Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong tiểu thuyết ngàn cánh hạc của yasuanary kawabata - Pdf 31

Trường đại học sư phạm hà nội 2
Khoa ngữ văn

Vũ thị liên

Nghệ thuật miêu tả tâm lí
nhân vật trong tiểu thuyết
ngàn cánh hạc của
yasuanary kawabata
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên nghành: Văn học nước ngoài

Người hướng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Thị Bích Dung

Hà Nội - 2009


Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện, người lm khoá luận đã được sự giúp đỡ, chỉ
bảo tận tình của các thầy cô trong khoa, trong tổ, đặc biệt là sự hướng dẫn
nhiệt tình của Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Dung. Vì vậy, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc tới các thầy, cô, đặc biệt là cô Nguyễn Thị Bích Dung người đã
hướng dẫn tôi hoàn thành đề tài này .
Là một sinh viên lần đầu nghiên cứu khoa học, hơn nữa do điều kiện thời
gian có hạn, cùng hạn chế về năng lực , sự tìm tòi, người viết không tránh
khỏi những thiếu sót. Kính mong sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy
cô và bạn đọc .
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà nội , Ngày 10, tháng 5 , năm 2009
Sinh viên thực hiện


1.2. Lý do sư phạm

2

2. Lịch sử vấn đề

2

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cớu

4

4. Mục đích nghiên cứu

4

5. Phương pháp nghiên cứu

5

6. Cấu trúc khoá luận

5

Nội dung

6

Chương 1. Nghệ thuật miêu tả tâm lý các nhân vật nữ trong tiểu thuyết


12

1.2.2.

25

Nghệ thuật miêu tả tâm lý các nhân vật nữ trong tiểu thuyết
Ngàn cánh hạc của Y.KAWABATA

1.2.2.1. Bà Ôta_ Linh hồn trà đạo, linh hồn của tiểu thuyết

17

1.2.2.2. Fumiko_ Thiếu nữ thâm trầm, sâu sắc

22

1.2.2.3. Chikako Kurimoto_ Người đàn bà cai nghiệt

28

1.2.2.4. Yukiko Inamura- Với hình ảnh biểu tượng chiếc khăn thêu

33


hình ngàn cách hạc
Chương 2. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật Nam trong tiểu thuyết



55


mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Lí do khoa học
Hơn bảy thập kỉ đã trôi qua một thời gian đủ làm xóa mờ nhiền tên
tuổi, điều còn lại là tài năng. Thế kỉ XX sản sinh ra cho đất nước có ngọn núi
Phú Sĩ (Fuji) sừng sững nhiều tài năng lớn về văn chương: Mori Ogai (18621992); Mishima Yukiô (1925-1970) ; Oe Kenzaburô Nhưng để nói về thế kỉ
XX phải nói về Y.Kawabata. Bởi chính Y.Kawabata làm cho thế giới mãi mãi
nhận ra nước Nhật như nhận ra nước ý ở Đantê, nước Anh ở William
Shakespeare, nước Nga ở Puskin và nước Đức ở Goethe. Tác phẩm của Y.
Kawabata là sự tái sinh của vẻ đẹp bị lãng quên từ thời Heian, giữa nền công
nghiệp phồn thịnh của nước Nhật hiện đại. Dù viết về con người, thiên nhiên,
tình yêu ở đâu ta cũng thấy dạt dào một vẻ đẹp rất Nhật Bản đất nước vốn
được coi là xứ sở của những cái đẹp tinh tế, Y.Kawabata muốn khơi dậy tất cả
những vẻ đẹp trinh nguyên ấy trong sự xuống dốc của thuần phong mĩ tục
trong xã hội đang phát triển với tiêu chí học hỏi phương Tây, đuổi kịp
phương Tây.
Năm 1968, giải Nobel văn học cao quí được trao cho Y. Kawabata với
ba tiểu thuyết nổi tiếng: Xứ tuyết(1947), "Ngàn cánh hạc(1951), Cô đô
(1962). Ông được trân trọng giống như một người đi cứu rỗi cái Đẹp, nhưng
cái Đẹp đó được tái sinh từ bút pháp sáng tác lớn , một kiểu sáng tác lớn, kiểu
sáng tác lãng mạn mà nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật chính là một khía
cạnh làm nên sự thành công cho bút pháp sáng tác của Y. Kawabata. Bút pháp
nghệ thuật được sử dụng trong các sáng tác của Y. Kawabata từ lâu vẫn được
xem là đề tài mới mẻ . Đó vẫn là mảnh đất văn học hấp dẫn với những người
say mê văn chương đến với dòng văn học của xứ sở hoa anh đào, tuyết trắng,



Tạp chí văn học nước ngoài số 16 (9/ 1991): Tôi cho rằng nên xếp
Y.Kawabata vaò dòng văn chương mà ta có thể dò đến tận bậc thầy Haikư
của thế kỉ XVII (E.G.Sheidensticker).
Tạp chí văn học nước ngoài số 4(1999) có bài của N.T Phêđôrencô
khái quát về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Y. Kawabata.
Tạp chí văn học số 51 ,52 (2/1996) trong bài truyện ngắn trong lòng
bàn tay, Nhật Chiêu nói thêm về thi pháp Chân không của Y.Kawabata.
Tạp chí văn học số 9 (1999) có bài của Lưu Đức Trung bàn về thi pháp
tiểu thuyết của Y.Kawabata_ Nhà văn lớn của Nhật Bản. Bài viết nêu rõ thi
pháp nổi bật và đặc trưng trong sáng tác củaY.Kawabata là thi pháp Chân
không.
Tạp chí nghiên cứu văn học (2/2002) Nhật Chiêu viết về thế giới Y.
Kawabata trong tác phẩm của ông.
Tạp chí nghiên cưú văn học số 7 (2005) có bài : Y. Kawabata giữa
dòng chảy Đông _Tây của Đào Thị Thu Hằng, đã nghiên cứu ảnh hưởng
của văn hóa phương Tây đối với nhà văn Y.Kawabata. Tuy nhiên,vẫn tác giả
ấy lại có kết luận : Văn hóa phương Đông vẫn là gốc rễ trong tư tưởng của
nhà văn này.
Gần đây Khương Việt Hà với bài viết Mĩ học Y. Kawabata trong tạp
chí văn học số 6 (2006) cũng bày tỏ quan điểm về cái Đẹp của Y. Kawabata,
và nguồn gốc hình thành những quan điểm đó.
Phần lớn chúng tôi có trong tay tài liệu của các nhà nghiên cứu, phê
bình. Vấn đề mà họ đưa ra nhìn chung rất phong phú, đa dạng, có rất nhiều
cách tiếp cận khác nhau. Do tính phức tạp của vấn đề, lịch sử nghiên cứu về
Y.Kawabata đã có nhiều bài viết có giá trị cao. Kế thừa và góp phần vào việc
nghiên cứu Y.Kawabata, khóa luận của chúng tôi đề cập đến vấn đề : Nghệ
thuật miêu tả tâm lí nhân vật trong tiểu thuyết Ngàn cánh hạc của Y.
Kawabata. Vấn đề này còn chưa được quan tâm thỏa đáng mà chỉ đụng
chạm đến ở cấp độ khái quát . Và để hoàn chỉnh được khóa luận này thì ý kiến

lực mở cánh cửa khám phá tài năng văn chương bậc thầy và những đóng góp
của ông cho nền văn học Nhật bản và thế giới.


5. Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành khóa luận, người viết có sử dung một số phương pháp
sau:
1. Phương pháp so sánh, phân tích.
2. Phương pháp tổng hợp , nâng cao vấn đề.
3. Phương pháp khảo sát tác phẩm.
6. Cấu trúc khóa luận.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận thì luận văn chia làm 2 chương :
Chương 1: Nghệ thuật miêu tả tâm lí các nhân vật nữ trong tiểu thuyết
Ngàn cánh hạc của Y. Kawabata.
Chương 2: Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật nam trong tiểu thuyết
Ngàn cánh hạc của Y. Kawabata.


Nội Dung
Chương 1:
Nghệ thuật miêu tả tâm lí các nhân vật nữ trong
tiểu thuyết Ngàn cánh hạc của Y. Kawabata
1.1.Khái niệm Nhân vật.
Nhân vật là linh hồn của tác phẩm, là sản phẩm tinh thần của nhà
văn.Thông qua nhân vật, nhà văn đã trình bày về những con người như là
những kết tinh của phẩm chất xã hội, lịch sử, tâm lí
Khái niệm Nhân vật cũng có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau:
Trong tiếng Hi lạp cổ Nhân vật ( đọc là Persona) lúc đầu mang ý
nghĩa chỉ cái mặt nạ của người diễn viên trên sân khấu. Theo thời gian chúng
ta đã sử dụng thuật ngữ này với tần số nhiều nhất, thường xuyên nhất chỉ

Tiểu thuyết miêu tả nhân vật như con người đang biến đổi trong hoàn cảnh
con người đang trưởng thành do cuộc đời dạy bảo.
Như vậy, nhân vật ra đời thể hiện tư tưởng, và ý đồ sáng tạo của nhà văn.
Một tác phẩm ra đời và thành công được hay không là nhờ nhà văn xây dựng
được hệ thống những nhân vật điển hình, sinh động và khái quát nhất.
1.2.Nghệ thuật miêu tả tâm lí các nhân vật nữ trong tiểu thuyết Ngàn
cánh hạc của Y. Kawabata.
1.2.1.Y. Kawabata _ Chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại.
1.2.1.1. Y. Kawabata _ Chiếc gương soi trên đỉnh cô đơn.
Năm 1999, Nhật Bản và thế giới trân trọng kỉ niệm 100 năm ngày
sinh của Y. Kawabata ( 1899_ 1972 ) . Nói về Y. Kawabata giới nghiên cứu
và đông đảo độc giả nói về một văn hào Nhật Bản lỗi lạc, mà vị thế và sự
nghiệp của ông mãi mãi bất hủ trên bầu trời văn học nhân loại. Về vị thế, Y.
Kawabata thuộc lớp những nghệ sĩ duy mĩ lớn nhất của thế kỉ XX, là bậc thầy
của nghệ thuật biểu cảm văn học, người đã làm nên kì tích mở ra cho nhân
loại cánh cửa của tư duy và tâm hồn Nhật Bản vốn vẫn được coi là bí hiểm và
độc đáo. Về sự nghiệp, trong hơn bốn mươi năm cầm bút,Y. Kawabata đã
sáng tác không ngừng nghỉ nhằm tái hoạ thế giới cảm giác của riêng mình,


một thế giới mà cái đẹp và nỗi buồn luôn hiện hữu sống động không chỉ qua
đôi mắt ngắm nhìn mà qua cả đôi tay cảm nhận : đó là những cô gái trẻ, đồ
gốm cổ, và những giá trị văn hoá truyền thống. Những sáng tác của ông, mà
một trong số đó được coi như quốc bảo của dân tộc, đã góp phần lớn lao thúc
đẩy sự phát triển của nền văn học Nhật Bản hiện đại.
Vì những đóng góp to lớn cho nền văn học Nhật Bản và thế giới Y.
Kawabata đã trở thành nhà văn đầu tiên của Nhật Bản và thứ hai của Châu á
sau nhà văn ấn Độ Rabindranath Tagore ( 1861 _1941) được viện Hàn Lâm
Khoa Học Thụy Điển trao giải Nobel văn chương năm 1968, với những tuyệt
phẩm như: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô.

mình. Không ai hiểu được nguyên nhân của cái chết bí ẩn ấy.Tại sao bánh xe
cuộc đời lại dừng một cách đột ngột như vậy? Phải chăng nó muốn giải thoát
cho ông khỏi cái gánh nặng của trần gian? Hay cũng có thể câu trả lời đã được
ẩn chứa ở những dòng như những lời trăng trối trong tiểu thuyết Tiếng rền
của núi: Tốt nhất là hãy từ bỏ cõi trần này khi mọi người còn yêu mến và
kính trọng ta. Có thể chính cái chết sẽ xoá đi những những dấu vết bi thảm
của cuộc đời nhà văn .Y. Kawabata đã ra đi song những gì mà ông tạo dựng
vẫn tồn tại và ngự trị, sự tồn tại của nó là vĩnh viễn, là bất tử cũng như chính
Y. Kawabata vậy.
1.2.1.2. Kế thừa từ dòng văn học Nữ tính thời Heian.
Thời đại Heian (794 _1192) được coi như thời kì cổ điển của văn hoá
Nhật, một thời đại trữ tình ngọt ngào nữ tính. Văn học Nhật Bản thời kì này có
nhiều thành tựu rực rỡ. Các tác phẩm văn học phản ánh những thú vui tiêu
khiển tao nhã chốn cung đình, của giai cấp quí tộc trong một xã hội duy mĩ và
hưởng lạc, những mối tình mê đắm,tất cả đều đượm một nỗi buồn ngao
ngán của kiếp phù du nơi trần thế. Vì thời kì này phụ nữ được đề cao nên họ
vừa là đối tượng của văn học, vừa là những nữ sĩ sáng tạo nghệ thuật như :
Izumi Shikibu , Sei Shonagon... Tìm hiểu tâm hồn Nhật Bản, tất yếu phải tìm
đến Y. Kawabata, và để phân tích tác phẩm của ông, chúng ta không thể
không tìm về nguồn gốc, về vị tiền bối mà Kawabata coi như người thầy đã
ảnh hưởng sâu xa đến bút pháp và tâm hồn ông : Murasaki Shikibu (978_
1014) _ Tiểu thuyết gia đầu tiên của nhật Bản và nhân loại, với Genji


Mônôgatari (Truyện Genji)_ Được coi là bộ tiểu thuyết tâm lí đầu tiên trên
thế giới.
Y. Kawabata đã học tập và kế thừa các giá trị truyền thống từ thời
Heian, ông thể hiện niềm say mê của mình với văn chương truyền thống Nhật
Bản, đặc biệt là văn chương thời Heian, tiêu biểu là truyện Genji _ cuốn sách
được coi là Sách giáo khoa của nhiều nhà văn Nhật Bản. Với nghệ thuật

vẻ đẹp của sự toàn mĩ, coi cái đẹp diễm lệ là điểm tựa, trong văn học cũng
phản ánh điều ấy. Tập thơ Vạn diệp tập ( thế kỉVIII) , Truyện Genji ( thế
kỉ XI) , đến những tác giả hiện đại như : Mori Ogai ( 1862 1922), Natsume
Soseki (1867 _ 1916)người đọc luôn bắt gặp vẻ đẹp tinh tế, nhẹ nhàng và có
gì đó như xa xôi. Còn đối với Y. Kawabata, người đã từng tuyên bố rằng:
Tôi đã từng tiếp nhận lễ rửa tội nơi văn chương phương Tây hiện đại và tôi
cũng đã bắt chước nó , nhưng chủ yếu tôi là một người Đông phương và suốt
mười năm năm qua tôi chưa từng đánh mất phong cách ấy của mình. [18]. Y.
Kawabata luôn trung thành, và trân trọng truyền thống dân tộc, ông kế thừa
tinh thần u tình của mĩ học truyền thống Nhật Bản có từ thời Heian, bằng nỗ
lực và tài năng sáng tạo tuyệt vời của mình, Y. Kawabata đã kế thừa có chọn
lọc những tinh hoa của truyền thống văn hoá dân tộc để lại từ hàng nghìn năm.
Đọc tác phẩm của Y. Kawabata , chúng ta có thể thấy thi pháp trong
trong tiểu thuyết của ông rất gần gũi với thi pháp thơ Haikư. Chính Y.
Kawabata đã nói rằng : Tác phẩm của tôi thường được miêu tả như là tác
phẩm của Chân không. Cái Chân không đó là sự trống vắng mà người ta
thường thấy trong thơ Haikư, trong tranh thuỷ mặc, trong sân khấu Nô, trong
vườn đá tảngThi pháp thơ Haikư là thi pháp Chân không , trọng tâm của
bài thơ không nằm trong các chữ mà nằm trong cái mà nó để trống.
Seidensticker nhận xét: Tôi cho rằng nên xếp Kawabata vào dòng văn
chương mà ta có thể dò đến tận những bậc thầy Haikư của thế kỉ XVII. Đặc
trưng của thơ Haikư là ngắn gọn, súc tích, giới thiệu cho chúng ta tiếp xúc với
thiên nhiên, vạn vật cùng với thi pháp Chân không, cái chân không, trống
vắng hiện hữu nơi độc giả bắt gặp những cảnh tĩnh lặng của thiên nhiên,
khoảnh khắc trầm tư suy tưởng của con người. Cái chất đó là chất nền của


văn minh phương Đông, phát triển trên cơ sở lấy thiên thiên làm gốc việc
còn lại là chúng ta mở mắt mà nhìn, lắng tai mà nghe và trải lòng ra đón đợi
[18]. Y.Kawabata tiếp thu truyền thống yêu cái đẹp của người Nhật, quí trọng

trong đó có Y. Kawabata.
Trong sự giao lưu với các nước phương Tây, văn học Nhật Bản dần
dần thay đổi về hệ tư tưởng, sự ảnh hưởng của tư tưởng tôn giáo phương Đông
như : Phật giáo , Lão giáo, Đạo giáonay đã bị mất vị thế độc tôn, thay vào
đó là quan điểm tự do dân chủ phương Tây. Các trào lưu, trường phái từ
phương Tây ồ ạt tiến vào nước Nhật, làm nên một diện mạo mới cho nền văn
học Nhật Bản: trẻ trung, phong phú, và táo bạo. Thời gian này, bị hấp dẫn bởi
làn sóng phương Tây hoá thứ hai tại Nhật, lí thyết thẩm mĩ, phương pháp luận
phê bình văn học, và nhiều sáng tác của Y. Kawabata chịu ảnh hưởng từ nền
học thuật Châu Âu đương thời, bao gồm : chủ nghĩa ấn tượng Pháp qua đại
diện Marcel Proust (1871 _ 1922), và thủ pháp dòng ý thức trong sáng tác của
James Joyce ( 1882 _ 1931), lí thuyết phân tâm học của Sigmund Freud (
1856 _ 1939)
Khó lòng nói rằng, thời kì này Y. Kawabata có thể làm ngơ trước tất
cả những gì đang xảy ra quanh ông, và tác động đến khuynh hướng thẩm mĩ
của ông.

Trong giai đoạn sáng tác đầu tiên, Kawabata ít nhiều chịu ảnh

hưởng của chủ nghĩa duy cảm mới. Song trong số những nhà văn theo chủ
nghĩa này, ông vẫn có vị trí độc lập của riêng mình. Có thể thấy một số biểu
hiện trong sáng tác của ông như : hệ thống nhân vật, chi tiết liên truyện, độc
thoại nội tâm, dòng ý thức, giấc mơ huyền ảo, hình ảnh biểu tượngxuất hiện
trong các tác phẩm Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Người đẹp say
ngủnhưng không phải thế mà Y. Kawabata trở thành nhà văn đặc sệt
phong cách hiện đại Phương Tây. Ông là nhà văn hiện đại, nhưng hiện đại
theo kiểu Phương Đông. Khi làn sóng văn hoá Phương Tây tràn vào Nhật,
Kawabata và một số ít các nhà văn khác đã biết chủ động sử dụng những kĩ
thuật, phương pháp sáng tác của họ như một công cụ nhằm thể hiện ý đồ chứ
hoàn toàn không bị lệ thuộc hay bắt chước một cách máy móc.

bằng thái độ cầu thị đầy cẩn trọng và có chọn lọc. Là một người trầm tĩnh,
thông thái nhà văn biết chọn một dòng chảy trong lành để tắm mát tâm hồn
mình _ tâm hồn của một lữ nhân, đã hiến tặng cả cuộc đời mình cho công


việc đi tìm kiếm và khôi phục cái Đẹp của truyền thống dân tộc đang bị xã hội
hiện đại chà đạp, đang dần bị bào mòn và mất dần đi.
1. 2. 2. Nghệ thuật miêu tả tâm lí các nhân vật nữ trong tiểu thuyết
Ngàn cánh hạc của Y. Kawabata.
Năm 1951, Y. Kawabata làm cho độc giả tiếp tục kinh ngạc về tài
năng nghệ thuật của mình bằng việc cho ra đời cuốn tiểu thuyết Ngàn cánh
hạc. Tác phẩm được viện Hàn Lâm nghệ thuật Nhật Bản trao giải thưởng cao
nhất. Chủ đề của tiểu thuyết là phong tục cổ truyền của dân tộc Nhật_ nghi
thức uống trà hay còn gọi là trà đạo. Nghi thức này ở Nhật được xem như
một phương pháp thông sáng và tẩy trần, một cách thấm sâu vào qui luật của
tạo hoá và thế giới xung quanh. Trà đạo là một nghệ thuật hết sức độc đáo có
một không hai của người Nhật, đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh
thần và nghệ thuật của họ. Trên mảnh đất xứ Phù Tang cái đẹp là một kinh
nghiệm nhằm nắm bắt thực tế một cách tích cực về mặt thẩm mĩ, cảm xúc về
cái đẹp, khuynh hướng chiêm ngưỡng vẻ đẹp là đặc tính tiêu biểu cho mọi
người Nhật _ từ người nông phu đến nhà quí tộc [16].Đối với bộ môn nghệ
thuật Nhật Bản, cái đẹp là một yếu tính mà hành trình nhằm phát hiện sự hiện
tồn của nó được gọi là đạo. Chúng được trân trọng và xem xét ở góc nhìn
tinh tế nhất: Trà đạo, thư đạo, gốm sứ Iga, nghệ thuật cây cảnh, tranh thuỷ
mặc, sân khấu Nô, thoạt nhìn có vẻ giản dị, thanh thoát nhưng tất cả đều
được người Nhật sắp xếp khéo léo, đầy dụng ý, đạt đến sự tinh vi nhất. Nhật
Chiêu trong bài nghiên cứu của mình về Y. Kawabata có nhận xét: Đối với
Kawabata cái đẹp là một kinh nghiệm tâm linh [2]. Ta thấy kinh nghiệm tâm
linh là cái chỉ đạt được bằng sự nhạy cảm thiên bẩm của người nghệ sĩ và một
hành trình suốt đời nhằm tìm kiếm những giá trị vĩnh hằng trong dòng biến

một mạng lưới những sắc thái tinh vi và huyền bí mà so với nó kĩ thuật tự sự
của Châu Âu bị lu mờ hẳn. Nhà văn đã khiến cho nhân vật hiện lên hết sức
sống động.


Ngàn cánh hạc có hình thức gần như cổ điển với những tình tiết éo
le. Ra đời trong bối cảnh nước Nhật đang mất dần những giá trị truyền thống
mà trà đạo là một. Tác phẩm dựa trên một nền trà mà gốc rễ đã lung lay, trà
thất của những gia đìmh truyền thống ẩm mốc cửa đóng then cài, những dụng
cụ của trà đạo bị bỏ bê, để trong tay một thế hệ trẻ không biết phân biệt thế
nào là chén tống, chén quân, những trà sư , những người tổ chức đều sa vào
những mối tình trầm luân, nhằng nhịt do đó làm hoen ố vẻ đẹp thiêng liêng
của trà đạo. Đây thực sự là sự đấu tranh giằng co giữa giá trị truyền thống mà
trà đạo đang mất dần, và rơi vào lố bịch, trà đạo đang suy vi, xuống
dốc.Thông điệp mà nhà văn muốn gửi đến các thế hệ bạn đọc là hãy cứu lấy
những giá trị truyền thống, ông đánh thức vai trò công dân trong mỗi thế hệ
bạn đọc.
Để tiện cho việc theo dõi các mối quan hệ chồng chéo trong mối tình
trầm luân giữa các nhân vật của tiểu thuyết Ngàn cánh hạc chúng tôi hệ
thống qua sơ đồ sau:
Ông Mitani

Cha

Người tình

Người tình

Kikuji


Kawabata đều có một số phận bất hạnh. Niềm vui, nỗi buồn chợt đến, chợt đi
ngắn ngủi như bông tuyết đầu mùa, như giọt sương đầu ngọn cỏ. Bà là người
tình cuối cùng của ông thân sinh ra Kikuji, khi chồng bà còn sống vợ chồng
bà là chỗ bạn bè thân thiết với ông Mitani, họ cùng nhau tổ chức những buổi
tiệc trà, cùng nhau chia sẻ, trò chuyện về nhưng món đồ cổ quí giá dùng cho
tiệc trà. Khi chồng mất đi, bà lại tìm thấy sự đồng cảm, che chở từ người bạn
của chồng. Nhưng rồi cuộc đời chứa trong nó bao điều bất ngờ, đôi khi là sự
éo le mà con người không có khả năng để giải thích. Trong một buổi họp mặt
ở trà đường của Chikakô, bà Ôta chỉ muốn gặp Kikuji, con trai của người tình
cũ nay đã trưởng thành, để ngỏ lời xin lỗi, nhưng tiếng sét đã giáng xuống
tâm hồn, bà thấy lại người tình đã mất qua hình dáng, phong độ của người con
trai, kém bà hai nhăm tuổi, bà đã không thể kìm nổi lòng mình, và đã để mặc


cho ngọn lửa đam mê sống lại. Và rồi chính tình yêu đầy bản năng ấy đã dẫn
đến kết cục bi kịch của cuộc đời bà.
Vẻ đẹp của bà Ôta hiện lên qua sự cảm nhận của Kikuji trong lần gặp
lại từ sau cái chết của cha chàng : Bà Ôta tuy đã trung tuổi ( khoảng bốn mươi
năm tuổi), nhưng lại có thân hình như một thiếu nữ chiếc cổ trắng khá dài
vẫn thế, và đôi vai đầy đặn khá cân đối với chiếc cổ thanh tú _ kể ra đó cũng
là một dáng vóc khá trẻ so với số tuổi của người đàn bà. Miệng và chiếc mũi
nhỏ rất phù hợp với cặp mắt. Nếu để ý hơn một chút, người ta sẽ nhận thấy
chiếc mũi nhỏ của bà ta rất đều và gọn. Vẻ đẹp của bà đã khiến cho cha
Kikuji cả đời say đắm. Khi ông chết đi, chính bản thân Kikuji cũng bị cuốn
hút một cách kì lạ, không thể cưỡng lại, và đã đắm chìm trong tình yêu với
người tình của cha mình. Bà có một sức hút mê hoặc khiến cho Kikuji khi ôm
bà trong vòng tay có cảm giác như ôm một người đàn bà trẻ hơn chàng, bởi
ở bà toát ra một vẻ nồng nàn khiến Kikuji khó lòng kiểm soát nổi bản thân.
Có một điều đặc biệt trong sáng tác của Y. Kawabata là vẻ đẹp của
người phụ nữ thường được hiện lên qua con mắt nhìn nhận của người đàn

Kikuji nhận ngay thấy rằng: có một mối nhớ nhung sâu đậm và nồng nàn
trong giọnh nói của bà Ôta, như thể bà đang nói chuyện với cha chàng.
Có một điều đặc biệt là trong các tác phẩm của Y.Kawabata hầu như
các nhân vật đều hướng về quá khứ, hoài niệm. Bà Ôta cũng vậy, bà có một
niềm thiết tha dành cho dĩ vãng, đối với bà dĩ vãng ở bên cha Kikuji là tuyệt
đẹp. Bà đến với con trai của người tình cũ như một cách làm dịu bớt nỗi nhớ
nhung, niềm khát khao trống vắng trong tâm hồn một người đàn bà cháy bỏng
yêu đương. Mỗi khi gần gũi Kikuji bà đều kể cho chàng nghe về những kỉ
niệm, những kí ức về cha chàng. Nhưng rồi dần dần bà cảm nhận thấy một
điều rằng: mối quan hệ này không thể tồn tại lâu.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status