PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cán bộ quản lý giáo dục giữ một vai trò to lớn và hết sức quan trọng
trong sự nghiệp phát triển giáo dục; làm cho mọi hoạt động của nhà trường đi
vào kỷ cương, nền nếp, ổn định, góp phần thắng lợi sự nghiệp nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Hiện nay, nước ta đang
tiến hành sự nghiệp đổi mới và phát triển giáo dục, hội nhập kinh tế quốc tế,
đòi hỏi CBQLGD phải đổi mới tư duy, biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa kinh
nghiệm thực tiễn với việc vận dụng sáng tạo tri thức hiện đại vào công tác
quản lý ở đơn vị nhằm đào tạo những học sinh tự chủ, năng động, sáng tạo
đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, đưa nền giáo dục nước ta ngang tầm với
nền giáo dục của khu vực và thế giới.
Quan điểm xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta luôn khẳng định tầm
quan trọng của đội ngũ CBQLGD nói chung, CBQL trường THPT nói riêng
trong việc điều hành một hệ thống giáo dục đang ngày càng mở rộng và phát
triển. Đặc biệt là hiện nay, ngành giáo dục đang tiếp tục thực hiện đổi mới
giáo dục phổ thông thì vai trò và trách nhiệm của CBQLGD nói chung,
CBQL trường THPT nói riêng lại càng quan trọng. Chính vì vậy, Ban Bí thư
Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm
2004 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD,
trong đó nêu rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một
trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn nhân lực con người. Đây là
trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng”. [1, tr.1]
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: “Đổi
mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện
2
Trong những năm qua, giáo dục trung học phổ thông tỉnh Vĩnh Long có
những bước phát triển đáng kể cả về quy mô và chất lượng. Bên cạnh những
thành tựu đạt được, giáo dục THPT tỉnh Vĩnh Long vẫn còn một số hạn chế:
chất lượng giáo dục đại trà còn thấp, cơ sở vật chất, kỹ thuật trường học còn
thiếu; trình độ chuyên môn của đội ngũ chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo
dục phổ thông, hiệu quả quản lý ở các trường THPT trong Tỉnh chưa cao,...
Một trong những nguyên nhân quan trọng của những hạn chế trên là: trình độ
chuyên môn, tính chuyên nghiệp (năng lực quản lý) của CBQL các trường
THPT chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của GD&ĐT. Vì thế cần có những giải
pháp bồi dưỡng có hiệu quả nhằm nâng cao năng lực quản lý cho CBQL các
trường THPT, góp phần giải quyết những bất cập trên.
Với mục đích nâng cao năng lực quản lý cho CBQL các trường THPT
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long và với công việc được phân công phụ trách,
chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “Một số giải pháp đổi mới công tác bồi
dưỡng cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Vĩnh Long giai
đoạn 2012-2020 ”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp đổi
mới công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý cho CBQL trường THPT
tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2012-2020.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác bồi dưỡng CBQL trường THPT giai đoạn hiện nay.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp đổi mới công tác bồi dưỡng CBQL trường THPT tỉnh
Vĩnh Long giai đoạn 2012-2020.
4
của CBQL trường THPT.
- Bổ sung một số lý luận mới về công tác quản lý giáo dục giúp CBQL
trường THPT thực hiện công tác quản lý có chất lượng, hiệu quả hơn.
7.2. Thực tiễn
- Phát hiện một số khó khăn, một số hạn chế phải giải quyết trong công
tác quản lý của CBQL các trường THPT tỉnh Vĩnh Long.
- Đề ra một số giải pháp đổi mới công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực
quản lý cho CBQL các trường THPT tỉnh Vĩnh Long.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc bồi dưỡng CBQL trường THPT.
Chương 2: Thực trạng công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý
cho CBQL các trường THPT tỉnh Vĩnh Long.
Chương 3. Một số giải pháp đổi mới công tác bồi dưỡng CBQL trường
THPT tỉnh Vĩnh Long giai đoạn 2012-2020.
6
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC BỒI DƯỠNG CBQL TRƯỜNG THPT
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội
của lao động. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động.
Chính sự phân công, hợp tác trong lao động đòi hỏi phải có người chỉ huy,
điều hành, kiểm tra, chỉnh lý nhằm nâng cao hiệu quả và năng suất trong lao
động. Đây là hoạt động giúp người đứng đầu đơn vị phối hợp có hiệu quả
hoạt động của các thành viên trong đơn vị, trong nhóm, trong cộng đồng thực
hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị đã đề ra.
văn tốt nghiệp cao học. Hy vọng kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần
vào việc đổi mới công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý cho CBQL
các trường THPT trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Cán bộ
Cán bộ là một khái niệm được du nhập từ Trung Quốc và được dùng
phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Ở Trung Quốc, từ cán bộ để
chỉ chung những nhân viên, công chức để phân biệt với những nhân viên tạp
vụ, binh lính, công nhân, lãnh đạo các đoàn thể. Dần dần, từ cán bộ dùng để
chỉ tất cả những người hoạt động kháng chiến thoát ly, để phân biệt với nhân
dân.
Trong từ điển Nhật - Việt, từ cán bộ cũng được dùng để chỉ lãnh đạo
của các đoàn thể. Hiện nay ở Nhật, từ cán bộ phần lớn được dùng trong quân
đội để chỉ những người đóng vai trò bộ khung, còn để chỉ công chức hay viên
chức người ta dùng từ quan liêu, theo nghĩa phổ biến là những người làm việc
trong bộ máy nhà nước. Nghĩa của từ cán bộ ở Nhật trung thành nhiều hơn
với từ gốc mà nó được dịch ra (Cadre). Trong tiếng Anh cũng như trong tiếng
8
Pháp, từ này có nghĩa là người nòng cốt, những người chỉ huy trong quân đội,
trong một tổ chức làm thành một nòng cốt.
Ở nước ta, theo cách hiểu thông thường, trước đây: Cán bộ được coi là
tất cả những người thoát ly, làm việc trong bộ máy chính quyền, đảng, đoàn
thể, quân đội. Trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi như những người
có mức lương cán sự một.
Trong Từ điển tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa là:
- Người làm công tác nghiệp vụ, chuyên môn trong cơ quan, nhà nước,
đảng và đoàn thể;
mạnh CNH-HĐH đất nước. Xét về loại hình có thể phân thành: Cán bộ đảng
và đoàn thể; Cán bộ nhà nước; Cán bộ kinh tế và quản lý kinh tế; khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, xã hội; Cán bộ lực lượng vũ trang.
Từ trước, để cho đơn giản, người ta đã xếp nhóm cán bộ khoa học - kỹ
thuật, văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, xã hội…(thường gọi là cán bộ trong
các đơn vị sự nghiệp) vào cùng với cán bộ hành chính nhà nước, gọi chung là
cán bộ hành chính sự nghiệp. Cũng có cách phân loại cán bộ theo “chiều
dọc”, nghĩa là theo thành phần cốt yếu cấu trúc tạo nên đội ngũ cán bộ ở từng
loại tổ chức. Việc phân loại này sẽ giúp cho từng tổ chức thấy rõ hơn những
yêu cầu chất lượng của cán bộ. Chẳng hạn như, trong hệ thống đảng thì có
đảng viên và cán bộ. Cán bộ trong hệ thống này là tất cả những người được
bầu vào cấp ủy từ chi ủy đến BCHTW. Trong đó có: Loại không hưởng lương
theo ngân sách; hưởng lương theo ngân sách (được xác định là cán bộ, công
chức); một bộ phận là chuyên gia công tác Đảng và các lĩnh vực; cán bộ quản
lý (các Vụ trưởng, Trưởng ban, Phó ban, Viện trưởng, Tổng biên tập,…); cán
bộ lãnh đạo.
Nước ta khi bước vào thời kỳ mới vừa đẩy mạnh CNH-HĐH vừa xây
dựng và hoàn chỉnh nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa tiến hành xây
dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, không thể không hoàn
10
chỉnh chính sách để có một đội ngũ cán bộ có chất lượng đồng bộ, phù hợp
với những yêu cầu mới đang đặt ra.
- Khoản 1 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định rõ như
sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân
trong các tổ chức quốc gia. Họ là nhóm lãnh đạo tầm vĩ mô. Thế giới gọi đây
là nhóm lãnh đạo chính trị quốc gia. Ở nước ta nhóm lãnh đạo chính trị ở tầm
quốc gia này còn gọi là lãnh đạo cấp cao, chủ chốt.
Khái niệm cán bộ quản lý và cán bộ lãnh đạo là hai khái niệm gắn liền
với nhau, đều được hiểu là những người có chức vụ, có trách nhiệm điều hành
và cầm đầu trong một tổ chức. Cả hai đều có vai trò định hướng, điều khiển
hoạt động của bộ máy và là chủ thể ra quyết định điều khiển hoạt động của
một tổ chức. Người cán bộ lãnh đạo phải thực hiện chức năng lãnh đạo, đồng
thời cũng phải thực hiện chức năng của người quản lý. Tuy nhiên hai khái
niệm trên không hoàn toàn đồng nhất với nhau.
- Quản lý bao gồm việc tổ chức các nguồn lực, việc kế hoạch hóa, việc
tạo ra các hoạt động để đạt mục tiêu phát triển.
- Lãnh đạo ngoài việc tổ chức hoạt động còn là việc làm thế nào để tập
hợp được lực lượng tiến hành hoạt động có hiệu quả.
Như vậy, trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định hướng
cho khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đường lối, chủ trương, chính sách.
Còn hoạt động quản lý mang tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết
chế có tính pháp lệnh được quy định trước.
1.2.3. Cán bộ quản lý giáo dục và cán bộ quản lý trường học
12
CBQLGD là những người có chức vụ, có vai trò và cương vị nòng cốt
trong một tổ chức thuộc hệ thống giáo dục. Người CBQLGD là người có
trách nhiệm phân bổ nhân lực và các nguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của
một bộ máy hay toàn bộ tổ chức giáo dục, để tổ chức hoạt động có hiệu quả
và đạt đến mục đích.
CBQL trường học là những người đứng đầu nhà trường (hiệu trưởng và
phó hiệu trưởng) của các nhà trường ở tất cả các cấp học, bậc học trong hệ
gồm đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại.
- Mục đích của bồi dưỡng là nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực
chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở mang nâng cao chất
lượng và hiệu quả công việc đang làm.
- Bồi dưỡng thực chất là quá trình bổ sung tri thức, kĩ năng nhằm nâng
cao trình độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó mà người ta đã có
một trình độ chuyên môn nhất định. Bồi dưỡng được coi là quá trình cập nhật
hóa kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc văn hóa hoặc bổ túc nghề
nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố những kĩ năng về chuyên môn hay nghiệp
vụ sư phạm theo các chuyên đề. Đối với GV và CBQLGD, hoạt động bồi
dưỡng nhằm tạo điều kiện cho người GV và CBQLGD có cơ hội củng cố và
mở rộng một cách có hệ thống những tri thức, kĩ năng chuyên môn và nghiệp
vụ sư phạm hoặc QLGD sẵn có để lao động nghề nghiệp một cách có hiệu
quả hơn; mặt khác cũng qua bồi dưỡng người học biết chọn lọc, tiếp thu phát
huy các mặt mạnh, khắc phục bổ sung những mặt còn hạn chế, bồi dưỡng kịp
thời, động viên họ làm việc tự giác với tinh thần trách nhiệm đạt hiệu suất
cao.
- Bồi dưỡng mang ý nghĩ thường xuyên và liên tục, đồng thời cũng
mang ý nghĩa nâng cao năng lực cá nhân đối với công việc.
14
Như vậy có thể khái quát, bồi dưỡng được xác định: “Là quá trình cập
nhật, bổ sung kiến thức, thái độ để nâng cao trình độ, năng lực phẩm chất của
người lao động về một lĩnh vực nhất định nào đó trong quá trình hoạt động”.
Bồi dưỡng thường diễn ra sau đào tạo, nghĩa là sau khi người lao động
đã có một nghề về một lĩnh vực chuyên môn để có thể lập nghiệp.
Luật cán bộ, công chức năm 2008 nêu: Bồi dưỡng là hoạt động trang
bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kĩ năng làm việc. Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn
Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã
hội cũng như trong tư duy. Bất kỳ sinh vật nào cũng luôn luôn tự đổi mới để
thích nghi với những sự thay đổi của môi trường sống. Đối với xã hội, đổi
mới là một phản ứng mang tính tự nhiên của xã hội để bảo đảm sự thích nghi
của nó trước những biến đổi môi trường tự nhiên, môi trường quốc tế, để
thích ứng với tình thế. Đổi mới là quá trình vận động tự nhiên của mọi hiện
tượng xã hội.
Ngay từ năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng khái niệm “Đổi
mới” trong sự vận dụng cụ thể vào đổi mới đất nước. Người viết: “Công cuộc
đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”. Khi nhấn mạnh sự cần thiết phải
không ngừng đổi mới nhận thức để phản ánh đúng tình hình thế giới, tình
hình trong nước vốn không ngừng biến đổi, ngày 21/7/1956, nói chuyện tại
lớp nghiên cứu chính trị khóa I, Trường Đại học Nhân dân Việt Nam, Bác
dặn: “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận
với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi.
Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta
phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”. Đổi mới, theo Chủ tịch Hồ
Chí Minh, còn là để thắng sức ỳ của thói quen, của tập quán cũ. Dù đó là việc
khó khăn, nhưng chẳng có việc gì là không thể đổi mới.
16
Đổi mới còn là cách để thay đổi một phương thức sống, tạo lập một
phương thức sống mới, đáp ứng nhu cầu của sự phát triển. Về vấn đề này,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Khi trước nhà nào lo làm nhà nấy, làm thế
nào cũng được. Nhưng bây giờ không phải như thế. Bây giờ mình phải đổi
mới nông thôn”.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đổi mới và phát triển là những khái niệm
rất gần gũi, đôi khi được hiểu như nhau. Trong Báo cáo tại Hội nghị chính trị
Đứng trước yêu cầu mới mà Đảng và Nhà nước giao phó, Ngành
GD&ĐT cần phải đổi mới công tác bồi dưỡng đội ngũ những người làm giáo
dục, đặc biệt là đối với đội ngũ CBQLGD để đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn
mới.
Về cơ bản đội ngũ CBQLGD trường THPT phải đạt đủ 3 tiêu chuẩn, 23
tiêu chí trong yêu cầu của Bộ GD&ĐT về Chuẩn hiệu trưởng trường trung
học. Để đạt được các tiêu chuẩn, tiêu chí nói trên, đội ngũ này phải được tham
dự các kỳ bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý, nghiệp vụ chuyên môn cùng các
nghiệp vụ công tác khác (công tác xã hội, an ninh quốc phòng, phòng chống
tệ nạn xã hội...).
1.2.9. Giải pháp
Theo Từ điển Tiếng Việt, giải pháp là: “Phương pháp giải quyết một
vấn đề cụ thể nào đó”. Như vậy nói đến giải pháp là nói đến những cách thức
tác động nhằm thay đổi, chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng
thái nhất định…, tựu trung lại, nhằm đạt được mục đích hoạt động. Giải pháp
càng thích hợp, càng tối ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết
những vấn đề đặt ra. Tuy nhiên, để có được những giải pháp như vậy, cần
phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn đáng tin cậy.
1.2.10. Giải pháp đổi mới công tác bồi dưỡng CBQL trường THPT
Để đổi mới công tác bồi dưỡng CBQL trường THPT, thực hiện thắng
lợi chiến lược phát triển Giáo dục 2011 - 2020 và Kết luận số 51-KL/TW về
18
Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” ngày 29/10/2012 của Ban Chấp hành Trung
ương (Khóa XI) và góp phần biến Chỉ thị 40-CT/TU của Ban Bí thư ngày
15/6/2004 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và
đúng đắn hơn về bồi dưỡng đội ngũ CBQLGD; phải có những đầu tư cụ thể
hơn cả về lực lượng tham gia giảng dạy CBQLGD cũng như cơ sở vật chất và
môi trường tham gia GD&ĐT. Cụ thể:
- Bồi dưỡng đội ngũ CBQLGD phải được tiến hành một cách đồng bộ,
khoa học, cơ bản và hệ thống theo hướng dẫn chung (chương trình của Bộ
GD&ĐT). Những người được xét bổ nhiệm làm CBQL các nhà trường nhất
thiết phải được đào tạo và phải có chứng chỉ (bằng) hành nghề. Ở thời điểm
hiện nay, thời điểm mà khoa học quản lý, nghề quản lý đang được xã hội tôn
vinh, không thể chọn CBQL nhà trường theo kiểu “bó đũa chọn cột cờ”, “đến
hẹn lại lên” và càng không thể làm CBQL nhà trường nếu chỉ mò mẫm, dựa
trên kinh nhiệm, thiếu cơ sở lý luận, thiếu cơ sở khoa học…
- Chương trình đào tạo CBQL của các trường bồi dưỡng CBQLGD cần
được thiết kế chính quy nhưng mềm dẻo, giảm kiến thức hàn lâm, tăng cường
thảo luận, giao lưu, cập nhật thông tin và nghiên cứu thực tế, hiện tại Bộ
GD&ĐT đã ban hành và áp dụng thí điểm chương trình bồi dưỡng CBQLGD
các cấp, theo Quyết định số 382/QĐ-BGD&ĐT ngày 20/01/2012.
- Quản lý là một nghề, muốn thành thạo nghề thì phải được đào tạo, bồi
dưỡng. Về lý thuyết nếu một người lần đầu đi học nghề phải được gọi là “đào
tạo nghề”, sau khi được đào tạo nếu được đi học thêm tùy tính chất, nội dung
của chương trình khóa học sẽ được gọi là “đào tạo lại” hoặc “bồi dưỡng”...
- Cần tăng cường tổ chức nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ
về QLGD như :
20
+ Xây dựng cơ chế ưu tiên tổ chức triển khai các hoạt động nghiên cứu
khoa học QLGD tại địa phương ; tăng cường áp dụng khoa học công nghệ tiên
tiến trong QLGD và bồi dưỡng CBQLGD.
+ Thường xuyên tổ chức Hội thảo về khoa học QLGD trên quy mô lớn,
vào chương trình bồi dưỡng các nội dung mới về đường lối, chính sách giáo
dục, các chuyên đề nâng cao năng lực quản lý chuyên môn, quản lý nhân sự,
quản lý tài chính và công tác giáo dục toàn diện học sinh.
Thực tế trong thời gian qua, việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho
CBQL trường THPT được chú trọng thực hiện và đạt được một số kết quả
như: Chương trình bồi dưỡng hiệu trưởng trường phổ thông theo hình thức
liên kết Việt Nam – Singapore; bồi dưỡng quản trị hiệu quả trường học của
Dự án Hỗ trợ Đổi mới Quản lý Giáo dục (SREM); bồi dưỡng nâng cao năng
lực quản lý tài chính, tài sản trong trường học; bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý
trường học,…
1.3.1. Mục tiêu
Bồi dưỡng CBQL trường THPT nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng; chủ trương,
chính sách của Nhà nước và của ngành; nâng cao năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ theo hướng cập nhật, hiện đại hóa phù hợp với thực tiễn phát triển
giáo dục Việt Nam để đáp ứng các yêu cầu đổi mới về mục tiêu, nội dung,
phương pháp giáo dục cho CBQLGD.
1.3.2. Nội dung
- Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh;
các nghị quyết của Đảng, Quốc hội, các văn bản về đường lối chính sách của
Nhà nước và chủ trương của ngành; nhiệm vụ và kế hoạch GD&ĐT năm học
mới; tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở địa phương, trong nước và quốc tế.
22
- Các vấn đề về chuyên môn, nghiệp vụ, theo hướng cập nhật hóa, hiện
đại hóa tri thức bộ môn và đổi mới phương pháp giảng dạy.
- Kinh nghiệm hoạt động giáo dục, kinh nghiệm dạy học, các phương
pháp dạy học mới; các biện pháp cần thiết để đổi mới phương thức đào tạo,
phương pháp dạy học.
hóa; tốc độ phát triển nhanh của công nghệ thông tin; kinh tế thị trường, kinh
tế tri thức và vấn đề dân tộc, quốc gia thì nguồn nhân lực mà GD&ĐT tạo ra
cần phải có khả năng đáp ứng những yêu cầu của thời đại. Nhà trường và
quản lý nhà trường ở thế kỉ 21 đòi hỏi những kiến thức, kĩ năng và phẩm chất
đạo đức mới ở người CBQLGD.
Hiện nay trình độ và năng lực của đội ngũ CBQLGD chưa ngang tầm
với yêu cầu nhiệm vụ, tính chuyên nghiệp chưa cao; nhận thức về nội dung và
phương pháp quản lý nhà nước, quản lý chuyên môn nghiệp vụ GD&ĐT còn
hạn chế. Đa số CBQLGD chưa được đào tạo có hệ thống về quản lý, làm việc
dựa vào kinh nghiệm cá nhân, tính chuyên nghiệp thấp. Năng lực điều hành,
quản lý của một bộ phận CBQLGD còn bất cập trong công tác tham mưu, xây
dựng chính sách, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và thực thi công vụ. Kiến thức về
pháp luật, về tổ chức bộ máy, về quản lý nhân sự, nhất là về quản lý tài chính
còn nhiều hạn chế dẫn đến lúng túng trong thực thi trách nhiệm và thẩm
quyền, đặc biệt khi được nhà nước phân quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Phần lớn CBQLGD còn bị hạn chế về trình độ ngoại ngữ, kĩ năng sử dụng và
ứng dụng công nghệ thông tin.
Từ những nguyên nhân chủ quan và khách quan nêu trên thì việc đổi
mới công tác bồi dưỡng để nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ CBQL
trường THPT đáp ứng yêu cầu của thời đại là cần thiết.
24
1.4.2. Nội dung, phương pháp đổi mới công tác bồi dưỡng CBQL
trường THPT tỉnh Vĩnh Long, giai đoạn 2012-2020
Thực hiện Chiến lược phát triển GD&ĐT 2011-2020, trong đó đổi mới
QLGD là khâu đột phá, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo các cơ sở bồi dưỡng
CBQLGD, các địa phương chú trọng công tác bồi dưỡng CBQLGD. Đặc biệt,
là một số chương trình quan trọng được triển khai gần đây như: Bồi dưỡng
- Nhóm nhân tố khách quan: Đó là những yếu tố bên ngoài tác động
vào việc đổi mới công tác bồi dưỡng cho CBQL trường THPT.
- Chủ trương của Đảng, Nhà nước và Ngành về đổi mới công tác bồi
dưỡng nhằm nâng cao năng lực đội ngũ CBQL trường THPT như: Chỉ thị 40CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất
lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục; Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của
Đảng về phát triển GD&ĐT; Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 ban
hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;
Chương trình hành động của ngành giáo dục thực hiện chiến lược phát triển
giáo dục Việt Nam 2012-2020, Kết luận số 51-KL/TW ngày 29/10/2012 của
Hội nghị lần thứ 6 BCHTW Đảng khóa XI và Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày
22/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT
ban hành kèm theo Quyết định số 1215/QĐ-BGDĐT ngày 04/4/2013 của Bộ
trưởng Bộ GD&ĐT,… Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện
công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực cho CBQL trường THPT.
- Các điều kiện phục vụ cho việc đổi mới công tác bồi dưỡng CBQL
trường THPT bao gồm: cơ sở vật chất, tài chính, chế độ chính sách, môi
trường xã hội,…là điều kiện quan trọng giúp cho việc đổi mới công tác bồi
dưỡng CBQL trường THPT đạt hiệu quả.