Xây dựng quy trình dạy học đọc hiểu văn bản truyện giai đoạn sau 1975 trong trường THPT theo đặc trưng thể loại - Pdf 31

Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr­êng §HSP Hµ Néi 2
MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
1.1. Thế kỉ XX là thế kỉ của chất xám, của trí tuệ, của nền văn minh hậu
công nghiệp. Con người muốn tồn tại, muốn hòa nhập, muốn tự khẳng định
mình thì nhất định phải là những thành viên năng động, sáng tạo. Bước sang
thế kỉ mới cùng với những cơ hội thuận lợi để con người vươn lên phát triển
toàn diện thì loài người cũng đang đứng trước nguy cơ, thách thức lớn. Con
người muốn tự cứu mình không có con đường nào khác ngoài con đường khai
thác kho báu tiềm tàng của nhân loại đó là khả năng tư duy vô hạn của con
người. Một phương pháp dạy học, một phương thức giáo dục trì trệ, cổ hủ,
giáo điều sẽ là những trở lực cho bước đi của nhân loại và của mỗi dân tộc
trong cuộc chạy đua về sức mạnh siêu quốc gia.
Trước tình hình đó, các nhà lãnh đạo luôn nghĩ đến nội lực của giáo
dục mà trong đó phương pháp đào tạo được coi là một chiến lược then chốt.
Người ta thay đổi định nghĩa dạy học cũ bằng mệnh đề dạy học là dạy học tự
học, học là học tự học. Bản chất của quá trình dạy học cũng thay đổi không
còn là một quá trình giáo dục đơn phương, từ ngoài mà là một quá trình tổng
hợp nhiều quá trình trong đó quá trình tự giáo dục phải là hạt nhân.
Đối tượng của giáo dục chính là con người. Hoạt động giáo dục là hoạt
động tương tác giữa người giáo viên với học sinh nhằm chuyển toàn bộ tri
thức của nhân loại vào người học. Chương trình mới đòi hỏi phải tích cực hóa
hoạt động học tập của học sinh. Quá trình dạy học lấy học sinh làm trung tâm,
học sinh phải là người tự khám phá tri thức và hiện thực hóa vào bài học, thầy
giáo chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, người dẫn dắt học sinh thực hiện
hoạt động đó.
1.2. Chương trình SGK Ngữ văn mới ngoài việc sắp xếp theo thời kì
lịch sử còn có sự sắp xếp theo thể loại. Vì vậy khi hướng dẫn học sinh tìm

hiểu văn bản đó. Mặc dù cũng đã có một số cuốn sách thiết kế nhưng trong
những cuốn thiết kế đó vẫn chưa định hình được một con đường đi chung để
dạy học một thể loại vì mỗi người lại có một ý kiến khác nhau thể hiện những
nhận thức không giống nhau giữa các tác giả.
1.4. Bản thân em sẽ là người giáo viên trong tương lai - người trực tiếp
sẽ truyền thụ những tri thức môn Ngữ văn đến với học sinh thông qua các bài
học cụ thể. Hơn nữa trong chương trình Ngữ văn mới, SGK biên soạn theo
từng loại thể vì vậy em cho rằng việc nắm đặc điểm từng thể loại xây dựng
được một quy trình chung để dạy học mỗi thể loại là điều vô cùng cần thiết.

Qu¸ch Linh Trang

2

K32D - Ng÷ v¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Trong các thể loại văn học được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ
văn THPH thì "Truyện" là thể loại được đưa vào dạy khá nhiều tiết với những
đặc trưng riêng của nó có khả năng phản ánh đời sống ở phạm vi rộng lớn,
đặc biệt là truyện giai đoạn từ sau 1975, khi chiến tranh kết thúc, sống trong
thời bình con người có điều kiện để nhìn lại, chiêm nghiệm, nhìn nhận cuộc
đời và con người một cách đa diện, nhiều chiều hơn. Chẳng hạn như tác phẩm
“Một người Hà Nội” của Nguyễn Khải, “Chiếc thuyền ngoài xa” của
Nguyễn Minh Châu. Dạy những tác phẩm này để cho học sinh có thể nắm
được bài học một cách sâu sắc, cặn kẽ, thấu đáo là điều không dễ. Chính vì

“Phương pháp dạy học văn”, GS Phan Trọng Luận (chủ biên) tập 1,
Đại học sư phạm Hà Nội.
Trong thực tiễn dạy học ở Việt Nam hiện nay cũng đã áp dụng kiểu dạy
học theo hướng công nghệ, trong đó phải kể đến những cuốn sách thiết kế dạy
học Ngữ văn. Nhưng tên gọi của những cuốn sách thiết kế này là chưa thống
nhất, mỗi tác giả có một cách gọi khác:
Nguyễn Trọng Hoàn gọi là: “Giáo án Ngữ văn’’
Nguyễn Văn Đường gọi là: “Thiết kế bài giảng’’
Phan Trọng Luận gọi là: “Thiết kế bài học”
Sự chưa thống nhất giữa các tên gọi này thể hiện những nhận thức khác
nhau. Đúng nghĩa thì phải gọi là “Thiết kế bài học” để làm sao trong hoạt
động học tập, tự học sinh đọc - hiểu văn bản.
Các tác giả của những cuốn sách này đã cố gắng thiết kế bài học thành
các hoạt động để chiếm lĩnh toàn tác phẩm theo cách riêng của mình, chẳng
hạn:
Phan Trọng Luận , trong cuốn "Thiết kế bài học Ngữ văn" đưa ra cách
thức tiến hành một bài học theo các bước như sau:
1. Tìm hiểu phần tiểu dẫn (Tìm hiểu những thông tin về tác giả, tác
phẩm, hoàn cảnh ra đời,...)
2. Học văn bản (Đọc văn bản, phân tích văn bản)
3. Tổng kết ( Đánh giá khái quát về giá trị nội dung và nghệ thuật của
tác phẩm)
Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Khắc Đàm trong
"Giới thiệu giáo án Ngữ văn" lại thống nhất đưa ra mô hình dạy học Ngữ văn
gồm các bước sau:
I. Đọc - tìm hiểu
1. Tiểu dẫn

Qu¸ch Linh Trang


3. Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài chúng tôi nhằm mục đích:
- Làm rõ những vấn đề xung quanh dạy học theo hướng công nghệ vận
dụng vào trong dạy học văn. Tiếp nối những hướng dẫn của SGK hiện nay về
dạy học Ngữ văn theo thể loại, khóa luận sẽ đi vào những đặc điểm của thể

Qu¸ch Linh Trang

5

K32D - Ng÷ v¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

loại, định ra những tiêu chí để làm tăng tính khoa học trong phương pháp dạy
học, góp phần xây dựng quy trình dạy học các văn bản theo thể loại.
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học thể loại truyện ở trường
Trung học phổ thông theo hướng dạy văn là dạy đọc - hiểu văn bản và tích
cực hóa hoạt động học tập của học sinh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của dạy học theo hướng công nghệ và cách
thức để dựng lên quy trình dạy học.
- Thiết kế thử nghiệm: Trên cơ sở lý luận việc xây dựng quy trình dạy
học đọc - hiểu thể loại truyện, thiết kế thử nghiệm hai bài:
1. "Một người Hà Nội" của Nguyễn Khải
2. "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu.

sinh tích cực, sáng tạo.
Về phía học sinh, khi đã có quy trình định sẵn thì học sinh sẽ chủ động,
làm chủ, công việc học tập vì thế trở nên vui vẻ, nhẹ nhàng hơn, học sinh sẽ
sôi nổi, có nhu cầu tự mình khám phá kiến thức tạo ra môi trường thân thiện,
một không khí mới trong giờ học hứng thú và hiệu quả hơn.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần phụ lục kèm theo, khóa luận
chia thành 3 chương.
Chương 1: Cơ sở lý luận để xây dựng quy trình dạy học.
Chương 2: Xây dựng quy trình dạy học đọc - hiểu văn bản truyện ở
trường Trung học phổ thông.
Chương 3: Thiết kế thực nghiệm.

Qu¸ch Linh Trang

7

K32D - Ng÷ v¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr­êng §HSP Hµ Néi 2
NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ XÂY DỰNG
QUY TRÌNH DẠY HỌC
1.1. Quan niệm về công nghệ dạy học
1.1.1. Vấn đề thuật ngữ
Thuật ngữ Technologic de I’enseignement được dùng tương đương với


Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

trên cơ sở tổng hợp những thành tựu của nhân loại từ trước tới nay đặc biệt là
những thành tựu hiện đại của các khoa học giáo dục và các khoa học liên
quan như sinh học, tâm lí học, điều khiển học, lí thuyết tổ chức, lôgic học, kĩ
thuật học giáo dục. Công nghệ dạy học tổ chức một cách khoa học quá trình
đào tạo con người bằng cách xác định một cách chính xác và sử dụng một
cách tối ưu đầu ra (mục tiêu giáo dục), đầu vào (học sinh), nội dung dạy học,
các điều kiện kĩ thuật dạy học, các tiêu chuẩn đánh giá, hệ phương pháp tích
cực hóa, chương trình hóa và cá thể hóa quy trình dạy học với sự chi phối tối
ưu thời gian, sức lực, tiền của của giáo viên, học sinh, nhân dân và Nhà nước
nhằm đạt được mục đích giáo dục và đáp ứng kịp thời những yêu cầu của thời
đại.
1.1.4. Quan niệm về công nghệ dạy học trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.4.1. Quan niệm về công nghệ dạy học trên thế giới
Được thể hiện qua hai chặng đó là ý tưởng về công nghệ dạy học và
giai đoạn hiện thực hóa công nghệ dạy học.
Chặng 1: Ý tưởng về công nghệ dạy học
Ý tưởng về công nghệ dạy học xuất hiện từ cuối thế kỉ XIX khi nền
công nghiệp phát triển, sản xuất bằng máy móc đã lên đến mức độ tự động
hóa đạt năng suất cao trong xã hội, khi đó sức lao động của con người được
giải phóng, hàng loạt sản phẩm ra đời từ những quy trình công nghệ được xác
lập một cách chặt chẽ, chính xác và trước thực tế công nghiệp hóa nền sản
xuất đòi hỏi một nguồn lực sáng tạo có tư chất thông minh. Cả xã hội nói
chung và các nhà giáo dục học nói riêng bắt đầu đặt ra vấn đề: Có hay không
một quy trình dạy học kiểu như quy trình sản xuất? Bởi dạy học cũng là một
ngành sản xuất, hoạt động dạy học cũng là một hoạt động tạo ra sản phẩm
(sản phẩm tri thức).


năm 1913. Mối quan tâm của lí thuyết hành vi là kích thích => phản ứng.
Nội dung cụ thể như sau: Khi con người có kích thích sẽ có phản ứng.
Công thức của nó là: Kích thích S => phản ứng R.
Muốn tạo ra phản ứng R nào đó của con người thì phải tìm ra được các
kích thích S tương ứng tác động vào con người.Từ đó trong giáo dục đã cố
gắng đi tìm các kích thích S.
Đây là những thí nghiệm:

Qu¸ch Linh Trang

10

K32D - Ng÷ v¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Thí nghiệm của Páplôp nhà sinh vật người Nga. Thí nghiệm có tên là
“Chó tiết nước bọt’’
Nội dung của thí nghiệm như sau: Mỗi khi có thức ăn thì loài chó có
đặc điểm là tiết nước bọt. Khi thực hiện thí nghiệm này Páplôp đem thức ăn
cho chó ăn và bật đèn sáng (hoặc giật chuông reo lên). Ông quan sát thấy con
chó tiết nước bọt. Ông làm thí nghiệm lặp đi lặp lại rất nhiều lần để con chó
quen đi tạo nên phản xạ có điều kiện. Và đến một mức nào đó khi bật đèn
sáng (hoặc giật chuông reo) dù không có thức ăn thì chó vẫn tiết nước bọt.
Như vậy con người vẫn có thể tạo ra phản xạ theo ý của con người và
chính đèn (chuông) là kích thích tạo ra phản xạ.
Dựa trên thí nghiệm này của Páplôp, Skinơ người Mĩ đã phân tích và

theo hình số 8”
Nội dung của thí nghiệm như sau: Dựa trên đặc điểm của chim: Hai
chân chụm lại để nhảy. Ông đo các bước nhảy, đặt các hạt ăn theo hình số 8.
Lúc đầu con chim nhảy lăng xăng tìm hạt, nhặt được hạt nào thì ăn. Cứ
như thế con chim hoàn toàn có thể đi theo hình số 8 để nhặt hạt.
* Kết luận:
Đây là những công việc phức tạp, khó khăn nhưng nếu chia nhỏ đến
mức thao tác và giao cho con vật thì nó vẫn có thể thực hiện được. Và từ đây
xuất hiện ý tưởng công nghệ trong dạy học. Trong dạy học có thể chia nhỏ
quy trình thành từng bước một và giao cho người học hoàn thành từng việc
trong thời gian quy định. Từ đó có kiểu dạy học theo chương trình: Người học
học theo chương trình và đạt được kết quả như mong muốn. Quá trình dạy
học là chuyển tri thức vào mỗi người học, ta chia nhỏ quá trình dạy học này
thành các việc, các việc lại chia nhỏ nữa thành các thao tác như chương trình
đã quy định thì chắc chắn đơn vị kiến thức sẽ được chuyển vào trong người
học.
Thực chất đây là người học làm lại các việc mà các nhà khoa học đã
trải qua. Vì thế người học mang tư cách của nhà khoa học, nhưng người học
chỉ phát hiện lại, làm lại tri thức cho chính mình, chứ không phải tri thức cho
xã hội.
Có thể nói đây chính là bước ngoặt cho giáo dục nhưng nó lại vướng
phải một sai lầm cho rằng bản thân người học chỉ như một thử nghiệm trong
chương trình có trước, người học giống như một cái máy, không có vai trò gì,
hoàn toàn mất đi sự chủ động, tích cực và sáng tạo.

Qu¸ch Linh Trang

12

K32D - Ng÷ v¨n

năng lực của dân tộc và nhân loại thành tri thức và năng lực cho mỗi người
học.
Có thể hình dung quan niệm này theo công thức A => a

Qu¸ch Linh Trang

13

K32D - Ng÷ v¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

Trong đó A: Tri thức và năng lực nhân loại
a: Hình ảnh của A trong mỗi cá thể người học
=> Quá trình chuyển hóa
- Quan niệm về dạy học văn: Dạy học văn là chuyển tri thức và năng
lực văn của dân tộc và nhân loại trong các tác phẩm văn chương thành tri thức
và năng lực cho mỗi người học.
- Quan niệm về quy trình dạy học:
Quy trình là trình tự phải tuân theo để thực hiện một công việc nào đấy.
Trong dạy học thì quy trình dạy học phải được xác định từ A tức là từ tri thức
và năng lực của nhân loại. Quá trình chuyển này chính là tạo ra a. Trong mỗi
sản phẩm do lao động người làm ra bao giờ nó cũng kết tinh lại quy trình để
làm ra sản phẩm. Quy trình dạy học văn là con đường tổ chức cho học sinh
làm ra văn. Nói cách khác là tổ chức cho học sinh đi lại con đường mà nhà
văn đã làm ra tác phẩm nhưng theo chiều ngược lại.
Nhà văn đi từ hiện thực cuộc sống để xây dựng nên hình tượng nghệ

có, năng lực sẽ có và năng lực cần có. Thêm vào đó, vì quy trình này là do
học sinh tự làm nên quy trình phải cụ thể, cụ thể đến từng hoạt động, thao tác.
* Quy trình công nghệ dạy văn ở trung tâm công nghệ giáo dục
Giảng Võ
Trung tâm công nghệ giáo dục Giảng Võ đã tiến hành thực nghiệm quy
trình ở bậc Tiểu học qua 5 bước tương ứng với 5 lớp cụ thể:
Bước 1 (lớp 1): Đọc văn bản, giải mã ngôn từ.
Bước 2 (lớp 2): Đọc văn bản, sau đó hình dung, tưởng tượng để đạt tới
nhiệm vụ dựng lại hình tượng, đi tìm nội dung phản ánh trong văn bản.
Bước 3 (lớp 3): Đọc văn bản, hình dung tưởng tượng để phân tích hình
tượng.
Bước 4 (lớp 4): Đọc văn bản, hình dung tưởng tượng, phân tích hình
tượng để khái quát lên chủ đề.
Bước 5 (lớp 5): Đọc văn bản, hình dung tưởng tượng, phân tích hình
tượng để khái quát lên chủ đề để xác định tư tưởng của tác giả, nêu ý kiến
bản thân từ đó đi đến đánh giá giá trị của văn bản tác phẩm.
Mỗi chặng, mỗi bước được thao tác hóa, cụ thể hóa thành từng nhiệm
vụ, từng việc đến khái quát. Tuy nhiên quy trình này chỉ áp dụng ở bậc Tiểu
học nên còn tương đối đơn giản. Mục tiêu dạy văn ở bậc Tiểu học chỉ là xác
định tầng bậc văn bản bằng các thao tác cụ thể.
* Đánh giá quy trình dạy văn của trung tâm công nghệ Giảng Võ

Qu¸ch Linh Trang

15

K32D - Ng÷ v¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp


Qu¸ch Linh Trang

16

K32D - Ng÷ v¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

không được sáng tạo thêm những hình thức tổ chức dạy học. Quan điểm này
có phần cực đoan, tuyệt đối hóa giá trị của quy trình.
Tư tưởng công nghệ trong dạy học văn là tìm tác phẩm từ văn bản
nhưng văn bản theo trung tâm chỉ là văn bản ngôn từ. Mà hiện nay văn bản đó
phải được đọc - hiểu theo thể loại và phương thức biểu đạt. Muốn cho học
sinh chiếm lĩnh được văn bản thì phải đi từ phương thức biểu đạt của văn bản
(cách thức tạo ra sản phẩm văn bản).
Như vậy: Dạy học theo tinh thần công nghệ hóa sư phạm không phải
đơn thuần là đưa kỹ thuật thông tin hiện đại vào giờ dạy học mà cái chính là ý
tưởng chương trình hóa, điều khiển hóa được quy trình hoạt động học tập
nghiên cứu của học sinh bằng một hệ thống thao tác được thiết kế chặt chẽ và
hợp lí. Rõ ràng thành công của trung tâm công nghệ Giảng Võ đóng góp cho
việc dạy học văn theo hướng công nghệ ở Việt Nam chỉ thực sự có vai trò ở
bậcTiểu học và còn ở bậc THCS và THP thì việc xây dựng quy trình đòi hỏi
phức tạp hơn. Quy trình trong SGK hiện nay được biên soạn theo cấu trúc loại
thể và theo hướng tích hợp. Điều này buộc người giáo viên phải biết cách dạy
tích hợp các khoa học và lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp, hiệu
quả.

chẳng qua chỉ là từ hiện thực chuyển hóa vào và được cải tạo trong đầu con
người; toàn bộ tinh thần ý thức và năng lực trong mỗi con người là chuyển từ
bên ngoài vào trong. Đến Vưgôtxki ông đã phát triển: Nếu ý thức chuyển vào
trong đầu thì có thể đi tìm cách nào để chuyển ý thức vào một cách chủ động
hay không? Nói một cách ngắn gọn Vưgôtxki đi tìm cơ chế chuyển vào trong
như thế nào? Và nếu làm được cơ chế này sẽ có ý nghĩa vô cùng quan trọng
đối với giáo dục. Chính Galperin đã là người tìm ra cơ chế này.
Năm 1950 nhà tâm lý học Galperin sau khi làm nhiều thí nghiệm đã
phát hiện ra một điều là: Hoạt động bên ngoài của con người với đối tượng
trùng hợp một cách kì lạ với hoạt động tâm lý bên trong. Như vậy muốn có
hoạt động tâm lý bên trong của con người thì phải tổ chức hoạt động bên
ngoài tương ứng.
Galperin đã đi đến kết luận: Nếu như trong giáo dục mà tổ chức được
hoạt động với đối tượng để học sinh làm lại đối tượng ấy, thì chắc chắn nhận
thức đã được chuyển vào đầu học sinh. Vì thế trong hoạt động dạy học, phải
tổ chức được các hoạt động học tập cho người học. Tuy nhiên vấn đề đặt ra ở
đây là chuyển đối tượng thành hoạt động như thế nào? Đây chính là quy trình.
Quy trình này khác với lý thuyết hành vi ở chỗ người học trò chủ động làm ra

Qu¸ch Linh Trang

18

K32D - Ng÷ v¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr­êng §HSP Hµ Néi 2




Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

* Dự đoán: Trước khi hành động nhân vật nghĩ gì? Nếu ý nghĩ đó nói
ra thành lời thì nhân vật nói những gì? Ý nghĩ đó là hành động thì nó là việc
làm. Từ ý nghĩ và hành động có thể thấy ý nghĩa hành động.
* Giả định: Nhân vật trong tác phẩm tự sự thường có hành động, giả sử
nhân vật không có hành động sẽ thế nào?
*Đánh giá: Nhân vật là người như thế nào? Người đọc rút ra được bài
học gì từ nhân vật?
1.3.4. Chủ đề
Từ việc phân tích để hiểu hình tượng người học có thể liên tưởng một
điều gì đó: Một con người cụ thể có thể liên tưởng tới cả một thế hệ, một sự
kiện có thể thấy hình ảnh của cả một đất nước... Từ đó có thể tìm ra chủ đề vấn đề đặt ra trong tác phẩm. Từ chủ đề có thể tìm hiểu tư tưởng bài văn.
Như vậy, rõ ràng nắm được cấu trúc của văn bản văn học với các tầng
bậc: Tầng ngôn từ, thế giới hình tượng, tầng nội dung ý nghĩa và chủ đề đã
nêu ở trên là những cơ sở lý luận để thiết kế một quy trình chung cho hoạt
động đọc - hiểu văn bản, giúp học sinh hiểu sâu sắc giá trị nội dung tư tưởng
của tác phẩm cũng như thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm trong tác phẩm.
1.4. Vấn đề đọc - hiểu văn bản
Đổi mới phương pháp dạy học luôn luôn thôi thúc, đòi hỏi của ngành
giáo dục nói chung và môn Ngữ Văn nói riêng.
Ngày nay các nhà khoa học, các nhà giáo dục đã vận dụng những thành
tựu của khoa học liên ngành để cải tiến, từng bước nâng cao hiệu quả dạy học.
Sự ra đời của lý thuyết đọc - hiểu trên thế giới và sự xâm nhập lý thuyết đó
vào Việt Nam mấy năm gần đây đã ảnh hưởng nhiều đến phương pháp nghiên
cứu, giảng dạy tác phẩm văn chương trong nước. GS.TS Nguyễn Thanh

mt tp hp kớ hiu bng cỏch nhỡn vo kớ hiu
c tỏc phm vn hc l khõu u tiờn, tin trong vic tip nhn tỏc
phm, l mt bc quan trng trong tin trỡnh gii mó kớ t vn bn. Thụng
thng, tip nhn mt vn bn vn hc bng con ng c phi tri qua
cỏc bc nh: c thụng - c thuc vn bn, c k - c sõu vn bn, c
hiu - sỏng to vn bn v c ỏnh giỏ - c ng dng vn bn.
c l mt hot ng tip nhn thụng tin t vn bn. Th no l
hiu?
T in ting vit 2007 nh ngha: hiu l nhn ra ý ngha bn
cht, lý l ca cỏi gỡ, bng s vn dng trớ tu. Hiu l nhm phỏt hin v
nm vng mi liờn h vi s vt, hin tng, i tng no ú v ý ngha ca
mi quan h ú. Hiu l bao quỏt ni dung v cú th vn dng vo i sng.
Hiu tc l phi tr li c cỏc cõu hi: Cỏi gỡ? Nh th no? Ra sao? Vỡ
sao? Lm nh th no? ú l bit v lm trong hiu.
Hiu trong khỏi nim c - hiu phi gn vi vn bn. Vn bn l mt
tp hp ngụn ng mang ý ngha ,l cu trỳc tng bc ý tng ng vi nhng
n v ca vn bn khỏc nhau cú tớnh ch v tớnh liờn kt trn vn. Hiu l
quỏ trỡnh nhn thc vn bn ton vn.
Hiu l mc ớch ca hot ng c vn bn.

Quách Linh Trang

22

K32D - Ngữ văn


Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr­êng §HSP Hµ Néi 2


23

K32D - Ng÷ v¨n


Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr­êng §HSP Hµ Néi 2

căn cứ vào nội dung chương trình SGK, mục tiêu dạy học Ngữ văn. Mục tiêu
dạy học Ngữ văn hiện nay là hướng tới hình thành phát triển hai kỹ năng cơ
bản: Đọc - hiểu văn bản và tạo lập văn bản. Để thực hiện mục tiêu này
chương trình có sự thay đổi lớn đặc biệt là sự thay đổi theo quan điểm tích
hợp. Từ sự thay đổi theo quan điểm này ta có thể nhận thấy các phần học
trong chương trình Ngữ văn có sự tích hợp với nhau và có sự đồng hỗ trợ đối
với quá trình đọc - hiểu văn bản cho học sinh, giáo viên cũng có thể căn cứ
vào đó để xây dựng quy trình đọc - hiểu cho học sinh một cách khoa học, hợp
lí.
* Cụ thể
1.4.2.1. Phần tiếng việt
Trong dạy học Ngữ văn hiện nay thống nhất quan điểm coi văn học là
sản phẩm của sự giao tiếp. Do đó chương trình tiếng Việt đã cung cấp các
kiến thức liên quan đến hoạt động giao tiếp đó là những kiến thức về: Nhân tố
giao tiếp (Bài "Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ" lớp 10), ngữ cảnh (Bài
"Ngữ cảnh" lớp 11).
Để đọc - hiểu văn bản trước hết phải đặt văn bản vào trong ngữ cảnh
nhất định bao gồm: Ngữ cảnh rộng (toàn bộ bối cảnh xã hội, văn học, thời
đại...) và ngữ cảnh hẹp (thời điểm cụ thể, địa điểm cụ thể của cuộc giao tiếp,
các bên giao tiếp... với vị thế, thái độ, ý đồ giao tiếp).

+ "Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu", lớp 11...
Đây chính là những hướng dẫn chuẩn bị cho việc đọc - hiểu văn bản ở
mức độ câu chữ. Khi đọc văn bản người đọc sẽ sử dụng nhiều kiến thức mà
tiếng Việt cung cấp để hiểu được ý nghĩa câu chữ trong văn bản, từ nghĩa sự
việc đến nghĩa tình thái, từ nghĩa hiển ngôn đến nghĩa hàm ngôn, đến việc
hiểu được chủ đề trong đoạn văn (liên kết bề rộng ở mặt hình thức, liên kết bề
sâu ở mặt nội dung, chủ đề). Từ đó hỗ trợ đi đến nắm được nội dung, ý nghĩa
của văn bản đã học.
Đồng thời chương trình tiếng Việt cũng cung cấp cho học sinh kiến
thức về phong cách học thông qua bài: Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật,
lớp 10.
Điều này cũng sẽ hỗ trợ cho học sinh đọc - hiểu văn bản một cách tốt
hơn. Bởi làm việc với văn bản tức là làm việc trên câu chữ, câu chữ văn bản
văn học thuộc ngôn ngữ nghệ thuật, nó sẽ có những tính chất, đặc điểm riêng
so với các loại ngôn ngữ thuộc phong cách khác.

Qu¸ch Linh Trang

25

K32D - Ng÷ v¨n


Trích đoạn ĐỌC HIỂU NỘI DUNG VĂN BẢN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status