Lễ hội văn hoá việt nam và lễ hội đền thượng ở thành phố lào cai tỉnh lào cai - Pdf 31

Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nôị 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
*************

VŨ THANH THỦY

LỄ HỘI TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM
VÀ LỄ HỘI ĐỀN THƯỢNG Ở THÀNH
PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học

HÀ NỘI - 2010

Vũ Thanh Thuỷ

1

K32G - Việt Nam học


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nôị 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam,
khoa Ngữ văn. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy, cô, đặc biệt là
thầy giáo ThS. Vũ Văn Ký - người hướng dẫn trực tiếp đã tận tình giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện và hoàn thiện khoá luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2010
Tác giả khóa luận

Vũ Thanh Thủy

Vũ Thanh Thuỷ

3

K32G - Việt Nam học


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nôị 2

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi đã trình bày trong khoá luận
này là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ
Văn Ký.
Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các
tác giả khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong
khoá luận này.


Thạc Sĩ

3

NXB

Nhà xuất bản

4



Quyết định

5



Nghị định

6

QC

Quy chế

7

CP

5. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 4
6. Đóng góp của khoá luận ....................................................................... 4
7. Bố cục của khoá luận............................................................................ 4
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỄ HỘI..... 5
1.1. Khái niệm lễ hội ............................................................................... 5
1.2. Nội dung chính của lễ hội ................................................................ 7
1.3. Đặc trưng của lễ hội ........................................................................ 10
1.3.1. Lễ hội - Nhu cầu thiết yếu trong đời sống của người dân Việt .. 10
1.3.2. Lễ hội mang hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng và tạo nên
tính cộng đồng.......................................................................................... 12
1.3.3. Lễ hội là hình ảnh thu hẹp của văn hóa dân gian ...................... 13
1.4. Một số chính sách của Đảng và Nhà nước với việc tổ chức và quản
lý lễ hội .................................................................................................... 14
CHƯƠNG 2: LỄ HỘI ĐỀN THƯỢNG- THÀNH PHỐ LÀO CAI .... 17
2.1. Khái quát chung về thành phố Lào Cai ......................................... 17
2.2. Lễ hội Đền Thượng- Thành phố Lào Cai ...................................... 20
2.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển Đền Thượng ......................... 20
2.2.2. Cấu trúc khu di tích Đền Thượng ............................................. 21
2.2.3. Lai lịch nhân vật được thờ ...................................................... 24
2.2.4. Diễn trình lễ hội ...................................................................... 26

Vũ Thanh Thuỷ

6

K32G - Việt Nam học


Khoá luận tốt nghiệp

Vũ Thanh Thuỷ

7

K32G - Việt Nam học


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nôị 2

Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử của quá trình dựng nước và giữ
nước hàng nghìn năm, lịch sử của các cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại và
những chiến công hào hùng oanh liệt, đồng thời cũng là lịch sử hàng ngàn
năm văn hiến. Quá trình lịch sử lâu dài ấy của dân tộc đã để lại cho chúng ta
ngày nay một kho tàng văn hoá dân gian phong phú và đa dạng. Trong kho
tàng ấy, lễ hội là nơi thể hiện rõ nhất những giá trị văn hoá của dân tộc. Các
hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian được giữ gìn, bảo lưu và phát triển với
rất nhiều phong tục tập quán, những trò chơi dân gian thể hiện bản sắc văn
hoá của người Việt. Đến với Việt Nam ở bất kỳ vùng miền nào của Tổ quốc
cũng đều thấy sự xuất hiện và tồn tại của các lễ hội cổ truyền, từ những hội
làng của vùng đồng bằng Bắc Bộ đến những lễ hội của vùng văn hoá dân tộc
thiểu số: lễ hội xuống đồng, lễ hội cầu mùa, lễ hội mừng năm mới.
Từ xa xưa, lễ hội đã trở thành một sinh hoạt văn hoá quen thuộc đối với
nhiều người Việt Nam và cho đến nay, lễ hội cổ truyền vẫn tồn tại như nó
vốn có. Lễ hội luôn là sinh hoạt văn hóa thiêng liêng, luôn là một nhu cầu của
mỗi người dân, vì vậy nó có sức sống mạnh mẽ qua hàng ngàn năm lịch sử.
Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hoá cộng đồng tất yếu nảy sinh đáp ứng
nhu cầu giao lưu, hưởng thụ văn hoá cũng như đáp ứng nhu cầu của đời sống
tâm linh.

nhân dân. Hiện nay, nghiên cứu về lễ hội nói chung và lễ hội Đền Thượng nói
riêng có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Tác giả Nguyễn Trọng Báu trong cuốn “Truyện kể về phong tục các
dân tộc Việt Nam”, NXB Giáo Dục, 2007, đề cập tới vấn đề nội dung chính
của lễ hội. Tác giả viết:“Biểu hiện mặt tâm linh của con người, một cách thể
hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phần này trong cấu trúc lễ
hội gọi là phần lễ. Lễ hội còn là sinh hoạt văn hoá dân gian của cộng đồng
làng xã, hay lớn hơn là liên làng, liên xã, tổng và cộng đồng của toàn vùng,
của cả nước. Phần sinh hoạt này trong cấu trúc lễ hội gọi là phần hội” [1,
tr.158].
Tác giả Lê Trung Vũ trong cuốn “Lễ hội cổ truyền’’, NXB Khoa học
xã hội, 1992, đã đưa ra những trang viết về thời gian ra đời của lễ hội. Tác giả
viết: “Mặc dù bị đô hộ, người Việt giữ lại và phát triển các thần thoại, truyền
thuyết, lịch sử có ý nghĩa củng cố bản lĩnh dân tộc” [17, tr.50-51].
Trong cuốn sách “Lễ hội cổ truyền Lào Cai”, NXB Văn hoá dân tộc
1999, tác giả Trần Hữu Sơn nghiên cứu loại hình lễ hội ở Lào Cai với 3 loại
hình chính: lễ hội dân gian truyền thống, lễ hội đương đại kết hợp với truyền
thống và lễ hội tôn giáo. Tác giả cũng giới thiệu đến bạn đọc về những lễ hội
tiêu biểu được tổ chức trên toàn tỉnh Lào Cai: Lễ hội Gàu Tào của đồng bào

Vũ Thanh Thuỷ

9

K32G - Việt Nam học


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nôị 2

10

K32G - Việt Nam học


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nôị 2

Trên cơ sở tìm hiểu về khu di tích Đền Thượng, lễ hội Đền Thượng các
giá trị do lễ hội mang lại, cùng với việc tìm hiểu công tác tổ chức lễ hội, thấy
được nét đặc sắc của lễ hội Đền Thượng.
Từ thực trạng lễ hội đưa ra các giải pháp cơ bản nhằm phát triển lễ hội
đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Lễ hội Đền Thượng
* Phạm vi nghiên cứu: Do khuôn khổ hạn chế, đề tài chỉ tập trung nghiên
cứu di tích Đền Thượng, lễ hội Đền Thượng, các giá trị của lễ hội Đền
Thượng trên điạ bàn phường Lào Cai, thuộc thành phố Lào Cai.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
Phương pháp khảo sát thống kê.
Phương pháp duy vật lịch sử.
Phương pháp điền dã.
6. Đóng góp của khoá luận
Đề tài góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết văn hoá lễ hội đặc sắc
của tỉnh Lào Cai nói riêng và của cả nước nói chung.
Đề xuất giải pháp phát triển lễ hội Đền Thượng. Từ đó quảng bá hình
ảnh lễ hội Đền Thượng tới bạn bè trong nước và quốc tế.
7. Bố cục của khoá luận

gian, chúng ta nói tới phong tục, các lễ hội cổ truyền hết sức đa dạng và
phong phú. ở mỗi dân tộc, lễ hội có kiểu tồn tại và biểu hiện bản sắc văn hóa
riêng.
Từ bao đời nay trong đời sống tinh thần và tâm linh người Việt, lễ hội
là nơi thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” sâu sắc. Dù ở phương
trời nào, người Việt Nam luôn hướng tới điểm tựa văn hoá tinh thần, nhớ tới
ngày hội của quê hương mình, hướng về vùng đất cội nguồn yêu thương. Các
lễ hội cổ truyền có lịch sử phát triển lâu đời, có những lễ hội có nguồn gốc từ
xa xưa, từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc, đáng chú ý là lễ hội về những
danh nhân lịch sử, các anh hùng có công dựng nước và giữ nước từ thời khai
sơn lập địa của các vua Hùng. Từ lịch sử hình thành, mục đích, nghi thức lễ,
không gian, thời gian lễ hội cho đến những nhu cầu tâm linh đều được thể
hiện rõ nét trong lễ hội.
Khái niệm lễ hội ở Việt Nam xuất hiện khoảng chục năm trở lại đây.
Trước đó chỉ có khái niệm “lễ” hoặc “hội” thêm chữ lễ cho hội thời nay muốn

Vũ Thanh Thuỷ

12

K32G - Việt Nam học


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nôị 2

gắn hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng này với ít nhất hai yếu tố, cũng là
hai đặc trưng đi liền với nhau: trước là tế lễ, sau là vui chơi.
Theo “Từ điển Tiếng Việt”, “lễ” là những nghi thức tiến hành nhằm

K32G - Việt Nam học


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nôị 2

1.2. Nội dung chính của lễ hội
Lễ hội nước ta phong phú và đa dạng. Theo thống kê của các nhà
nghiên cứu văn hoá dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội lớn nhỏ trải rộng
khắp đất nước. Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng góp phần tạo
nên màu sắc văn hoá đặc sắc, tổng hoà của 54 dân tộc.
Lễ hội là cách gọi của dân gian và cũng là cách gọi của những nhà văn
hoá, dù hiểu và gọi theo cách nào thì thuật ngữ này cũng biểu hiện hai mặt nội
dung chính: phần lễ và phần hội.
*Phần lễ:
Trong mỗi lễ hội, phần lễ là những nghi thức bắt buộc, mang tính chất
trang nghiêm, trọng thể mở đầu ngày hội. Lễ bao gồm một hệ thống các hành
vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người đối với vị thần mà
mình thờ phụng. Nhân dân dâng lên vị thần sản phẩm mà mình làm ra với
lòng kính trọng và biết ơn về sự bảo trợ của thần cho dân làng.
Các nghi lễ của lễ biểu hiện mặt tâm linh của con người, đồng thời
cũng phản ánh những ước mơ tốt đẹp của cộng đồng, toát lên sự cầu mong
thần linh phù hộ độ trì giúp con người được yên ổn, thịnh vượng. Họ mong vị
thần giúp đỡ cho dân làng được khoẻ mạnh, mùa màng bội thu, cây trái tốt
tươi, vật nuôi không bị dịch bệnh.
*Phần hội:
Hội là một phần không thể thiếu trong lễ hội, đó là cuộc chơi tưng
bừng, hào hứng của mọi người trong cộng đồng với tâm thế thoát khỏi đời
thường và trạng thái phấn khởi trước cuộc sống thực ở thôn làng.

không trở thành một lễ hội hoàn chỉnh. Trong một lễ hội nếu phần lễ là phần
“đạo” mà ở đó con người thoát ly khỏi những bụi trần để đi vào cõi tâm linh,
con người trở nên thánh thiên hơn, nhân hậu hơn, trung thực hơn thì phần hội
lại là phần “đời”, là khát vọng của mỗi thành viên trong cộng đồng muốn
vươn tới những điều tốt đẹp, cao cả.
Hai yếu tố lễ và hội luôn tồn tại hai mặt song song cùng nhau, chúng có
mối quan hệ qua lại tác động lẫn nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau tạo ra sự thu
hút và phấn khích với mỗi người đến dự. Khi đến với lễ hội, con người được
đến với một không gian thiêng mà ở đó mỗi người tạm quên đi những cái tầm
thường để hướng tới những cái đẹp, cái thiện. Người dự hội cũng được tham
gia vào những trò chơi dân gian mang tính chất cộng đồng, để sau đó họ lại
trở về với cuộc sống thường ngày và bắt đầu một chu kỳ sản xuất mới.
Trong lễ hội, phần lễ bao giờ cũng có trước và có ý nghĩa thiêng liêng,
quan trọng, chứa đựng những giá trị văn hoá truyền thống, giá trị thẩm mỹ và

Vũ Thanh Thuỷ

15

K32G - Việt Nam học


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nôị 2

giá trị triết học sâu sắc. Nó là “hạt nhân” của lễ hội và là phần hấp dẫn, lôi
cuốn chính yếu đối với du khách. Phần hội mặc dù cũng hàm chứa yếu tố văn
hoá truyền thống , nhưng phạm vi nội dung phần hội không khuôn cứng mà
rất linh hoạt, luôn được bổ sung những yếu tố văn hoá mới. Lễ hội nào về cấu

Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nôị 2

ngưỡng vọng đối với các lực lượng thần thánh siêu nhiên. Bởi vậy lễ hội
mang đậm tính nhân văn, là động lực sức sống của con người.
1.3. Đặc trưng của lễ hội
1.3.1. Lễ hội - nhu cầu thiết yếu trong đời sống sinh hoạt của người dân
Việt Nam xưa và nay
Như đã nói, lễ hội là bảo tàng sống về văn hóa và sinh hoạt của cộng
đồng, là nơi phản ánh đời sống tinh thần, phong tục tập quán của nhân dân ta
dưới nhiều hình thức. Sở dĩ lễ hội có thể tồn tại và phát triển cho đến ngày
nay chính vì nó là nhu cầu không thể thiếu trong tâm thức của mỗi người dân
Việt Nam và đến chừng nào lễ hội vẫn còn đáp ứng được nhiều nhu cầu của
người dân thì nó vẫn còn có lý do để tồn tại và phát triển. Phổ biến trong các
nghi lễ và phong tục dân tộc là lễ hội phồn thực, giao duyên, xuất phát từ
quan niệm điều hòa âm dương. Các lễ hội còn gắn với chu kỳ sản xuất, tái
hiện các sinh hoạt kinh tế tiền nông nghiệp và các hoạt động sản xuất nông
nghiệp. Các trò diễn tái hiện lại lịch sử của cộng đồng, qua đó phản ánh sinh
hoạt ngày thường của người dân lúa nước. Chủ thể đích thực trong lễ hội là
những người nông dân lúa nước, văn hoá dân gian là nơi gửi gắm những ước
muốn của họ và họ mở hội chính là việc lập lại sự cân bằng trong quan hệ
giữa người với người, với tự nhiên và thần linh.
Đạo lý truyền thống của người Việt Nam từ bao đời nay là “uống nước
nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, điều này đã trở thành tâm thức dân
gian của dân tộc. Quan niệm dân gian: “Lễ hội được tổ chức trước hết là sự
bày tỏ lòng biết ơn của nhân dân đối với các thần linh đã có công phù trợ, cứu
giúp họ trong cuộc sống. Cũng trong lễ hội, nhân dân, con cháu tưởng nhớ, tạ
ơn tổ tiên đã có công lao to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, nhân
đó hướng tới tổ tiên, cội nguồn giống nòi. Đó là lễ hội dân gian tưởng nhớ, kỷ

thể hiện quốc thái dân an. Thông qua lễ hội, con người dường như được giao
cảm với thế giới siêu nhân, đó là các vị tổ tiên, thần linh, thành hoàng.. do
nhân dân sáng tạo ra và cầu mong các vị bảo trợ, che chở cho vận mệnh của
mình. Chính nhờ có lễ hội mà các anh hùng sống mãi trong lòng con cháu bây
giờ và mai sau. Lễ hội chính là tấm gương phản chiếu văn hoá dân tộc. Sự
phản chiếu đó thông qua các nghi lễ, trò diễn thống nhất xung quanh một biểu
hiện là các vị thần thờ, lắng đọng trong lễ và hội là tín ngưỡng bản địa của
người dân được gửi gắm các nhân vật thờ. Các nghi lễ, lễ thức trong lễ hội
đều toát lên một niềm tin chung là cầu mong hạnh phúc và giải phóng con
người.

Vũ Thanh Thuỷ

18

K32G - Việt Nam học


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nôị 2

1.3.2. Lễ hội mang hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng tạo nên tính
cộng đồng
Lễ hội là cuộc vui lớn của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, tín
ngưỡng, thi thố tài năng, biểu dương sức mạnh, tái hiện cuộc sống của con
người trong trường kỳ lịch sử. Hầu như làng Việt nào cũng có lễ hội riêng của
mình, các lễ hội vùng thường có nguồn gốc từ lễ hội làng, do lễ hội làng phát
triển lên. Đình, đền, miếu là các thiết chế văn hoá cổ truyền gắn bó lâu đời với
làng Việt, là nơi diễn ra những sinh hoạt văn hoá, sinh hoạt tín ngưỡng cộng


Ngoài ra, đến với lễ hội, họ còn cảm thấy gì đó thuộc về thế giới tâm
linh, đó là cái may, cái phúc, cái lộc. Hội mang lại niềm vui và hi vọng, ai ai
cũng chung mối quan hệ cộng cảm để thoát tục, để gần với thần thánh hơn.
Mối cộng cảm còn được thể hiện trong bữa ăn chung của cả ngày hội ngay
giữa sân đình linh thiêng, mọi người quây quần bên những chén rượu, những
mâm cỗ. Đó không chỉ là bữa ăn thông thường mà còn là bữa ăn tinh thần,
bữa tiệc của tình người, tình đoàn kết gắn bó keo sơn. Ngày hội với sự tấp nập
đông vui khiến cho người già, trẻ, gái trai, vui tươi phấn khởi trong không
gian văn hóa độc đáo. Qua đó họ cũng hiểu thêm về truyền thống lịch sử, văn
hóa lâu đời của đất nước và con người từng vùng miền trên quê hương đất
nước.
Vì thế, lễ hội là sự kết hợp uyển chuyển giữa cái linh thiêng với cái đời
thường, cuốn hút các cá nhân hoà nhập vào cộng đồng, tăng cường sự đoàn
kết , gắn bó hòa đồng giữa những người dân làng. Bằng cách đó, lễ hội là một
trong những cơ sở củng cố tình cảm gắn bó cộng đồng làng xã. Phải nói rằng
tính cộng đồng trong lẽ hội là sợi dây liên kết mọi người với nhau. Do vậy trải
qua bao thăng trầm của lịch sử, lễ hội vẫn trường tồn từ đời nay sang đời
khác.
1.3.3. Lễ hội là hình ảnh thu hẹp của văn hoá dân gian
Theo tiến trình lịch sử, nền văn hoá Việt Nam được lưu truyền và phát
triển trên cơ tầng của các hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian. Nền văn hoá
dân gian theo nhận thức của chúng ta mang tính tổng hợp và đặc trưng cho
bản sắc, truyền thống của văn hoá dân tộc, trong đó hàm chứa một loại hình
sinh hoạt văn hoá dân gian tiêu biểu: lễ hội cổ truyền. Có thể nói rằng, lễ hội
là hình ảnh thu hẹp của văn hoá dân gian bởi nó hàm chứa nhiều dạng thức
của sinh hoạt văn hoá dân gian như: phong tục, nghệ thuật diễn xướng dân
gian, nghệ thuật tạo hình dân gian.

Vũ Thanh Thuỷ

Tóm lại, nét đặc sắc của lễ hội dân gian truyền thống Việt Nam vừa
phản ánh một cách sinh động và rõ nét bản sắc văn hoá với những nét đặc
trưng cơ bản nhất là thể hiện nhu cầu tâm linh, phản ánh tính cộng đồng, tinh
thần thượng võ của dân tộc trong các sinh hoạt văn hoá dân gian. Vì thế, lễ
hội tạo nên sự phong phú sự phong phú nền văn hoá truyền thống làm cho văn
hoá Việt Nam ngày càng đa dạng, độc đáo, mang bản sắc riêng, trường tồn
cùng thời gian.

Vũ Thanh Thuỷ

21

K32G - Việt Nam học


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nôị 2

1.4. Một số chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc quản lý tổ chức
lễ hội
Quản lý lễ hội được xem là việc nghiên cứu xây dựng, củng cố hoàn
thiện hệ thống chính sách và luật pháp có liên quan với các can thiệp bằng hệ
thống cơ bản của các cơ quan hữu quan nhằm các mục tiêu phù hợp với
đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời đảm bảo lợi ích văn
hoá của cộng đồng và quốc gia dân tộc. Quản lý xã hội nhằm đáp ứng các nhu
cầu phát triển, nhằm tôn vinh và phát triển các giá trị vốn có trong lễ hội dân
gian cổ truyền lên một tầm vóc mới phù hợp với các nhu cầu văn hoá, kinh tế
xã hội của cộng đồng.
Lễ hội ở Việt Nam đã hình thành và phát triển từ lâu đời và duy trì cho

+ Giáo dục truyền thống của dân tộc về lịch sử văn hóa trong sự nghiệp
dựng nước và giữ nước của dân tộc.
+ Tưởng nhớ công đức của các danh nhân lịch sử văn hoá những người
có công với dân với nước (nhân thần).
+ Tìm hiểu thưởng ngoạn các giá trị văn hoá thông qua các di tích lịch
sử văn hoá, các danh lam thắng cảnh, các công trình kiến trúc nghệ thuật, giữ
gìn phát huy vốn văn hóa truyền thống và phong tục tập quán tốt đẹp của dân
tộc.
Đồng thời quy chế này cũng nghiêm cấm lợi dụng lễ hội để thực hiện
các hoạt động phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan.
Quy chế lễ hội này cũng quy định việc tổ chức, thực hiện lễ hội và quy
định trong việc tổ chức thực hiện quy chế lễ hội.
* Quyết định số 39/2001/ QĐ - BVHTT của bộ trưởng Bộ văn hóa
thông tin ngày 23 tháng 8 năm 2001 về việc ban hành quy chế lễ hội ban hành
kèm theo quy chế tổ chức lễ hội. Trong quy chế này đã nêu ra đối tượng điều
chỉnh của quy chế, mục đích tổ chức lễ hội, việc quản lý và tổ chức lễ hội, ,
trong đó quy định việc quản lý và tổ chức đối với các loaị hình lễ hội.
* Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hóa công
cộng ban hành 18 tháng 1 năm 2006, kèm theo quyết định số 11/2006/NĐCP của Chính phủ trong đó có những quy định về việc tổ chức lễ hội.
Các văn bản pháp lý của Nhà nước góp phần đảm bảo cho lễ hội được
tổ chức đúng với quy chế và đáp ứng nhu cầu của nhân dân, đồng thời để các
lễ hội được diễn ra lành mạnh, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội.

Vũ Thanh Thuỷ

23

K32G - Việt Nam học



sông Hồng, các cây cầu Cốc Lếu, Phố Mới bắc qua sông nối hai phần của
thành phố.

Vũ Thanh Thuỷ

24

K32G - Việt Nam học


Khoá luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nôị 2

Về dân tộc:
Thành phố Lào Cai có nhiều anh em dân tộc sinh sống: Việt, H’Mông,
Tày, Thái, mỗi dân tộc có vốn văn hóa truyền thống phong phú đa dạng. Cùng
với xu thế giao lưu và hội nhập, các dân tộc Lào Cai luôn chú trọng giữ gìn và
bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
Về giao thông:
Thành phố Lào Cai là một thành phố trong số ít thành phố của các tỉnh
miền núi có mạng lưới giao thông vận tải đa dạng bao gồm đường bộ, đường
sắt, đường không, giai đoạn 2006-2010 triển khai dự án sân bay Lào Cai.
Đường sắt Hà Nội - Lào Cai dài 296 km, đoạn qua Lào Cai dài 62 km được
nối với đường sắt Trung Quốc. Mạng lưới giao thông đường bộ phân bố rộng
khắp trên địa bàn thành phố với quốc lộ 4D nối thành phố với các huyện bên
cạnh là Mường Khương, Bát Xát, Sapa, với tỉnh Lai Châu và với quốc lộ 32
đảm bảo giao thông thuận lợi.
Về kinh tế xã hội:
Thành phố Lào Cai là thành phố nằm ở biên giới duy nhất của nước ta


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status