Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Ngữ Văn
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Những tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông được coi là những
tác phẩm điển hình chứa đựng những giá trị nội dung và nghệ thuật sâu sắc.
Nó không chỉ cung cấp tri thức, hiểu biết về cuộc sống, thế giới xung quanh
mà còn có tác dụng giáo dục nhân cách, đạo đức và thẩm mĩ cho học sinh. Vì
thế, vai trò, nhiệm vụ của người giáo viên dạy văn trong nhà trường phổ thông
là rất quan trọng và nặng nề. Dạy văn là hoạt động khó khăn, phức tạp đòi hỏi
ở người thầy không chỉ tri thức mà còn cả một quá trình rèn luyện để đạt tới
kĩ năng và phương pháp thành thục. Vì thế người ta gọi giáo viên dạy văn là
"người nghệ sĩ trên bục giảng". Vậy làm thế nào để truyền đạt được những tri
thức, những giá trị tốt đẹp của tác phẩm tới học sinh? Làm thế nào để học sinh
hiểu, cảm và say mê những giá trị đó? Đây là câu hỏi mà mỗi người giáo viên
luôn trăn trở, suy tư.
Chương trình Ngữ văn mới hiện nay được biên soạn theo trục thể loại
và tổ chức dạy học theo đặc trưng thể loại. Chương trình vẫn dựa vào tiến
trình lịch sử của văn học dân tộc và thế giới nhưng ở mỗi giai đoạn sẽ lựa
chọn ra một vài tác phẩm văn học tiêu biểu cho các thể loại để làm văn bản
mẫu cho việc dạy đọc - hiểu. Vì thế cần dạy một cách thật kĩ lưỡng để học
sinh thấy được vẻ đẹp cụ thể của tác phẩm văn học ấy, nhưng mặt khác, giúp
học sinh biết cách đọc, cách phân tích một bài ca dao, một bài thơ, một truyện
ngắn, hay một bài kí văn học... để các em có thể tự mình đọc, tìm hiểu và
khám phá những tác phẩm tương tự. Theo đó, học sinh sẽ được tìm hiểu kĩ
một mẫu thể loại nào đó, sau đó sẽ được cung cấp một loạt các tác phẩm theo
cùng thể loại để phân tích, luyện tập và đánh giá. Vì thế đề tài này nhằm mục
Hoàng Thị Hiền - K32D
bản, tự tìm hiểu, chiếm lĩnh văn bản theo thể loại.
Hiện nay cũng có rất nhiều cuốn thiết kế giáo án Ngữ văn của nhiều tác
giả khác nhau: bộ sách Thiết kế bài học Ngữ văn 10, 11, 12 do Phan Trọng
Luận (chủ biên); bộ Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10,11,12 của Nguyễn Văn
Đường; bộ Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10,11,12 (nâng cao) của tác giả
Hoàng Thị Hiền - K32D
2
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Ngữ Văn
Nguyễn Đình Chung; bộ Thiết kế bài dạy Ngữ văn do Tạp chí văn học & tuổi
trẻ biên soạn. Song ở tất cả các bộ sách này lại chưa có sự thống nhất trong
cấu trúc thiết kế và tổ chức các hoạt động cho học sinh trong giờ học. Nói
cách khác, trong những bộ sách này chưa định hình được một con đường đi
chung để dạy học theo thể loại. Như vậy, cã thể nói dạy học mỗi thể loại hiện
nay như một bài toán chưa có đáp số chung, mặc dù đã có nhiều lời giải.
Quan điểm dạy học tích cực đã được diễn đạt bằng nhiều mệnh đề gần
gũi như: ''dạy học lấy học sinh làm trung tâm'', ''dạy học hướng vào học sinh''
hay ''tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh'',... Những cách diễn đạt
này cho thấy dạy học tích cực là người dạy tìm cách tổ chức việc cho người
học và học tích cực là người học tự mình chiếm lĩnh bài học dưới sự tổ chức,
hướng dẫn của giáo viên. Vậy để tạo quyền lợi cho người học '' tự bộc lộ '' các
năng lực đọc - hiểu của mình đối với tác phẩm thì phải đổi mới phương pháp
dạy học.Với đề tài '' Xây dựng quy trình dạy học đọc hiểu văn bản kí theo
đặc trưng thể loại ở trường THPT '', chúng tôi thiết nghĩ sẽ đáp ứng được yêu
- Phan Trọng Luận (2001), Phương pháp dạy học văn, tập 1, 2, Nxb
Giáo dục.
- Phan Trọng Ngọ (2005), Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà
trường, Nxb Đại học Sư phạm.
- Z.IA - REX (chủ biên), (1993), Phương pháp luận dạy văn học, Nxb
Giáo dục.
- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên Ngữ văn 10, 11 (2006), Nxb Giáo dục.
Dạy học theo hướng công nghệ xuất hiện ở Mĩ vào đầu thế kỉ XX. Với
ưu điểm nổi bật, phương pháp dạy học này nhanh chóng phát triển sang các
nước phương Tây và đem lại hiệu quả cao. Tại Việt Nam, dạy học theo hướng
công nghệ được triển khai từ đầu những năm 80 do GS.TS Hồ Ngọc Đại thử
nghiệm và tiến hành tại trung tâm công nghệ Giảng Võ. Đề tài này đã đem
đến một quan niệm mới mẻ về dạy học mang tính quy trình hóa: thầy tổ chức
thiết kế, trò thực thi hoạt động.
Tuy nhiên cách làm của trung tâm công nghệ giáo dục còn hạn chế vì
chỉ dừng lại ở quy trình hoá dạy học. Mặt khác để triển khai dạy học tích cực
đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều giáo trình phương pháp dạy học văn
được lưu hành. Nhưng trong đó phần lớn nói về nguyên tắc và phương pháp
Hoàng Thị Hiền - K32D
4
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Ngữ Văn
dạy học. Đó là những định hướng lớn mang tính chung chung, sách vở. Còn
cụ thể để xây dựng quy trình dạy học thì vẫn bỏ ngỏ.
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Ngữ Văn
Sư phạm, nhu cầu của giáo viên và học sinh cần có quy trình dạy học đọc hiểu các thể loại.
Vấn đề phương pháp dạy học thể loại kí ở trường trung học phổ thông
đã có một số nhà giáo dục quan tâm nhưng vẫn chưa xây dựng được một quy
trình chung, thống nhất để đọc - hiểu văn bản thể loại này. Vì thế vấn đề mới
của đề tài này chính là việc đi tìm các hoạt động học tập cho học sinh, sắp xếp
các hoạt động đó thành một quy trình hợp lí, tối ưu dựa vào đặc trưng thể loại
và dựa trên lí thuyết về công nghệ dạy học.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu và làm rõ những vấn đề xung quanh việc dạy học theo hướng
công nghệ để vận dụng nó vào trong dạy học văn, làm tăng tính khoa học
trong phương pháp dạy học văn.
Nhằm hiện thực hoá định hướng của Bộ GD & ĐT về đổi mới nội dung
chương trình và phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động của
học sinh. Đồng thời nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong dạy và học
văn bản thể loại kí ở trường THPT theo hướng dạy văn là dạy đọc - hiểu văn
bản và phải tích cực hoá hoạt động của học sinh.
Góp phần xây dựng quy trình dạy học đọc - hiểu các văn bản theo thể
loại có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: quy trình dạy học môn văn ở trường phổ thông
theo đặc trưng thể loại. Trên cơ sở xác định ®Æc trưng thể loại để đi đến việc
định hình một khung chung cho thiết kế bài soạn. Tức là phải đi tìm tất cả
những hoạt động học tập của học sinh trong một thể loại để đi sắp xếp chúng
theo một logic hợp lí, tối ưu.
- Phạm vi nghiên cứu: Dạy học văn bản thuộc thể loại kí ở bậc THPT
theo hướng công nghệ và thể nghiệm thiết kế bài soạn qua tác phẩm bút kí "Ai
Néi dung
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Quan niệm về dạy học theo hướng công nghệ
1.1.1. Quan niệm về dạy học nói chung
- Quan niệm về dạy học : Dạy học không phải là nhằm cung cấp thông
tin mà là nhằm hướng dẫn cho người học cách tìm kiến thức, cách hệ thống
hoá kiến thức, cách xử lí kiến thức và phát triển kiến thức.
- Quan niệm về học: Không phải chỉ là học trên lớp, học ở nhà mà học
thường xuyên, học suốt đời, học mọi lúc, mọi nơi. Học không chỉ là tiếp thu
tri thức mà phải thực hiện bốn nhiệm vụ do Liên Hợp Quốc đề ra: học để biết,
học để làm, học để chung sống và học để khẳng định mình.
- Quan niệm về quá trình dạy học: là một quá trình hoạt động phối
hợp tương tác giữa thầy và trò. Nó được tiến hành một cách có tổ chức, có
mục đích, có kế hoạch. Dưới sự chỉ đạo của thầy, trò tự giác, tích cực và tự
lực nắm vững kiến thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo cần thiết, phát triển năng
lực nhận thức, năng lực hoạt động. Trên cơ sở đó hình thành thế giới quan
khoa học và những phẩm chất cần thiết của con người mới.
1.1.2. Bản chất của quá trình dạy học
Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức của học sinh. Quá
trình nhận thức của học sinh là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào ý
thức của chủ thể và nó diễn ra theo quy luật chung mà Lênin đã nêu: từ trực
quan sinh động đến tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là con đường biện
chứng của nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan.
Vậy bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức của học sinh
dưới sự chỉ đạo của giáo viên nhằm đạt được các nhiệm vụ học tập đã định.
Hoàng Thị Hiền - K32D
- Dạy học theo hướng công nghệ là kiểu dạy học khách quan hoá từng
việc làm của thầy và trò đảm bảo hiệu quả dạy học tất yếu như mục đích đặt
ra.
Hoàng Thị Hiền - K32D
10
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Ngữ Văn
- Dạy học theo hướng công nghệ là kiểu dạy học kiểm soát chặt chẽ quá
trình tạo ra sản phẩm, là kiểu dạy học tích hợp giữa dạy và học, giữa lí thuyết
và thực hành, vừa cung cấp tri thức cho học sinh vừa phát triển năng lực cho
học sinh.
- Dạy học theo hướng công nghệ là theo phương thức chương trình hoá,
điều khiển hoá, thao tác hoá thành quy trình dạy học. Những hoạt động dạy và
học được thiết kế đồng loạt có khả năng đại trà hoá với chức năng thầy thiết
kế, trò thi công.
- Dạy học theo hướng công nghệ là dạy học có kĩ thuật, dạy học theo
quy trình, khác xa với kiểu dạy học theo kinh nghiệm. Vì thế, dạy học theo
hướng công nghệ có thể chuyển giao kĩ thuật, chuyển giao quy trình đến với
mọi giáo viên và mỗi giáo viên nếu thực hiện nghiêm ngặt mọi thao tác, mọi
công đoạn trong quy trình ấy thì giờ học nhất định đạt được hiệu quả như mục
tiêu mong muốn.
1.2. Nhiệm vụ dạy học theo hướng công nghệ
Xuất phát từ nhiệm vụ của dạy học là chuyển tri thức kết tinh của nhân
loại thành tri thức của mỗi người học, dạy học theo hướng công nghệ cũng
rõ năng lực và khả năng của người học; phải hiểu kĩ đích cần đi đến (mục tiêu
cần đạt). Còn nhiệm vụ của người học là phải tích cực, chủ động và tự lực
thực hiện tất cả các hoạt động học tập được giao.
1.3. Thực nghiệm dạy học theo hướng công nghệ ở Trung tâm công nghệ
giáo dục Giảng Võ
1.3.1. Vài nét về lịch sử TT CN giáo dục Giảng Võ
TTCN giáo dục Giảng Võ được thành lập từ năm 1987 do GS.TS Hồ
Ngọc Đại làm giám đốc và chủ đề tài. TT giáo dục Giảng Võ là nơi tiến hành
các nghiên cứu khoa học giáo dục, thực nghiệm nội dung, phương pháp mới.
Vận dụng những thành tựu của phương pháp dạy học theo hướng công nghệ
trên thế giới, TT tiến hành nghiên cứu, thực nghiệm phương pháp này đối với
giáo dục Việt Nam. Từ năm 1985 đến năm 1995 là chặng đường mười năm
TT chuyển giao công nghệ dạy học đến cả nước. Từ sau 1995, ở Tiểu học
không còn môn văn mà môn văn được đưa vào trong sách Tiếng Việt, phần
văn ở Tiểu học của TTCN bị chông chênh. Những trường dạy theo thực
nghiệm bị dao động. Hơn nữa, sau năm 2000 chương trình SGK được xây
dựng theo quan điểm tích hợp TTCN giáo dục Giảng Võ ít được nhắc đến.
Hoàng Thị Hiền - K32D
12
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Ngữ Văn
Song hình bóng của công nghệ dạy học đã được hiện lên trong thiết kế của
giáo viên. Những thuật ngữ: quy trình, thao tác, thiết kế, ...ngày càng được sử
dụng rộng rãi trong sách thiết kế và trong dạy học ở phổ thông.
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Ngữ Văn
- Lớp 4: đọc văn bản, hình dung tưởng tượng, phân tích hình tượng để
khái quát lên chủ đề.
- Lớp 5: đọc văn bản, hình dung tưởng tượng, phân tích hình tượng để
xác định tư tưởng của tác giả, nêu ý kiến bản thân, từ đó đi đến giá giá trị của
văn bản tác phẩm.
Mỗi chặng lại được thiết kế thành nhiều thao tác cụ thể, thành từng
nhiệm vụ tường minh. Tuy nhiên, quy trình này chỉ áp dụng ở bậc Tiểu học
nên còn đơn giản. Mục tiêu dạy học ở bậc Tiểu học chỉ là giúp học sinh tìm
hiểu các tầng nội dung văn bản bằng các thao tác cụ thể.
Bậc THCS: với phương châm dạy từ trừu tượng đến cụ thể, giới thiệu
những đặc trưng thể loại, cách thức đọc - hiểu một thể loại, từ đó đi tìm hiểu
văn bản cụ thể theo cách thức ấy. Qua đó TTCN Giảng Võ đã xác định được:
- Quy trình hoạt động của thầy và trò rất rõ ràng, rành mạch.
- Ở mỗi thể loại: xác định được đặc điểm thể loại và cách thức học từng
thể loại. Đó là hướng đi đúng của TTCN giáo dục Giảng Võ.
Tuy nhiên, sau 1995, vai trò của TTCN giáo dục Giảng Võ ít được nhắc
đến do những hạn chế nhất định:
- Quan niệm chung của TTCN Giảng Võ của ông Hồ Ngọc Đại cho
rằng: công nghệ dạy học là giải pháp tổng thể cho nền giáo dục Việt Nam.
Điều này không phù hợp với nguyên tắc trong dạy học: phải sử dụng phối hợp
tất cả các phương pháp, phương tiện tiên tiến nhất để nhằm đạt mục tiêu dạy
học.
- Riêng trong dạy văn: Thành công của TTCN Giảng Võ là dạy văn ở
bậc Tiểu học. Nhưng từ sau 1995, bậc Tiểu học không còn môn văn nữa nên
những đóng góp của TTCN không còn điều kiện thể hiện.
- Tư tưởng công nghệ trong dạy học văn là tìm tác phẩm từ văn bản.
diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt
Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu
vực và trên thế giới.''
Trên cơ sở mục tiêu chung đó, mỗi bộ môn sẽ xây dựng cho mình một
mục tiêu cụ thể. Môn Ngữ văn đã xây dựng cho mình ba mục tiêu sau:
Thứ nhất: trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản,
hiện đại có tính hệ thống về mặt ngôn ngữ và văn học, trọng tâm là tiếng Việt
Hoàng Thị Hiền - K32D
15
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Ngữ Văn
và văn học Việt Nam, phù hợp với trình độ lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân
lực trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai: hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng
Việt, năng lực cảm thụ văn học, năng lực tư duy, phương pháp học tập, đặc
biệt là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc
sống.
Thứ ba: bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, yêu văn học, yêu
chân lí, yêu gia đình, quê hương đất nước, lòng tự hào dân tộc, lí tưởng xã hội
chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn. Giáo dục cho học sinh đạo đức công
dân, tinh thần tôn trọng, ý thức phát huy các giá trị văn hoá dân tộc và nhân
loại.
1.4.2. Chương trình SGK Ngữ văn đổi mới
mối quan hệ giữa văn bản và bạn đọc.
Lí thuyết tiếp nhận đặt ra một vấn đề: Rất nhiều lí thuyết phân tích tác
phẩm ®ã có nhưng chưa quan tâm đến bạn đọc, mà bạn đọc lại là thành phần
quyết định tạo ra giá trị của tác phẩm. Tức là lí thuyết tiếp nhận đề cao vấn đề
tác phẩm với bạn đọc. Vậy bạn đọc khi tiếp nhận tác phẩm phải đọc từ đâu?
Phải đi từ tầng ngôn từ đến tầng hình tượng và cuối cùng là tầng hàm nghĩa.
Có nghĩa là con đường đi của bạn đọc là đọc văn bản để hình dung, khám phá
ra tác phẩm, để thấy được cái hay của tác phẩm. Như vậy, phần tác phẩm đến
được với học sinh để học sinh thông qua hoạt động học tập chiếm lĩnh tác
phẩm chính là phần văn bản.
Nếu trước đây, văn bản chỉ dừng lại ở thể loại thì lần thay sách này đã
đi sâu, cụ thể hơn: trong các văn bản, ngoài thể loại còn có phương thức biểu
đạt. Mỗi một văn bản thuộc một thể loại đều có một phương thức biểu đạt
chính. Ví dụ: tự sự thì phương thức biểu đạt chính là kể; trữ tình thì phương
thức biểu đạt chính là biểu cảm. Học sinh phải đọc theo các phương thức biểu
đạt mới hiểu được nội dung, ý nghĩa của văn bản.
Một trong những nội dung của đổi mới lần nay nữa là chương trình
được cấu tạo theo quan điểm tích hợp: tiếng Việt, làm văn, lí luận văn học và
phần văn học phải có sự gắn kết và hỗ trợ lẫn nhau tập trung vào hai năng lực:
đọc hiểu văn bản và tạo lập văn bản. Theo đó, mỗi phân môn đều cung cấp
những kiến thức, kĩ năng nhằm chuẩn bị cho việc đọc - hiểu văn bản:
Hoàng Thị Hiền - K32D
17
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Ngữ Văn
18
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Ngữ Văn
Bên cạnh những kiến thức về giao tiếp, phần tiếng Việt còn cung cấp
cho học sinh những kiến thức về nghĩa của từ, nghĩa của câu, nghĩa tường
minh, nghĩa hàm ẩn, nghĩa sự vật, nghĩa tình thái. Có được những kiến thức
này, học sinh có thể tìm hiểu văn bản ở bề sâu của câu chữ, thấy được tư
tưởng, tình cảm mà tác giả gửi gắm đến bạn đọc.
Ngoài ra, phần tiếng Việt còn cung cấp cả những kiến thức về đoạn.
Mỗi đoạn văn đều có chủ đề của đoạn, có sự liên kết bề sâu và bề mặt, có cấu
trúc liên kết. Đó chính là những hướng dẫn về đọc đoạn như thế nào? Đọc câu
như thế nào? Từ những hướng dẫn này mà học sinh có thể áp dụng vào từng
đoạn văn cụ thể, tạo hiệu quả cao cho việc đọc đoạn, đọc câu.
Tất cả những kiến thức mà phần tiếng Việt cung cấp đều nhằm hỗ trợ
cho việc đọc - hiểu văn bản. Ngay cả những bài về phong cách ngôn ngữ
cũng là nhằm vào hướng dẫn học sinh đọc, tìm hiểu văn bản phải chú ý đến
đặc trưng của từng loại phong cách ngôn ngữ chức năng đã chi phối câu chữ
của văn bản.
+ Phần lí luận văn học:
Lí luận văn học cho học sinh biết khái niệm văn bản là sản phẩm của
hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, gồm một hoặc nhiều câu, nhiều đoạn và
những đặc điểm cơ bản sau:
~ Mỗi văn bản tập trung thể hiện một chủ đề và triển khai chủ đề
ấy một cách trọn vẹn.
~ Các câu trong văn bản có sự liên kết chặt chẽ, đồng thời cả văn
Cũng trong lí luận văn học có bài ''Một số thể loại văn học: thơ,
truyện, kịch và nghị luận''.Qua các bài học này, người học nắm được yêu cầu
về đọc thơ, truyện, kịch hay một văn bản nghị luận. Những yêu cầu này đều
được đưa ra trên cơ sở đặc trưng của từng thể loại. Việc cung cấp những tri
thức này là vô cùng quan trọng và cần thiết. Nó tạo điều kiện thuận lợi cho
người học khi mà chương trình Ngữ văn hiện nay được biên soạn, sắp xếp
theo thể loại, cụm thể loại và kiểu văn bản.
+ Phần làm văn:
Phần làm văn cho thấy rằng, thể loại là một vấn đề lớn và đọc văn phải
đi từ cái cụ thể nhất, đó là phương thức biểu đạt. Đọc từng thể loại có những
nét riêng khác nhau. Theo đó, phần làm văn phổ thông giúp học sinh ôn luyện
lại hệ thống các phương thức biểu đạt đã được học ở cấp II: tả, kể, biểu cảm,
Hoàng Thị Hiền - K32D
20
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Ngữ Văn
thuyết minh, nghị luận qua các bài học: Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự,
Tóm tắt văn bản tự sự, Các thao tác nghị luận,... Từ phương thức biểu đạt cụ
thể ta đi tìm ra những thông tin. Tức là phải đi giải mã văn bản một cách cụ
thể theo phương thức biểu đạt.
Như vậy, trên đây là toàn bộ những kiến thức cũng như những kĩ năng
cơ bản mà chương trình Ngữ văn chuẩn bị cho học sinh để các em có được
những công cụ tiến hành đọc - hiểu văn bản theo thể loại một cách có hiệu
quả, khoa học và đến đích, đồng thời thể hiện tính tích hợp của chương trình.
kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của trò.
Có thể nói, nhiệm vụ tổng quát của dạy học văn trong nhà trường
THPT hiện nay là cung cấp cho học sinh những kiến thức, rèn luyện cho học
sinh những kĩ năng mang tính công cụ phục vụ cho việc học sinh đọc - hiểu
cũng như tạo lập văn bản theo loại thể.
Kết luận chương 1:
Với những tìm hiểu về: quan niệm dạy học theo hướng công nghệ;
nhiệm vụ của dạy học theo hướng công nghệ; thực nghiệm dạy học theo
hướng công nghệ ở trung tâm công nghệ giáo dục Giảng Võ; mục tiêu,
chương trình và nhiệm vụ dạy học Ngữ văn ở trường THPT hiện nay, người
viết coi đây là những cơ sở lí luận chung có tính chất nền tảng cho việc đi sâu
vào nghiên cứu, phát triển đề tài khoá luận "Xây dựng quy trình đọc hiểu v¨n
b¶n kí theo đặc trưng thể loại ë trêng THPT".
Hoàng Thị Hiền - K32D
22
Khóa luận tốt nghiệp
Khoa Ngữ Văn
CHƯƠNG 2
XÂY DỰNG QUY TRÌNH DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN KÍ
Ở TRƯỜNG THPT
2.1. Vài nét sơ lược về loại hình kí văn học
2.1.1. Sự hình thành loại hình kí
Trong văn xuôi, bên cạnh tiểu thuyết thì kí là thể loại văn học có tầm
tác phẩm kí có giá trị lần lượt xuất hiện, góp phần tạo nên bộ mặt đa dạng của
đời sống văn học. Những tác phẩm ấy đã phản ánh kịp thời nhiều mặt của
hiện thực đời sống bề bộn, phong phú, xứng đáng là “Bộ đội tiền tiêu” của
văn học nghệ thuật. Trong thời kỳ kháng chiến, các nhà văn - chiến sỹ đã ghi
chép, miêu tả sự việc cũng như con người có thật trong cuộc kháng chiến và
cách mạng của dân tộc như: “Truyện và kí” của Trần Đăng, “ở rừng” của
Nam Cao, “Kí sự Cao Lạng” của Nguyễn Huy Tưởng và sau này là “Sông
Đà”, “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” của Nguyễn Tuân; “Những ngày nổi giận”
của Chế Lan Viên và rất nhiều tác phẩm kí có giá trị khác. Nói chung, kí là
những ghi chép nhanh, nhạy, nối liền cuộc sống với người đọc.
Như vậy, trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài kí đã trở
thành thể loại quan trọng trong văn xuôi. Sự có mặt của các thể kí văn học đã
góp phần làm cho nền văn học trở nên cân đối, nhiều màu sắc và giàu tính
chiến đấu.
2.1.2. Khái niệm chung về thể kí văn học
Lí luận văn học hiện đại vẫn có những ý kiến khác nhau về khái niệm
và đặc trưng của thể kí. Có nhà nghiên cứu nhận xét “Về kí, thực tế là không
thể nói đến cái gì xác định được đặc trưng của nói” [11,tr.275], lại có người
cho kí là “Loại thể văn học đặc biệt và phức tạp” [11,tr.277]. Các cuộc trao
đổi về thể kí trên tạp chí văn học, các bài báo, các công trình nghiên cứu, các
giáo trình lí luận văn học cũng cho thấy sự không đồng nhất trong quan niệm
về kí.
Tuy nhiên, kí có cái hạt nhân làm thành đặc trưng riêng của nó. Đó là
các sự kiện, hoàn cảnh lịch sử, đời sống xã hội cũng như cá tính sáng tạo của
các tác giả. Lê Minh trong “Nghệ thuật truyện ngắn và kí” viết: “Với thể loại
kí, từ sự thôi thúc của cuộc sống mà tác giả có nhu cầu công bố kịp thời
những nhận xét, những ý tưởng… kí ghi được rất rõ những nét mang được
Hoàng Thị Hiền - K32D
Kí thường không có cốt truyện có tính hư cấu. Sự việc và con người trong kí
phải xác thực hoàn toàn, có địa chỉ hẳn hoi. Đó là vì kí dựng lại những sự thật
Hoàng Thị Hiền - K32D
25