Thế giới nghệ thuật trong tập truyện một người hà nội của nguyễn khải - Pdf 31

Kho¸ luËn tèt nghiÖp

GVHD: TS. NguyÔn ThÞ TuyÕt Minh

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nguyễn Khải là một trong những nhà văn lớn của văn học Việt
Nam nửa sau thế kỉ XX. Ông sinh ra trong một gia đình quan lại phong
kiến nhưng lại ở thân phận “vợ lẽ con thêm” mà trong xã hội trước “vợ
lẽ con thêm” là những thân phận bèo bọt, bị rẻ rúng nên ông đã sớm
nếm trải những đắng cay khi còn là một đứa trẻ. Chính vì vậy trong rất
nhiều tác phẩm của mình, Nguyễn Khải không ngần ngại phơi bày bản
thân mình trước bạn đọc. Giai đoạn sáng tác sau năm 1978 các tác phẩm
của ông chuyển sang cảm hứng thế sự, sinh hoạt đời thường, Nguyễn
Khải đã đi sâu vào đời sống con người, hướng ngòi bút của mình vào
đời sống thế sự, nhân sinh thường ngày với những chi tiết đời thường
với cái hàng ngày bình dị, từ đó nhà văn cũng bày tỏ thái độ của mình
đối với cuộc đời, cuộc sống hôm nay. Là nhà văn tâm huyết suốt đời
trăn trở, băn khoăn như ngọn nến tự đốt thân mình, Nguyễn Khải đã có
những thay đổi mạnh bắt kịp với sự đổi mới của nền văn học. Bên cạnh
sự thay đổi đề tài ông còn có những khám phá sâu sắc về nghệ thuật con
người. Vì thế cùng với Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu…
Nguyễn Khải được xem là một trong những cây bút tiên phong có đóng
góp to lớn vào sự đổi mới nền văn học Việt Nam.
Trước bao biến động, thay đổi của cuộc sống, những cơn lốc dữ dội
của nền kinh tế thị trường đã cuốn đi nhiều nét đẹp của quá khứ và phủ
dần đi những cái nhỏ bé trong cuộc sống thì Nguyễn Khải lại tìm về cái
đã qua, tìm về những cái ẩn sâu trong tâm hồn con người, tìm về với
những số phận nhỏ bé, những kiếp người trong cuộc sống thường nhật.

SV: NguyÔn ThÞ H­êng

một giọng điệu nhẹ nhàng mà dí dỏm, đôi lúc có thâm trầm, sâu lắng
đọng lại trong những lời bình luận tinh tế chứa đựng nhiều ý nghĩa nhân
văn”.
Tác giả Nguyễn Thị Tuyết Hạnh trong bài viết: Một vài phương
pháp tiếp cận truyện ngắn sau năm 1975 trên Diễn đàn Văn học(
google.com.vn) ngày 4/3/2010 đã nghiên cứu truyện ngắn Một người

SV: NguyÔn ThÞ H­êng

- 2 --

Líp: K32C – Ng÷ v¨n


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Tuyết Minh

H Ni phng din im nhỡn trn thut, tỏc gi ó ch ra nhng
im nhỡn khỏc nhau trong truyn ngn ny.
Tỏc gi Phan Huy Dng trong bi vit: Cm ngh v truyn ngn
Mt ngi H Ni trờn Din n vn hc(google.com.vn) li khai thỏc
truyn ngn ny phng din chiu sõu vn hoỏ con ngi t kinh kỡ.
Tỏc gi Nguyn Vn Kha trong bi vit: Con ngi cỏ nhõn trong
truyn Vit Nam t 1975 1990 trờn Din n vn hc(google.com.vn)
ó coi truyn ngn Mt ngi H Ni l cuc hnh trỡnh tr v ngun
v vi chiu sõu vn hoỏ ca mt thi vng son.
Nhỡn chung cỏc ý kin ỏnh giỏ v tp truyn Mt ngi H Ni ch
dng li mt truyn ngn m tiờu biu l truyn ngn Mt ngi H
Ni hay nhng nhn nh mang tớnh khỏi quỏt m cha i sõu nghiờn cu

5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là tập truyện Một người Hà Nội
của Nguyễn Khải. Cụ thể là ba truyện :
 Một người Hà Nội
 Nắng chiều
 Một giọt nắng nhạt.
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận tập trung vào làm rõ vấn đề thế
giới nghệ thuật trong tập truyện Một người Hà Nội. Cụ thể là các
phương diện sau:
Loại hình nhân vật tư tưởng và nhân vật thế sự.
Con người trong cuộc sống đời thường.
Con người mang chứa vẻ đẹp trong chiều sâu tâm hồn tính cách.

6. Phương pháp nghiên cứu
Trong khoá luận này, người viết chủ yếu sử dụng những phương
pháp sau:
Phương pháp phân tích- tổng hợp
Phương pháp hệ thống
Phương pháp so sánh

7. Đóng góp của khoá luận
Với đề tài này, khoá luận góp phần làm rõ hơn những đặc sắc về
thế giới nghệ thuật trong tập truyện Một người Hà Nội.

SV: NguyÔn ThÞ H­êng

- 4 --

Líp: K32C – Ng÷ v¨n


1.1. Khái quát cuộc đời và sự nghiệp nhà văn Nguyễn Khải
1.1.1. Khái quát cuộc đời
Nhà văn Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày
3/2/1930 ở phố Hàng Cót - Hà Nội trong một gia đình quan lại phong
kiến. Ông của Nguyễn Khải là tri phủ, bố Nguyễn Khải là tri huyện
nhưng Nguyễn Khải lại là thân phận của cảnh “vợ lẽ con thêm”. Trong
xã hội phong kiến trước đây, “vợ lẽ con thêm” là những thân phận bèo
bọt bị rẻ rúng thậm chí là bị từ bỏ, cha và mẹ cả đã đối xử rất bất công
với mẹ con ông. Suốt thời thuở nhỏ, Nguyễn Khải sống trong cảnh buồn
tủi, lúc ở với mẹ đẻ, lúc ở với mẹ cả, khi sống đậu ở nhà anh (cùng cha
khác mẹ) ở Hải Phòng. Nhiều lần bị lăng nhục, bị đổ oan là thằng ăn
cắp, cho nên Nguyễn Khải đã có một tuổi thơ đầy cay đắng và nhiều
nước mắt. Cha ông đã không nhìn nhận đứa con do chính mình sinh ra
vì thế khi nghĩ về cha đối với Nguyễn Khải là một quá khứ nhiều đau
buồn.
Năm 12 tuổi, Nguyễn Khải từ Hải Phòng lên Hà Nội trú trong căn
gác chật hẹp. Ba mẹ con sống chật vật, đã có lúc bà mẹ nghĩ đến việc
chết với hai con cho đỡ khổ. Mãi về sau này nhà văn vẫn không sao
quên được cảm giác bị tổn thương và nỗi hờn giận đã gặm nhấm tâm
hồn ông những tháng năm đó: “Tưởng là con cha cháu ông hoá ra
không phải, chỉ là con thêm con thừa”.[7, 125] Bao nhiêu của tuổi thơ
chốc lát mất sạch, cái sự thật về thân phận qua mỗi tháng mơ mộng lại

SV: NguyÔn ThÞ H­êng

- 6 --

Líp: K32C – Ng÷ v¨n



SV: Nguyễn Thị Hường

- 7 --

Lớp: K32C Ngữ văn


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Tuyết Minh

ca tụi- Nguyn Khi ó núi nh vy v lp hc m nh ú ln u
tiờn ụng c tip xỳc vi cỏc thn tng vn hc ca ụng: Nguyn
Tuõn; Xuõn Diu cui khoỏ hc Nguyn Khi bt u cú truyn ngn
ng bỏo.
Nm 1955 ụng v d tri ton quõn vit truyn anh hựng Mc
Th Bi. Kt thỳc tri vit ụng cú tỏc phm Ngi con gỏi quang vinh.
Nm 1956 ụng chuyn cụng tỏc v tp chớ Vn ngh quõn i,
õy ụng lm vic cựng nhiu nh vn ni ting lỳc by gi nh Thanh
Tnh, Phựng Quỏn, Chớnh Hu, Nguyờn Ngc
Nm 1957 ụng tr thnh mt trong nhng thnh viờn tr nht tham
gia thnh lp Hi nh vn Vit Nam. Ti õy ụng ó phỏt biu quan
nim ngh thut ca mỡnh nh sau: Ngh thut l khoa hc th hin
lũng ngi, l lch s ca lũng ngi. Quan nim ny ó chi phi trc
tip phng hng tip cn hin thc ca ụng trong cỏc sỏng tỏc: ly
th gii tinh thn, t tng cỏc trng thỏi tõm lớ con ngi lm i
tng khỏm phỏ, cuc sng hin lờn trong tỏc phm nh nhng dũng
chy, nhng s va xit ca cỏc nn t tng, cỏc li sng v mt ngh
thut giu mu sc chớnh lun. T i hi ln th hai Nguyn Khi tr
thnh u viờn ban chp hnh, u viờn thng v v sau ụng cũn gi

cô Đào ( Mùa lạc); Tấm (Đứa con nuôi);… Nguyễn Khải đã miêu tả bộ
mặt đầy sức sống của nông thôn miền Bắc với những vẻ đẹp mới mẻ
trong các mối quan hệ đầy tin cậy giữa tập thể với cá nhân, giữa cấp
trên và cấp dưới, tình đồng chí, tình bạn bè… vừa tỏ thái độ không
khoan nhượng với những biểu hiện tiêu cực không mang tinh thần
CNXH như lối thu va hà vén, lối làm ăn kiểu phường hội như Tuy Kiền
trong (Tầm nhìn xa); Mơ trong (Chủ tịch huyện). Bằng ngòi bút nghiên
cứu, Nguyễn Khải chỉ ra rằng đầu óc tư hữu và tâm lí nông dân gia
trưởng thâm căn cố đế dưới nhiều biến tướng tinh vi đang cản trở con
đường tiến lên sản xuất lớn.

SV: NguyÔn ThÞ H­êng

- 9 --

Líp: K32C – Ng÷ v¨n


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

GVHD: TS. NguyÔn ThÞ TuyÕt Minh

Ở đề tài chiến tranh và cách mạng, Nguyễn Khải đã khắc họa nổi
bật vẻ đẹp của con người Việt Nam: Lòng yêu nước, tinh thần kỉ luật,
niềm khát khao khẳng định phẩm giá trước kẻ thù, tỉnh táo trong nhận
thức, thông minh tháo vát trong hành động và đức tính kiên nhẫn,
khiêm nhường. Ông ít diễn tả khía cạnh mất mát hay mặt trái của chiến
tranh mà khám phá sức mạnh tinh thần tiềm ẩn trong mỗi con người,
đặt họ vào các tình huống thử thách để họ bộc lộ tài trí, nhân cách. Các
tác phẩm đều ít nhiều tạo được không khí nhờ các chi tiết đặc sắc và

trăn trở về số phận con người, về giá trị làm người. Bên cạnh đó thì cái
tôi tiểu sử của tác giả cũng xuất hiện đậm đặc đem lại hiệu quả thẩm
mỹ cao góp phần vào việc đổi mới văn học. Tiểu thuyết và truyện ngắn
là hai thể loại tiêu biểu cho sáng tác ở giai đoạn này của ông.
Các tác phẩm tiêu biểu ở chặng này: Cha và con và … (tiểu
thuyết, 1979); Gặp gỡ cuối năm (tiểu thuyết, 1982); Tầm nhìn xa
(truyện ngắn, 1983); Thời gian của người (tiểu thuyết, 1985) Một cõi
nhân gian bé tí (truyện ngắn, 1989); Một người Hà Nội (tập truyện
ngắn, 1990); Một thời gió bụi (truyện ngắn, 1993); Sư già chùa thắm và
viên đại tá về hưu; Hà Nội trong mắt tôi (tập truyện, 1995); Sống ở đời
(truyện ngắn, 2002); Thượng đế thì cười (tiểu thuyết, 2004);…
Với số lượng tác phẩm của mình Nguyễn Khải xứng đáng trở thành
một trong những cây bút hàng đầu của văn xuôi Việt Nam từ sau cách
mạng tháng Tám năm 1945. Ông đã đóng góp những tiếng nói mới mẻ,
những khám phá về chiều sâu của cuộc sống cho sự đổi mới của văn
học. Hành trình sáng tác của Nguyễn Khải tiêu biểu cho quá trình vận
động của văn học hơn nửa thế kỷ qua.

1.2. Vị trí của tập truyện Một người Hà Nội trong đời sống văn
học đương đại Việt Nam
Quan sát sự vận động của văn học Việt Nam từ sau 1975 chúng ta
thấy văn xuôi có những biến đổi mạnh mẽ sâu sắc, hàng loạt các tên
tuổi đã tạo nên diện mạo, sự khởi sắc của văn xuôi Việt Nam thời kỳ
đổi mới như Chu Lai, Bảo Ninh, Dương Hướng, Tạ Duy Anh, Ma Văn
Kháng… Trong rất nhiều tên tuổi ấy có Nguyễn Khải, ông được đánh

SV: NguyÔn ThÞ H­êng

- 11 --


ngoài xa của Nguyễn Minh Châu; Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn
Kháng, Nguyễn Khải có Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người và đặc

SV: NguyÔn ThÞ H­êng

- 12 --

Líp: K32C – Ng÷ v¨n


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

GVHD: TS. NguyÔn ThÞ TuyÕt Minh

biệt là tập truyện Một người Hà Nội. Cùng viết về đề tài thế sự nhưng ở
Nguyễn Khải vẫn có những nét rất riêng biệt. Ông đã đi sâu vào đời
sống thế tục, cuộc sống hàng ngày của con người với biết bao ngổn
ngang. Đó là những con người trong cuộc sống thường ngày, một lát
cắt của cuộc sống, dừng lại ở những số phận như bà Bơ trong Nắng
chiều hay một tuổi thơ đầy cay đắng trong Một giọt nắng nhạt. Dù cuộc
đời chỉ là những hạt nắng cuối chiều hay những giọt nắng nhạt thì nó
vẫn có giá trị, tuy nhỏ bé nhưng không tầm thường.
Sinh thời Nguyễn Khải tự nhận mình chỉ là người gặp thời như
“rồng gặp mây, cá gặp nước”, “tôi chỉ là người có chí nhưng kém tài,
may mà gặp thời rồi gặp được thầy mà nên sự nghiệp”. Nhưng bao
nhiêu năm đã trôi qua các sáng tác của Nguyễn Khải vẫn được công
chúng mến mộ và hưởng ứng, các sáng tác của ông vẫn còn nguyên giá
trị trong cuộc sống hôm nay, điều đó chứng tỏ ông là một cây bút tài
năng. Với những đổi mới trong phương thức tiếp cận đời sống ở đề tài
thế sự, đời tư, ông đã mang đến cho văn học giai đoạn này những trang

tố hiện tượng với các thực tại đời sống riêng lẻ xem có “giống” hay
không, “thật” hay không, mà phải đánh giá trong chỉnh thể của tác
phẩm so với chỉnh thể hiện thực. Các yếu tố của hình tượng chỉ có ý
nghĩa trong thế giới nghệ thuật của nó.
Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới, một cách
cắt nghĩa về thế giới.
Như vậy, khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc
đáo về “tư duy nghệ thuật” của sáng tác nghệ thuật, có cội nguồn trong
thế giới quan, văn hoá chung, văn hoá nghệ thuật và cá tính sáng tạo
của nghệ sĩ. Chúng ta biết rằng, mỗi tác phẩm văn học đều được lấy
chất liệu từ hiện thực khách quan nhưng được phản chiếu qua lăng kính
tâm hồn nghệ sĩ. Mỗi nhà văn có cách nhận thức riêng về hiện thực,
chính vì vậy mỗi tác phẩm sẽ là một thế giới nghệ thuật riêng, nhiệm
vụ của người tiếp nhận là phải tìm mã khoá để bước vào thế giới nghệ
thuật đó.
Như đã nêu trên, thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian
riêng… Vì thế có thể nêu ra các yếu tố biểu hiện của thế giới nghệ

SV: NguyÔn ThÞ H­êng

- 14 --

Líp: K32C – Ng÷ v¨n


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

GVHD: TS. NguyÔn ThÞ TuyÕt Minh

thuật như: nhân vật, thời gian - không gian nghệ thuật, ngôn ngữ, giọng

loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng tính cách của con người được
dùng như một phương thức khác nhau để biểu hiện con người”[5, 159].
Như vậy văn học không thể thiếu nhân vật, vì nhân vật chính là
phương diện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình
tượng. Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về
một vấn đề nào đó của hiện thực. Nhân vật chính là người dẫn dắt
người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì nhất
định. Thực chất đi tìm hiểu tác phẩm là tìm hiểu về nhân vật.
Trong văn học có những nhân vật mà hạt nhân cấu trúc của nó
không phải là cá tính, cũng không phải là các phẩm chất loại hình mà là
một tư tưởng một ý thức, nhân vật loại này cũng thể hiện cá tính, một
nhân cách nhưng cái chính là một hình tượng tự nhiên diễn ra trong đời
sống. Nguyễn Khải đã từng quan niệm “nghệ thuật là khoa học thể hiện

SV: NguyÔn ThÞ H­êng

- 16 --

Líp: K32C – Ng÷ v¨n


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Tuyết Minh

lũng ngi, l lch s ca lũng ngi, khoa hc tc l coi trng nhn
thc hn cm xỳc, lũng ngi l nm bt i sng bờn trong ca con
ngi. Quan nim ca Nguyn Khi cho thy cỏi nhỡn sõu sc v khng
nh mt vựng hin thc vụ tn vn chng phn ỏnh. Nh vn quan
tõm n din bin trong t tng bờn trong ca con ngi nờn nhõn vt

GVHD: TS. NguyÔn ThÞ TuyÕt Minh

từng chứng kiến biết bao thay đổi của Hà Nội nhưng tất cả điều đó
không thể làm thay đổi lòng yêu Hà Nội của bà, cùng với thời gian sự
lịch lãm dường như đã tích tụ tinh hoa trong con người Hà Thành này.
Nguyễn Khải đã lí giải tính cách đặc biệt của bà Hiền từ gốc gác gia
đình, miêu tả một cách tỉ mỉ nếp ăn nếp ở, sinh hoạt mang theo những
phong thái kiểu cách sang trọng, luôn đề cao nếp sống gia đình. Sống
trong môi trường xã hội mới, khi những làn sóng qui chụp thành phần,
sự đề cao đấu tranh giai cấp luôn là nỗi ám ảnh, tác động vào những
người trong gia đình: “Ăn cốt để sống, để làm việc, hay hớm gì cái thứ
lễ nghi rườm rà của giai cấp tư sản”. “Đã là tư sản thì không thể tin
được” [7, 7] thì bà vẫn sống đàng hoàng, sang trọng bởi bà tin tưởng:
“Tao có bộ mặt tư sản, nhưng lại không bóc lột ai thì làm sao thành tư
sản được” [7, 13]. Đó là thái độ chủ động trước hoàn cảnh, vượt qua
mọi sự nghi kị thành kiến, dám tin vào sự lựa chọn cá nhân. Bà nhìn
nhận mọi chuyện theo quan điểm của mình, luôn phân tích và đưa ra
những lí lẽ thuyết phục trong mọi hoàn cảnh. Không phải mọi tính cách
Hà Nội đều là những giá trị, nhưng nhà văn đã khai thác mối quan hệ
con người và hoàn cảnh theo một cách nhìn mới, không ngần ngại chỉ
ra những nét ấu trĩ trong quan niệm một thời, chẳng hạn cách thích nghi
hoàn cảnh chế độ mới, từ chồng đến con bà Hiền đều gọi “đồng chí”
với người cháu đến thăm nhà. Hay thái độ ứng xử của bà Hiền cũng
được diễn tả một cách rõ ràng, bà có một cách nhìn nhận chế độ mới
của riêng mình: “Chế độ này không thích cá nhân làm giầu, chỉ cần họ
đủ ăn, thiếu ăn một chút càng hay, thiếu ăn là vinh chứ không là nhục,
nên tao cũng chỉ cần đủ ăn” [7, 15]. Nguyễn Khải đã gửi gắm vào

SV: NguyÔn ThÞ H­êng


nn kinh t th trng lm xúi mũn i np sng ca H Ni ngn nm
vn vt thỡ cng khụng th lm lay chuyn ý thc ca nhng con ngi
luụn tin vo nhng giỏ tr vn húa bn vng, ú thc cht cng l cỏi
m vn tng quan nim: Núi cho cựng, sng c hng ngy tt

SV: Nguyễn Thị Hường

- 19 --

Lớp: K32C Ngữ văn


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

GVHD: TS. NguyÔn ThÞ TuyÕt Minh

nhiên phải nhờ vào những “giá trị tức thời. Nhưng sống cho có phẩm
hạnh, có cốt cách nhất định phải dựa vào những giá trị bền vững
(Nguyễn Khải, Tuyển tập tiểu thuyết, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà
Nội, 1999). Viết về bà Hiền, Nguyễn Khải đã đề cao nét đẹp văn hoá ẩn
chứa bên trong con người bà từ lời ăn tiếng nói hàng ngày, cách giáo
dục con cái một cách nghiêm khắc và nền nã: “Chúng mày là người Hà
Nội thì cách đi đứng nói năng phải chuẩn, không được sống tuỳ tiện
buông tuồng” [7, 16]; “Tao chỉ dạy chúng nó biết tự trọng, biết xấu hổ
còn sau này ra sao thì tuỳ” [7, 17], đến cách sống biết tổ chức trật tự
và làm sang trọng con người từ ăn, mặc, ở, hàng ngày đến những thú
chơi tỉ mẩn như gọt tỉa thuỷ tiên đón giao thừa của người Hà Nội từng
được Nguyễn Tuân ca ngợi. Bà Hiền là biểu tượng không chỉ của một
thời vàng son đã qua mà còn là hiện thân của văn hoá Tràng An đứng
vững trong bao thay đổi thường nhật. Bà Hiền chính là nhân vật mà nhà

mà tập trung vào những chi tiết tiêu biểu ở mỗi khía cạch để làm nổi
bật lên tư tưởng của tác phẩm.
Bên cạnh nhân vật tư tưởng thì nhân vật thế sự cũng hiện lên rõ
nét. Nhân vật thế sự là những con người trong đời sống thường ngày,
những câu chuyện đời thường không mang tính điển hình. Nhưng từ đó
nhà văn vẫn tìm ra các khía cạnh của thế thái nhân tình, tìm ra một thứ
triết học nhân sinh, tìm ra con người trong sự vận động của cuộc sống
bình thường đúng như nó có.
Trong tập truyện Một người Hà Nội, nhà văn thuần miêu tả những
gì rất đỗi đời thường. Diện mạo con người hiện lên bình dị chân thực.
Những con người với toan tính cuộc sống, với những mơ ước mộc mạc,
đó là bà Hiền, bà Bơ, ông Phúc…Thời gian trong tập truyện là thời gian
của cuộc sống đời thường với những câu chuyện của cuộc đời con
người, không gian trong tập truyện gần gũi, xác định: không gian gia
đình, không gian của xóm nghèo trong Một giọt nắng nhạt, không gian
của Hà Nội, Hải phòng… Mỗi truyện là một triết lí sâu sắc về cuộc
sống, con người. Những con người hiện diện trong thế giới gắn với

SV: NguyÔn ThÞ H­êng

- 21 --

Líp: K32C – Ng÷ v¨n


Kho¸ luËn tèt nghiÖp

GVHD: TS. NguyÔn ThÞ TuyÕt Minh

những qui luật tồn tại vĩnh hằng và cũng có khi là cái ngẫu nhiên, bất



Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Tuyết Minh

n v b v, khụng mt mỏi m, khụng mt hnh phỳc riờng, mt
mỡnh b chng chi vi ni bun ti ca mt kip ngi. Tng chng
cuc i b B s kt thỳc trong bt hnh, nhng cuc i li bự p
cho b hnh phỳc ca mt gia ỡnh khi b ó bc sang tui 70. Tỏc gi
khụng miờu t ton b cuc i b m ch tp trung dng li mt thi
im, mt giai on khi b B ó gi. ú l thi im kt hụn ln th
nht, hnh phỳc bt ng n nh v o xua tan i tt c s ti hn ca
mt thõn phn: C cuc i khụng cú gỡ l ca riờng mỡnh, n mt
thng n ụng ca riờng mỡnh cng khụng cú thỡ bõy gi b y cú
mt ụng chng, l ca riờng b y, l monhome, l ụng nh tụi, ụng xó
tụi [7, 46]. Dự ụng chng y ó gi li b lit na ngi nhng b vn
vui vỡ c chm súc cho ụng hng ngy t ming cm n ngm
nc, ú khụng phi l s cc kh, vt v nh bao ngi khỏc nhn xột
m vi b ú l c mt nim hnh phỳc ln lao khụn t. C cuc i b
cú l n lỳc ny mi thc s cú ý ngha, mi l cuc i ớch thc ca
kip ngi. Vy iu gỡ ó khin mt b lóo li hnh phỳc n nh vy:
Cỏi sc mnh thm kớn no ó khin mt mt b lóo tr hn ra, vui
hn li, cú v ham sng hn trc, cũn dỏm tớnh toỏn c nhng vic
tng lai, l tỡnh yờu chng? [7, 47]. Hoỏ ra cuc sng con ngi õu
ch cn cú n v mc m cũn cn th thiờng liờng hn ú l tỡnh yờu,
tỡnh ngi na. Khụng ch cú b B m ụng Phỳc - chng b, dng
nh cng tr li, phi chng ting gi tỡnh yờu ó khin mt ụng lóo
cỏi tui tht thp c lai hi phng phng trờn chic xe p n vi
ngi yờu, ụi lỳc li cũn lm nng vi v. Tỡnh cm ca hai ụng b

ít tình thương. Ngay từ khi còn nhỏ ông đã phải trải qua tuổi thơ nhiều
tủi hờn và nhiều nước mắt. Được sống trong nhà cùng cha nhưng đến
cha của mình hình dáng như thế nào, khuôn mặt ra sao “tôi” chưa một
lần được thấy vì sợ phải đối diện với chính người sinh ra mình. Những
lần cha con gặp nhau chỉ làm sự bất hạnh của “tôi” tăng thêm gấp bội
bởi ánh mắt nhìn khinh bỉ, sắc lạnh của ông, bị người thân ruồng bỏ, đổ
oan cho là “thằng ăn cắp”, bị xa lánh lạc lõng giữa gia đình tưởng
chừng là mái ấm.

SV: NguyÔn ThÞ H­êng

- 24 --

Líp: K32C – Ng÷ v¨n


Khoá luận tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Tuyết Minh

Nhng mnh i nh m tụi cng hin lờn mong manh trong s
nghốo kh, tỳng qun, thõn phn ca ngi v l cú chng m cng
nh khụng, phi sng trong mũn mi ch i, c mt i khụng bit
cú tỡnh yờu, khụng bit cú tỡnh v chng, ch mt i nhm nhm ming
n cho mỡnh v cho con[7, 50].
Nhng con ngi trong truyn hin lờn h o nh git nng ớt
mu sc, nht nho v lm li vi gỏnh nng nhc nhn mu sinh
hng n cỏi ngy mai cha bit s i v õu. Kip sng nh cụ gỏi
ngi Hoa mt mỡnh nuụi c gia ỡnh mi ming n, nh anh M sut
i lm cụng, lm thuờ cho ngi, n chuyn ly v cng cha tng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status