trường đại học sư phạm hà nội 2
khoa ngữ văn
**********
Bùi Thị Phương
Dạy đọc hiểu văn bản nghị luận
văn học hiện đại ở trường
Trung học phổ thông
khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Ngữ văn
Hà nội 05-2010
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp với đề tài: "Dạy đọc hiểu văn bản
nghị luận văn học hiện đại ở trường Trung học phổ thông", tác giả khóa luận
đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và chỉ bảo tận
tình của các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn và TS. Bùi
Minh Đức - người hướng dẫn trực tiếp.
Tác giả khoá luận xin được bày tỏ sự biết ơn và gửi lời cảm ơn trân
trọng tới các thầy cô.
Hà Nội, ngày 7 tháng 5 năm 2010
Tác giả khoá luận
Bùi Thị Phương
VB:
Văn bản
VBNL:
Văn bản nghị luận
VBNLHĐ:
Văn bản nghị luận hiện đại
VBNLVHHĐ:
Văn bản nghị luận văn học hiện đại
TPVH:
Tác phẩm văn học
THCS:
Trung học cơ sở
PTTH:
Phổ thông trung học
VD:
biến trong đời sống xã hội nói chung và mỗi cá nhân nói riêng. Vì vậy, yêu
cầu được đặt ra là phải nắm vững khái niệm cũng như đặc trưng của VBNL
để vận dụng đạt hiệu quả cao trong giao tiếp.
1.2. Khoa học dạy văn đã có các công trình nghiên cứu về VBNL, về
vấn đề đọc hiểu VBVH nhưng vẫn chưa đưa ra được quan điểm thống nhất về
đọc hiểu và quy trình dạy đọc hiểu VBVH đặc biệt VBNLVHHĐ. Đây là lí do
người viết mong muốn tiếp tục nghiên cứu để xây dựng và hoàn thiện quy
trình dạy đọc hiểu đó.
1.3. Trong chương trình SGK Ngữ văn THPT đổi mới lần này, số tiết
dành cho VBNL, đặc biệt là VBNLVHHĐ chiếm một số lượng đáng kể
(Bảng thống kê ở phần phụ lục). Trong khi đó, thực tiễn dạy đọc hiểu VBVH
đặc biệt là VBNLVHHĐ nhìn chung vẫn diễn ra một cách khô khan, cứng
nhắc, không thu hút, khơi dậy được sự hứng thú cũng như tính tích cực, sáng
tạo của HS. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nâng cao chất lượng các tiết học
VBNL (đặc biệt là VBNLVHHĐ) đặt ra cấp thiết. Đồng nghĩa với nó, chúng
ta cần quan tâm, chú trọng hơn nữa tới quy trình dạy đọc hiểu VBNL nói
chung và VBNLVHHĐ nói riêng.
1.4. Chương trình SGK Ngữ văn mới được biên soạn theo trục thể loại.
Cùng với nó là quan niệm mới mẻ về vấn đề dạy đọc hiểu văn học. Chính
thực tế này đặt ra yêu cầu cần phải đổi mới về phương pháp dạy đọc hiểu
VBNL nói chung và VBNLVHHĐ nói riêng. Do vậy, việc xây dựng một quy
trình đọc hiểu về VBNL đặc biệt là VBNLVHHĐ theo hướng đổi mới là cần
thiết.
1.5. Là người GV Ngữ văn trong tương lai nên bản thân người viết
cũng mong muốn có một vốn kiến thức lí luận cũng như kĩ năng nhất định,
thiết thực để phục vụ cho giảng dạy VBNL (đặc biệt là VBNLVHHĐ) sau
này.
Vì tất cả các lí do trên, người viết quyết định chọn đề tài khoá luận tốt
cho rằng đọc hiểu văn chương là hoạt động thu nhận kiến thức, bản chất của
nó là đọc để tạo ra nguồn nhận thức và nhận thức.
PGS.TS Nguyễn Thái Hoà trong bài viết Vấn đề đọc hiểu và dạy đọc
hiểu trên Diễn đàn văn học đã đưa ra quan niệm đọc hiểu là phương pháp dạy
học đồng thời tác giả còn đề xuất phương pháp dạy đọc hiểu và nội dung dạy
đọc hiểu.
TS.Nguyễn Trọng Hoàn với bài viết Đọc hiểu văn bản Ngữ văn ở
THCS đã đưa ra quan điểm về đọc hiểu trong dạy học tích hợp Ngữ văn ở
THCS. Theo quan điểm này, tác giả bài viết cho rằng đọc hiểu VB là hoạt
động có tính chất đầu mối của một quy trình dạy học tích hợp Ngữ văn hướng
tới sự phát triển đồng bộ.
Có thể nói, với các bài viết như vậy, các nhà nghiên cứu đã đề xuất
được các quan niệm khác nhau về đọc hiểu và khẳng định tầm quan trọng của
đọc hiểu trong việc dạy học hiện nay. Đó là cơ sở để người viết xây dựng quy
trình dạy đọc hiểu VBNL nói chung và VBNLVHHĐ nói riêng.
2.3. Vấn đề dạy văn bản nghị luận ở trường Trung học phổ thông
Trong cuốn Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, tác giả
Trần Thanh Đạm đã đưa ra khái niệm và các đặc trưng của văn chính luận
đồng thời đề xuất các yêu cầu về nội dung bài giảng văn chính luận. Bên cạnh
đó, tác giả còn đưa ra một số điểm lưu ý khi giảng bài nghị luận về văn học.
Đó là khi dạy bài nghị luận văn học không chỉ cung cấp kiến thức mà còn
phải bồi dưỡng khả năng cảm thụ văn học và rèn luyện kĩ năng làm bài văn
nghị luận văn học cho HS.
Th.S Trần Đình Chung trong công trình nghiên cứu Dạy văn bản Ngữ
văn theo phương thức biểu đạt đã xây dựng một chương riêng về phương
pháp dạy học VBNL trong SGK Ngữ văn THCS. Trong chương này, Th.S
Trần Đình Chung đã đưa ra các đặc trưng của VBNL đồng thời định hướng
việc dạy các VBNL dân gian, trung đại, hiện đại. Đặc biệt, Th.S Trần Đình
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
+ Phương pháp hệ thống hoá lí thuyết
+ Phương pháp phân tích
+ Phương pháp so sánh
- Phương pháp thực nghiệm
7. Đóng góp của khoá luận
7.1. Lí luận
Khoá luận góp phần hoàn thiện hệ thống lí luận dạy học VBNLVHHĐ
trong trường THPT.
7.2. Thực tiễn
Khoá luận đóng góp vào giải quyết những khó khăn mà thực tiễn dạy
học VBNLVHHĐ trong nhà trường đang gặp phải.
8. Bố cục
Ngoài phần tài liệu tham khảo, phụ lục, bố cục của khoá luận gồm:
- Mở đầu
- Nội dung: Gồm 3 chương:
+ Chương 1: Văn bản và văn bản nghị luận
+ Chương 2: Quy trình dạy đọc hiểu văn bản nghị luận văn học hiện đại
ở trường Trung học phổ thông
+ Chương 3: Thực nghiệm dạy đọc hiểu văn bản nghị luận văn học hiện
đại ở trường Trung học phổ thông
- Kết luận
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
VĂN BẢN VÀ VĂN BẢN NGHỊ LUẬN
1.1. Văn bản và văn bản văn học
trình độ của người đọc. Chính vì vậy, bao nhiêu độc giả đọc VBVH thì sẽ có
bấy nhiêu cách hiểu.
Tóm lại: VBVH mang đầy đủ đặc điểm của một VB thông thường
nhưng nó còn có những đặc trưng riêng. Vì vậy, nó là dạng VB đặc biệt, độc
đáo.
1.1.4. Phân biệt văn bản văn học và tác phẩm văn học
1.1.4.1. Khái niệm tác phẩm văn học
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả khẳng định: “TPVH là
công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hoặc tập thể sáng tạo, nhằm
thể hiện những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người, biểu hiện
tâm tư, tình cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại”.[5; 290]. Theo khái niệm
này, các tác giả đã đưa ra các đặc trưng của TPVH với chất liệu đặc thù là
ngôn từ, phương thức biểu hiện đời sống đặc thù là hình tượng nghệ thuật.
1.1.4.2. Phân biệt văn bản văn học và tác phẩm văn học
Nếu VBVH chỉ là hệ thống các kí hiệu ngôn ngữ cố định, những con
chữ vô hồn trên trang giấy thì TPVH là kết quả tiếp nhận của độc giả, và là
cái vô hình tồn tại trong thế giới tinh thần của người đọc. TPVH là phần tinh
thần, cái không thể nhìn thấy được bằng thị giác mà phải là sự tổng hợp của
của mọi giác quan, có khi lấy cả hồn mình ra để cảm nhận. VBVH chỉ trở
thành TPVH khi có người đọc nó.
1.2. Văn bản nghị luận
1.2.1. Khái niệm
Văn nghị luận là thể văn ra đời từ rất lâu. Ở Trung Hoa, sự ra đời của
văn nghị luận được đánh dấu bởi những cuốn Kinh Thi, Luận ngữ... Ở nước
ta, văn nghị luận đã xuất hiện trong dòng văn học dân gian dưới hình thức
những câu tục ngữ của nhân dân lao động.
Xoay quanh khái niệm VBNL tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau.
Trong cuốn Từ điển bách khoa của Mĩ, các tác giả đã khẳng định văn nghị
được tình cảm yêu nước, căm thù giặc sâu sắc của tác giả Trần Quốc Tuấn.
Với Đại cáo bình Ngô - áng thiên cổ hùng văn của dân tộc Việt Nam,
quan điểm nhân nghĩa cũng được Nguyễn Trãi thể hiện một cách trực tiếp:
"... Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo..."
"... Đem đại nghĩa để thắng hung tàn
Lấy trí nhân để thay cường bạo..."
Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, tác giả Hoài Thanh cũng trực tiếp thể
hiện quan điểm, nhận định riêng, độc đáo của mình về cái tôi của thời đại Thơ
mới: "... Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một
thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện
cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư,
hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như
Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên... và thiết tha,
rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu...".
Có thể nói, người viết phát biểu một cách trực tiếp quan điểm, thái độ,
tư tưởng về một vấn đề nào đó là đặc trưng đầu tiên của văn nghị luận.
1.2.2.2. Văn nghị luận thuyết phục người đọc bằng hệ thống luận điểm,
luận cứ xác đáng, tin cậy và bằng cách lập luận chặt chẽ, hùng hồn
a. Luận điểm trong văn bản nghị luận
Luận điểm là tư tưởng, quan điểm của người viết đối với vấn đề cơ bản
đặt ra trong bài văn cần phải làm sáng tỏ để thuyết phục người đọc, người
nghe, thường được thể hiện dưới hình thức những câu văn ngắn gọn với
những phán đoán có tính chất khẳng định hoặc phủ định.
Luận điểm phải được diễn đạt sáng rõ, dễ hiểu nhất quán trong một
hoặc hai câu văn khẳng định hoặc phủ định. Giá trị của luận điểm thể hiện ở
tính đúng đắn, chân thật, phù hợp với thực tiễn.
Luận điểm có vai trò giường cột trong VBNL, để hiểu rõ hơn điều này
Từ sự phân tích trên, cấp độ của một VBNL được mô hình hoá như sau:
Luận đề
Luận điểm
Luận cứ
Lí lẽ
Dẫn chứng
Tuy nhiên, không phải cứ VBNL nào có luận điểm cũng là VBNL hay
mà điều quan trọng quyết định một VBNL hay là các luận điểm phải độc đáo,
mới mẻ, sâu sắc. Nếu chỉ dừng lại ở những luận điểm cũ đã quen thuộc thì sẽ
không tránh khỏi sự nhàm chán, đơn điệu. Do vậy, yêu cầu đặt ra với các luận
điểm trong VBNL phải là các ý hay. Mà ý hay được hiểu trước hết là những ý
đúng, ý sâu, rồi tiếp đó phải là những ý mới, ý riêng, tập trung làm nổi bật
luận đề. Đồng thời, nó phải có cơ sở đạo lí và khoa học vững chắc, có sức
thuyết phục với người đọc, người nghe.
VD: Luận điểm mở rộng trong bài viết Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao
sáng trong văn nghệ của dân tộc của Phạm Văn Đồng: "Trên trời có những
vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú
nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình
Chiểu cũng vậy.” Có thể nói, đây là một ý hay, độc đáo trong bài viết này.
VBNL còn có luận điểm chính và luận điểm phụ. Trong đó, luận điểm
chính thường được dùng làm kết luận của VB, là cái đích mà nghệ thuật lập
luận dẫn dắt người đọc đạt tới. Còn luận điểm phụ thường được dùng làm
Pháp ở Việt Nam. Cách dùng từ như vậy rất chính xác vừa có tác dụng liên
kết vừa nhấn mạnh được nội dung thông báo.
VBNL tác động chủ yếu đến lí trí của người đọc bằng hệ thống lập luận
nhưng không vì thế mà bỏ qua yếu tố ngôn ngữ gợi cảm, giàu hình ảnh,
những yếu tố trữ tình tác động vào tình cảm của người đọc, người nghe. Bởi
lẽ, việc sử dụng yếu tố ngôn ngữ gợi cảm, giàu hình ảnh đem lại hiệu quả
thuyết phục cao. Có thể nói, trong VBNL việc sử dụng ngôn ngữ vừa chính
xác vừa gợi cảm đã tác động cả vào lí trí và tình cảm của người đọc nên sức
thuyết phục của VBNL tăng lên gấp đôi.
VD: Trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh, khi tố cáo tội ác của
thực dân Pháp, tác giả không chỉ dùng từ ngữ lập luận chính xác mà còn sử
dụng ngôn từ giàu hình ảnh, có sức gợi cảm cao, tác động mạnh mẽ vào trái
tim độc giả. Do vậy, sức tố cáo tội ác của bọn thực dân Pháp mạnh mẽ, quyết
liệt hơn: "Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của chúng ta trong bể máu"
"Chúng bóc lột dân ta đến xương tuỷ"
c. Câu văn
Xuất phát từ hai đặc trưng trên của VBNL nên câu văn trong VBNL ít
dùng loại câu mô tả, trần thuật, kể lể sự việc như trong văn miêu tả, văn kể
chuyện mà chủ yếu là câu khẳng định hoặc phủ định với nội dung hầu hết là
các phán đoán, nhận xét, đánh giá sâu sắc, chắc chắn.
VD: Trong bài tiểu luận Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đã viết:
"Nhưng ta trách gì Xuân Diệu, Xuân Diệu nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất
cho thời đại, chỉ nói cái khổ sở, thảm hại nhất của hết thảy chúng ta."
"... Đó, tất cả bi kịch đương diễn ra ngấm ngầm dưới những phù hiệu
dễ dãi trong hồn người thanh niên."
Những câu văn đó là những lời phán đoán, nhận xét nhưng cũng rất độc
đáo, riêng biệt của Hoài Thanh về bi kịch của cái "tôi" trong thời đại Thơ
mới.
1.2.3. Phân loại văn bản nghị luận
Dựa trên các tiêu chí khác nhau sẽ có những cách phân chia VBNL
khác nhau.
- Dựa trên tiêu chí loại hình văn học và giai đoạn văn học, chia VBNL
làm 3 loại: VBNL dân gian (tục ngữ); VBNL trung đại (cáo, biểu, chiếu,
hịch...); VBNL hiện đại (tuyên ngôn, phê bình văn học...)
- Dựa trên tiêu chí nội dung, đề tài chia VBNL thành 2 loại: VBNL văn
học và VBNL xã hội.
1.2.4. Văn bản nghị luận văn học hiện đại
1.2.4.1. Khái niệm
VBNLVHHĐ là VBNL mang đầy đủ các đặc trưng của VBNL như đã
phân tích ở trên. Tuy nhiên, đây là những sáng tác nghị luận từ đầu thế kỉ XX
đến nay, được khoanh vùng trong mảng nội dung, đề tài cụ thể là các vấn đề
về văn học.
1.2.4.2. Đặc trưng của văn bản nghị luận văn học hiện đại
a. Văn bản nghị luận văn học hiện đại phong phú về đối tượng nghị
luận và đa dạng về cách thức lập luận
Trong VBNLVHHĐ, người ta có thể nghị luận về các vấn đề của văn
học như: tác gia văn học, tác phẩm văn học, khuynh hướng văn học, trào lưu
văn học...
VD: Nghị luận về tác phẩm văn học: Chó, sói và cừu trong thơ ngụ
ngôn La Phôngten (SGK Ngữ văn 9)...
Nghị luận về tác gia văn học: Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng
trong văn nghệ của dân tộc (Phạm Văn Đồng); Thương tiếc nhà văn
Nguyên Hồng (Nguyễn Đăng Mạnh)...
Nghị luận về trào lưu văn học: Một thời đại trong thi ca (Hoài
Thanh)...
Nghị luận về văn học nghệ thuật: Ý nghĩa văn chương (Hoài Thanh),
bình độc đáo, sắc sảo với lời văn giàu tính phân tích, tổng hợp, so sánh...
Tóm lại: VBNLVHHĐ bên cạnh những đặc điểm chung của VBNL còn
có đặc trưng riêng. Những đặc trưng này là cơ sở định hướng cho người viết
xây dựng quy trình dạy đọc hiểu VBNLVHHĐ.
1.2.4.3. Thống kê các văn bản nghị luận văn học hiện đại trong
chương
trình sách giáo khoa Ngữ văn Trung học phổ thông