợp theo đặc trưng thể loại đó.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Khóa luận tập trung giải quyết một số nhiệm vụ:
- Tìm hiểu về lí thuyết tiếp nhận.
- Tìm hiểu về lí thuyết đọc hiểu.
- Nghiên cứu đặc trưng thể loại văn chính luận.
- Vận dụng lí thuyết đọc hiểu theo đặc trưng văn chính luận.
- Thiết kế giáo án thực nghiệm.

5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
5.1. Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng của khóa luận là hai văn bản:
- Mấy ý nghĩ về thơ (Nguyễn Đình Thi)- SGK Ngữ văn 12. Tập 1. NXB
GD- 2008.
- Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh)- SGK Ngữ văn 11. tập 2. NXB
GD- 2008.




Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Vấn đề tiếp nhận tác phẩm văn học
Khái niệm “tiếp nhận văn học”
Khi xuất hiện nền văn học, xuất hiện tác phẩm văn học tức là xuất
hiện tiếp nhận văn học. Điều đó có nghĩa là tiếp nhận văn học ra đời từ rất sớm
và nó gắn liền với sự ra đời của nền văn học. Tuy nhiên, tiếp nhận văn học được
nhìn nhận như một lí thuyết để đi vào giải mã tác phẩm văn học thì mới thực sự
bắt đầu từ thế kỉ XIX và đặc biệt phát triển vào thế kỉ XX.
Vấn đề tiếp nhận văn học đã thu hút sự quam tâm của các nhà nghiên
cứu, các nhà biên soạn sách,…và đến nay vẫn đang tồn tại rất nhiều quan niệm
xung quanh vấn đề này.
Theo giáo trình Lí luận văn học ( ĐHSP Hà Nội ) do GS. Phương Lựu chủ
biên thì “Tiếp nhận văn học” là giai đoạn hoàn tất quá trình sáng tác- giao tiếp
của văn học.


Trong chuyên luận “Đọc và tiếp nhận văn chương”, GS. Nguyễn Thanh
Hùng quan niệm: “Tiếp nhận văn học là quá trình đem lại cho người đọc sự
hưởng thụ và hứng thú trí tuệ hướng vào hoạt động để củng cố và phát triển một
cách phong phú những khả năng thuộc thế giới tinh thần và năng lực cảm xúc
của con người trước đời sống”
Cùng quan tâm tới vấn đề này, TS. Nguyễn Trọng Hoàn cũng đưa ra
quan niệm của mình: “Tiếp nhận văn học được xem như “thi pháp ứng dụng”,
từng bước chuyển chủ thể tiếp nhận và chủ thể văn học để người đọc trực tiếp
tham gia những tình huống văn học, tạo điều kiện để người đọc trực tiếp tham
gia cắt nghĩa, thử nghiệm, nếm trải, sẻ chia và tạo nên sự đồng cảm nghệ thuật;
đồng thời tiếp nhận cũng bộc lộ một số phương diện về thiên hướng, năng lực

phẩm” (12).
Hoạt động tiếp nhận văn học chính là quá trình giải mã lớp ngôn từ bề
mặt của tác phẩm để tìm ra chiều sâu ý nghĩ, tư tưởng bên trong. Nghĩa là bạn
đọc phải đi ngược lại con đường mà nhà văn đã đi, bắt đầu từ cách đối chiếu từ
ngữ, cấu trúc ngữ pháp mà nhà văn- trong quá trình sáng tạo đã trải qua. Bằng
kinh nghiệm sống, kinh nghiệm thẩm mĩ và văn bản tiếp cận, bạn đọc lúc ấy
mới có thể tìm đến cái đích mà nhà văn đã đặt ra trong tác phẩm. Tác phẩm văn
học sau quá trình tiếp nhận của ban đọc sẽ thoát khỏi những câu chữ chết và dần
dần tái tạo lại linh hồn, đi vào lòng bạn đọc bởi những hình tượng sống động,
chân thực, mang đầy đủ các giá trị thẩm mĩ, giá trị nhận thức, giá trị biểu cảm
của nó.
Tiếp nhận văn học là một quá trình không đơn giản, bởi không phải mọi
sự sử dụng tác phẩm đều coi là tiếp nhận văn học. Văn học là sự kết tinh những


kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm của con người trước một hiện tượng nhất định
trong cuộc sống, nó trở thành một thế giới tinh thần phong phú. Chỉ khi nào sử
dụng đến thế giới tinh thần đó mới được coi là tiếp nhận văn học trọn vẹn.
Quy luật của tiếp nhận tác phẩm văn học là phải cảm thụ tác phẩm trên
tính tổng thể, chỉnh thể. Nó đòi hỏi người đọc trước hết phải biết tri giác, cảm
thụ tác phẩm, phải hiểu ngôn ngữ, thể loại để tiếp cận ý đồ sáng tạo của tác giả.
Ở cấp độ tiếp theo, người đọc phải đưa hình tượng vào văn cảnh đời sống và
kinh nghiệm sống của minh để thể nghiệm, đồng cảm. Cuối cùng nâng cấp lí
giải tác phẩm lên cấp quan niệm và tính hệ thống, hiểu được vị trí tác phẩm
trong lịch sử văn hóa, tư tưởng, đời sống và truyền thống nghệ thuật. Quá trình
tìm cách giải thoát ý nghĩa của các từ, chữ, câu của văn bản để tìm ra ý nghĩa
hình tượng, ý nghĩa tượng trưng của văn bản để tìm ra cách giải thích văn bản, ý
định chủ quan của tác giả chính là quá trình tiếp nhận tác phẩm.
Hoạt động tiếp nhận văn học mang tính chủ quan và khách quan. Trước
hết, tính khách quan biểu hiện ở chính đặc điểm chung của sáng tác văn học.

quá trình tiếp nhận, bạn đọc chịu sự chi phối bởi các quy luật tiếp nhận chung
là: Quy luật tâm lí, quy luật nhận thức, và quy luật giao tiếp.
Trước hết là quy luật tâm lí: đó là những đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi ảnh
hưởng đến việc tiếp nhận của độc giả như nhu cầu, thị hiếu, cảm xúc, sự chú ý,
hứng thú…, hoặc tính đột biến trong nhận thức…
Thứ hai là quy luật nhận thức: tác phẩm văn học được sáng tạo ra để bạn
đọc thưởng thức tiếp nhận. Tác phẩm văn học bằng mọi chi tiết của nó là một
thế giới riêng, một xã hội riêng, một nhân loại riêng với tính hệ thống và những
quy luật của nó. Vì vậy tiếp nhận văn học chính là sự nhận ra được những quy
luật ấy.
Thứ ba là quy luật giao tiếp: tác phẩm văn học là kết quả của sự lĩnh hội
hiện thực đặc thù. Nó hướng vào việc mở rộng đặc biệt sức mạnh lĩnh hội của
con người. Tác phẩm văn học không đứng ngoài thực tiễn xã hội, hơn nữa, nó
còn có tác dụng soi chiếu để người ta cải tạo, biến đổi xã hội ấy sao cho tốt đẹp


hơn. Tác phẩm văn học vì thế là một chỉnh thể tri thức và là một phương tiện
giao tiếp ngôn ngữ nghệ thuật để phản ánh đời sống hiện thực.
PGS- TS Nguyễn Thị Thanh Hương trong cuốn “Phương pháp tiếp nhận
tác phẩm văn học” đã chỉ ra quy luật giao tiếp ngôn ngữ được thực hiện trên hai
cấp độ: Thứ nhất, nội hàm được hiểu đơn giản nhất là lớp ý nghĩa chứa đựng
trong lớp vỏ ngôn ngữ. Thứ hai, siêu ngôn ngữ là cấp trên nghĩa được tạo nên từ
cách dùng ngôn ngữ này để tạo thành một lớp nghĩa mới, vượt qua cấp độ ngôn
ngữ kí hiệu.
Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra quy luật giao tiếp xã hội trên phương diện:
hiện thực khách quan → tác giả → bạn đọc → hiện thực khách quan. Qua trình
tiếp nhận tác phẩm văn học chính là bạn đọc đã thực hiện hành vi giao tiếp gián
tiếp với tác giả thông qua tác phẩm. Tác phẩm là sự kết tinh của những giá trị
đời sống theo quy luật của cái đẹp có được nhờ quá trình tái tạo đời sống của
nhà văn. Tiếp cận với một tác phẩm văn học, bạn đọc sẽ không chỉ dừng lại ở

chỉ là kết thúc trên phương diện kết cấu và bố cục, câu chữ mà tác giả sử dụng.
Quan trọng hơn, đằng sau sự kết thúc các phương diện đó thì tác phẩm phải để
lại tiếng vang rộng lớn, tác động mạnh mẽ đến bạn đọc khiến cho bạn đọc cảm
thấy nhức nhối tranh luận và đưa ra những giả định, kiến giải mới. Hay nói một
cách khác trong quá trình tiếp nhận văn học, bạn đọc đồng thời thực hiện sự
đồng sáng tạo với nhà văn.
Như vậy, mối quan hệ giữa tiếp nhận và bạn đọc là mối quan hệ hữu cơ,
qua lại với nhau. Vai trò của bạn đọc luôn là trung tâm của quá trình tiếp nhận.
Không có bạn đọc, tác phẩm văn học sẽ không thể tồn tại như một thực thể
trong nền văn học.


1.1.4. Cơ chế của hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học.
Tiếp nhận văn học là một quá trình. Để thực hiện quá trình này, bạn đọc
đã đi theo những trình tự nhất định của tư duy cảm thụ như: Đọc, phân tích, cắt
nghĩa, bình giá.
Hoạt động đọc: Bước này được coi như là sự khởi đầu của tiếp nhận văn
bản. Đây là hoạt động sáng tạo, mang tính trực cảm. Văn bản là một hệ thống
khách quan, là lớp vỏ ngôn ngôn từ được tổ chức theo một kiểu, loại nào đó tùy
thuộc vào chức năng nó phải thực hiện theo dụ ý nhà văn. Đối tượng của đọchiểu là văn bản. Mỗi loại van bản khác nhau sẽ có cách đọc khác nhau.
Hoạt động phân tích: Đây là hoạt động tách rời, tháo gỡ các yếu tố liên
quan đến nhau trong một tác phẩm văn học. Các yếu tố này vốn liên kết chặt chẽ
với nhau để tạo thành một chỉnh thể nhất định nào đó. Việc phân tách chúng
thành các bộ phận nhỏ hơn, giúp bạn đọc có thể hiểu cặn kẽ, hiểu sâu sắc các bộ
phận nội dung và hình thức hợp thành tác phẩm. Song không chỉ dừng lại ở việc
phân tích này, người đọc còn phải ghép hợp lại để có thể nhìn nhận một cách
phong phú, khái quát hơn về tác phẩm văn học. Tuy nhiên việc phân tích phải
lựa chọn ra những yếu tố bản sắc của tác phẩm, biết đi sâu vào cảm xúc mãnh
liệt, trung thực nhất trong thế giới nội tâm vượt qua sự đầy đủ vốn quen thuộc
và sáo mòn, kiếm tìm sự súc tích của ngôn ngữ nghệ thuật.

có hai xu hướng xảy ra: một là bản dịch kém chính xác và làm giảm đi cái hay,
cái đẹp của nguyên tác; hai là bản dịch đạt giá trị văn học nghệ thuật hơn so với
nguyên tác, có sức sống bền lâu hơn trong lòng độc giả. Như vậy khoảng cách
ngôn ngữ là một vấn đề lớn và khó có thể giải quyết tuyệt đối.


Khoảng cách tâm lí: Tiếp cận văn học vốn mang tính chủ quan nên nó
nảy sinh và chịu ảnh hưởng sâu sắc của khoảng cách tâm lí. Khoảng cách tâm lí
chính là khả năng phát triển, thiên hướng, sở thích, cảm hứng và đời sống nội
tâm của người tiếp nhận, tác động tới tác phẩm, đồng thời có một phần sự tác
động nhất định của dư luận xã hội cũng như xu thế tâm lí thời đại. Văn học thiếu
nhi là sở thích của đại đa số lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng cho nên hầu hết những
người bước qua tuổi ấy, đặc biệt là người già sẽ không còn hứng thú để đọc
những tác phẩm này. Và nhất là hiện tượng văn học thời chiến rất được chú
trọng phát triển và đón tiếp nồng nhiệt trong những năm kháng chiến. Nhưng
trong thời đại ngày nay khi chiến tranh đã lùi xa dần về dĩ vãng, xu thế hội nhập,
hợp tác cùng phát triển giữa các quốc gia, giữa các liên minh khiến người ta
không còn nhiều hứng thú khi đọc lại các tác phẩm thời chiến tranh. Nhà văn
Nguyễn Minh Châu đã từng phát biểu ý kiến mở đầu cho thời kì văn học sau đổi
mới: “Chiến tranh đã lùi xa, chúng ta không nên ca mãi bài ca ấy”. Khoảng
cách tâm lí là khoảng cách khá quan trọng, bởi tâm lí thuộc về thế giới tâm hồn
vô cùng phong phú và khó hiểu.
Khoảng cách lịch sử: Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống hiện
thực. Cuộc sống con người phát triển theo từng giai đoạn, điều đó để lại đậm
nét trong tác phẩm. Hầu hết các tác phẩm viết về quá khứ và hiện tại, và phải
đến “tương lai” nó mới được người đọc tiếp nhận. Chính điều này đã, đang và
sẽ gây khó khăn cho học sinh nói riêng cũng như bạn đọc nói chung khi tất cả
sống trong hiện tại. Không chỉ có vậy, cái lịch sử được phản ánh với lịch sử ra
đời tác phẩm nhiều khi cũng không thống nhất với nhau, giữa chúng cũng có
những khoảng cách nhất định.



+ Văn chính luận.
+ Văn nghệ thuật.
+ Văn hành chính công vụ.
+ Văn sinh hoạt.
+ Văn báo chí.

* Thể loại với vấn đề tiếp nhận:
Trên thực tế những vấn đề của tiếp nhận sẽ được đưa ra xem xét để xây
dựng phương pháp dạy học sao cho phù hợp, khoa học. Thế loại văn học là một
phạm trù của lí luận văn học, một lĩnh vực cơ bản của văn học. Giữa thể loại và
tiếp nhận có mối liên hệ mật thiết với nhau. Mỗi thể loại văn học mang một nội
hàm về nội dung và hình thức đặc thù, nó quy định cách thức giao tiếp của bạn
đọc với tác giả thông qua tác phẩm. Khi nắm được những vấn đề lí thuyết của
thể loại văn học sẽ giúp cho quá trình tiếp nhận có cơ sở khoa học. Đây sẽ là
con đường để cảm nhận tác phẩm một cách lí tính, đầy hiệu quả. Thể loại là
phương thức nhà văn sáng tạo ra tác phẩm. Quá trình tiếp nhận không chỉ là
việc muốn biết tác phẩm được làm ra bằng cách nào.
Lựa chọn con đường tiếp nhận tác phẩm văn chương theo đặc trưng thể
loại chính là việc người giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu và cắt nghĩa các
khía cạnh của tác phẩm theo đặc trưng thể loại mà tác phẩm phụ thuộc nhằm
giúp các em hiểu sâu, hiểu xa những giá trị bên trong tác phẩm.

1.2. Vấn đề đọc hiểu tác phẩm văn chương.
1.1.2 1.1.2. Khái niệm đọc hiểu.
Đọc- hiểu là một quá trình lao động sáng tạo mang tính thẩm mĩ nhằm
phát hiện ra những giá trị tác phẩm trên cơ sở phân tích đặc trưng văn bản.



Từ đọc đến hiểu là một quá trình phát triển của nhận thức. Trước tiên phải
hiểu ngôn từ, sau đó đến hình tượng và ý nghĩa thẩm mĩ của nó. Theo đó, bản
chất của quá trình đọc hiểu văn bản là một quá trình lao động sáng tạo mang
tính thẩm mĩ nhằm phát hiện ra những giá trị tiềm tàng của tác phẩm trên cơ sở
phân tích đặc trưng văn bản.
Đọc hiểu không chỉ đơn thuần là đọc chữ. Với các cấp độ: đọc thông, đọc
thuộc, đọc kĩ đọc sâu, đọc hiểu đọc sáng tạo, đọc đánh giá và ứng dụng thì đây
là một hoạt động nhận thức đặ thù của việc học văn và bộc lộ kết quả của chính
sự nhận thức đó. Ở nhà trường phổ thông, đọc hiểu là một hoạt động duy nhất
để học sinh tiếp xúc trực tiếp với các giá trị văn hóa, văn học.
Dưới góc độ phương pháp, đọc hiểu là một hoạt động phân tích, tổng hợp
được truyền đạt thông qua nội dung ý thức trong từ và câu, để diễn tả những mối
quan hệ khác nhau,những ý nghĩa được cung cấp, sắp xếp trong kí hiệu ngôn từ.
Điều đó có nghĩa đọc hiểu là sự hiểu biết ngôn ngữ, như sự phân tích ý nghĩa
sâu xa trong văn bản mà người đọc phải tái tạo lại. “Một trong ba mục tiêu của
dạy học văn là rèn luyện khả năng đọc hiểu văn bản, tạo cho học sinh biết cách
đọc văn một cách có văn hóa, có phương pháp”.
Như vậy, đọc hiểu văn là một quá trình thử thách, là cuộc đi tìm ý nghĩa
nhân sinh cho văn bản văn học. Đây là một cách thức để người học vươn tới
những chân trời rộng lớn. Đọc hiểu là một họat động có tính chất đầu mối của
việc dạy tích hợp Ngữ văn hướng tới sự phát triển đồng bộ của học sinh trong
mhà trường phổ thông.

1.2.2. Chức năng, vai trò của đọc hiểu tác phẩm văn học.


Trước hết, đọc hiểu là con đường đi vào tác phẩm, nó là một phương tiện
hữu hiệu để nghiên cứu tác phẩm văn học. Bằng hoạt động đọc hiểu, bạn đọc sẽ
tìm thấy những vấn đề của cuộc sống mà tác phẩm đề cập tới, có thể là những
mẫu người, những cách suy nghĩ, những cách nhìn nhận, đánh giá và giải thích

năng nghệ thuật của các từ ngữ và các thủ pháp nghệ thuật tạo nên ý nghĩa tác
phẩm. Sở dĩ có được như vậy bởi qua mỗi một tác phẩm văn chương, bao giờ
nhà văn cũng gửi gắm một bài học đạo đức, bài học thẩm mĩ, để từ đó bạn đọc
tích lũy được cho mình cách nhìn đời, nhìn người và kiểm nghiệm lại chính
mình. Việc giáo dục thẩm mĩ, đạo đức bao giờ cũng gắn liền với việc học tập và
phát triển văn học nói chung. Việc tiếp nhận đúng đắn, chính xác các hiện tượng
đời sống được phản ánh trong tác phẩm văn học sẽ tạo nên những tiền đề cần
thiết để đánh giá tương tự các hiện tượng của hiện thực khách quan. Hay nói
cách khác, đọc hiểu tác động đến lương tâm người học, đến toàn diện nhân cách
của học sinh.
Với chức năng và vai trò quan trọng như vậy, đọc hiểu đã trở thành một
phương pháp dạy học văn tích cực trong nhà trường phổ thông.

1.3. Cơ sở tâm lí và lí luận dạy học hiện đại.
1.3.1. Cơ sở tâm lí:
Đối tượng của hoạt động dạy học chính là các em học sinh từ 6- 18 tuổi
được phân chia theo các cấp học và học các chương trình phù hợp với tâm sinh
lí lứa tuổi sao cho việc dạy học có thể đạt hiệu quả cao nhất. Giáo trình Tâm lí
học lứa tuổi và sư phạm đã chỉ rõ ở cấp học THPT, đối tượng học sinh là ở tuổi
từ 15- 18. Ở lứa tuổi này, những điều kiện về mặt trí tuệ và xã hội để xây dựng
một hệ thống, một quan điểm riêng đã được hình thành.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status