I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Đối với giáo viên, việc tiếp cận với chương trình sách giáo khoa cải cách
đã khó, giảng dạy đạt hiệu quả, tạo được sức lôi cuốn đối với học sinh lại càng
khó hơn. Đặc biệt là những bài mới được đưa vào chương trình. Tài liệu tham
khảo thiếu, thời gian tìm hiểu, nghiên cứu ít, đây thực sự là điều những giáo viên
tâm huyết với nghề trăn trở. Trong bối cảnh môn Ngữ văn ngày càng ít được học
sinh chú ý việc đưa ra một cách tiếp cận tác phẩm thật nhẹ nhàng, đơn giản
nhưng hiệu quả thực sự là một điều mà bất cứ giáo viên nào cũng hướng tới
nhằm thu hút học sinh gắn bó và yêu mến bộ môn văn. Một cách tiếp cận mới,
một định hướng hay thực sự là điều mà tôi và các đồng nghiệp luôn mong muốn.
So với chương trình và SGK cũ, chương trình và SGK Ngữ văn mới của
Bộ (ấn hành tháng 6 năm 2008, sử dụng trong cả nước bắt đầu từ năm học 2008
– 2009) có những thay đổi nhất định trong việc lựa chon tác phẩm. Các nhà biên
soạn đã đưa vào chương trình những tác phẩm tiêu biểu của Văn học Việt Nam
sau năm 1975 như: Đò Lèn (Nguyễn Duy), Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo),
Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Mùa lá rụng trong vườn
(Ma Văn Kháng), Một ngưòi Hà Nội (Nguyễn Khải), Chiếc thuyền ngoài xa
(Nguyễn Minh Châu), Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ) Tuy độ
lùi thời gian chưa xa, sự đánh giá, thẩm định chỉ mới ở giai đoạn bước đầu
nhưng cho thấy đây là bộ phận văn học có nhiều thành tựu. So với văn học giai
1
đoạn 1945 – 1975, văn học sau 1975 có nhiều đổi mới về đề tài, quan niệm nghệ
thuật về con người, về kết cấu, điểm nhìn nghệ thuật và bút pháp.
Nhìn một cách tổng quát có thể dễ dàng nhận thấy văn học giai đoạn 1945
– 1975 các tác phẩm hầu như đều có chung khuynh hướng sử thi và cảm hứng
lãng mạn. Với đặc điểm đó văn học thời kì này đã dựng lên một bức tranh hoành
tráng về lịch sử, tái hiện một thời kì đau thương nhưng hào hùng của dân tộc.
Tuy nhiên, trước sự chuyển biến mau lẹ của đời sống xã hội cùng sự tác động
mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, đề tài của văn học sau 1975 ngày càng được
triển khai mở rộng. Văn xuôi nước nhà chuyển mạnh sang cảm hứng thế sự, sinh
hoạt. Nhận định về văn xuôi giai đoạn này giáo sư Phan Cự Đề cho rằng: “truyện
thực mới, tư duy nghệ thuật mới đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tìm tòi, thể nghiệm về
3
cách tiếp cận thực tại về các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật, phát huy cá tính
và phong cách nhà văn.
Văn học thời kì sau năm 1975 đặc biệt quan tâm tới con người cá nhân.
Nguyễn Khải là một trong những nhà văn có nhiều nỗ lực tìm tòi, khám phá quan
tâm tới con người cá nhân. Nguyễn Khải đã tìm cách lí giải sự tồn tại của con
người trên nhiều chiều thời gian: thời gian quá khứ, thực tại, tương lai từ đó làm
nổi bật vẻ đẹp của con người. Một người Hà Nội là một tác phẩm như thế.
2. Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Khải:
Quan niệm nghệ thuật về con người là cốt lõi tư tưởng, là thước đo sự tiến
bộ nghệ thuật của một nhà văn. Theo quan điểm của thi pháp học, quan niệm
nghệ thuật về con người là một trong những yếu tố cơ bản, then chốt nhất của
chỉnh thể nghệ thuật. Nó góp phần chi phối sự độc đáo của tác phẩm. Do thế giới
quan, lí tưởng thẩm mỹ và cá tính sáng tạo khác nhau mà mỗi nhà văn có cách
lựa chọn thể hiện nhân vật riêng. Nếu các nhà văn trong Tự lực văn đoàn quan
niệm: con người lí tưởng là con người ái tình, con người ảo vọng thì các nhà văn
hiện thực quan tâm đến con người lao động của đời thường. Nếu văn học Việt
Nam giai đoạn 1945 – 1975 con người được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ sử
thi thì sau 1975 con người trong văn học thường gắn với các quan hệ đời
thường.
4
Cùng trong dòng văn học sau 1975 ta vẫn nhận thấy có sự khác biệt giữa
các nhà văn. Nếu truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu mang đến cho người đọc
một quan niệm mới mẻ về con người và cuộc đời mà nền tảng là chiều sâu triết
học và nhân bản; truyện ngắn của Ma Văn Kháng đưa ra quan niệm đạo đức về
con người: con người vĩnh hằng bất biến, con người bản năng, con người của đà
văng quán tính, con người hành động và lựa chọn thì truyện ngắn của Nguyễn
Khải luôn tạo ra những nhân vật có bộ mặt tinh thần hoàn toàn riêng biệt, những
tình huống có chiều sâu triết học và tâm lí để hướng tới cái đẹp trong đời sống
con người là trung tâm của sự khám phá và nghiền ngẫm hiện thực. Nhà văn đặt
vấn đề qua nhân vật, lấy nhân vật làm nơi thể hiện các quan niệm nghệ thuật và ý
đồ của mình. Khác với nhân vật tính cách, là sản phẩm của sự quan sát, tuởng
6
tượng. Nhân vật tư tưởng là sản phẩm của cảm hứng nghiên cứu. Vì thế, Nguyễn
Khải ít chú ý khắc hoạ ngoại hình nhân vật, mà khi miêu tả diện mạo nhân vật
nhà văn chỉ tập trung vào miêu tả những chi tiết ngoại hình tiêu biểu, gợi được
nét tính cách và dự báo được số phận của nhân vật. Nhà văn ít chú ý tới việc
khắc hoạ tính cách nhân vật qua hành động mà tập trung sử dụng ngôn ngữ đối
thoại như một phương tiện quan trọng giúp cho nhân vật tự biểu hiện mình một
cách rõ nhất. Để có thể nghiên cứu hiện thực một cách khách quan, nhà văn đã
trao cho nhân vật của mình quyền bình đẳng về tư tưởng. Ông hay đưa cái tôi cá
nhân của mình hoặc của những người gần gũi với mình thành nhân vật trong tác
phẩm để nói đến những vấn đề của ngày hôm nay, những vấn đề thế sự và để
khai thác một cách triệt để tính cách số phận nhân vật.
Như vậy sức sống và sự lôi cuốn của kiểu nhân vật mới là một thành công
của Nguyễn Khải trong nghệ thuật viết truyện ngắn sau 1975, thể hiện những
chuyển biến về chất trong quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn. Tuy
không ở vào vị trí “người mở đường tài năng và tinh anh” như Nguyễn Minh
Châu nhưng với những đóng góp của mình, Nguyễn Khải xứng đáng là một
trong những nhà văn tiên phong của văn học Việt Nam thời kì đổi mới. Đến với
truyện ngắn “Một người Hà Nội” người đọc sẽ thấy được cái mới trong cách
nhìn nhận đánh giá về vẻ đẹp con người trong sáng tác của Nguyễn Khải.
3. Vấn đề của truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn khải:
7
3.1. Về thể loại:
Một người Hà Nội là truyện ngắn giàu tính triết luận, được sáng tác trong
bối cảnh đổi mới văn học sau 1986. Triết luận vốn là một nét trội trong phong
cách văn xuôi Nguyễn Khải thuộc giai đoạn sáng tác từ cuối những năm bảy
mươi (của thế kỉ XX) trở đi, gắn liền với việc soi xét đối tượng dưới các góc độ
thể đặt lại tên tác phẩm Một người Hà Nội thành: Nghĩ về một người Hà Nội. Dĩ
nhiên, đây là đặt cho mình, nhằm mục đích lĩnh hội đúng tinh thần tác phẩm,
cảm nhận đúng ý nghĩa của "thành phần" suy nghĩ trong kết cấu truyện ngắn này.
Quả là chuyện kể không có gì thật đặc biệt, nhưng suy nghĩ, đánh giá của nhân
vật "tôi" thì lại chứa đựng nhiều điều thú vị. Đặc trưng truyện ngắn Nguyễn Khải
9
vốn là thế: tỉ trọng những lời phân tích, bình luận bao giờ cũng lớn, nhiều khi lấn
át cả sự miêu tả, trần thuật khách quan về đối tượng.
Viết Một người Hà Nội, điều cơ bản mà nhà văn hướng đến chưa hẳn là ca
ngợi một con người, cho dù người đó đáng ca ngợi bao nhiêu đi chăng nữa. Cảm
hứng chính của ông là khám phá bản sắc văn hoá Hà Nội - cái quyết định vận
mệnh và vị thế của Hà Nội trong lịch sử, cũng là cái làm nền tảng cho bước phát
triển mới của nó trong tương lai. Không phải ngẫu nhiên mà khi ngắm hình ảnh
bà Hiền "lau đánh cái bát bày thuỷ tiên", ông đã có một ghi chú tưởng như là
bâng quơ : "nếu là một thiếu nữ thì phải hơn", rồi cảm thán : "thấy Tết quá, Hà
Nội quá, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái Tết Hà Nội". Cũng hoàn toàn hợp lô
gích việc nhà văn đã kết lại truyện ngắn như thế này: "Một người như cô phải
chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất
cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà
bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng !". Lô gích thì lô gích nhưng
vẫn lạ. Ai đã từng quen với giọng văn tinh sắc, tỉnh táo, thậm chí là "lọc lõi" của
Nguyễn Khải, hẳn phải ngỡ ngàng trước cái giọng "bốc" lên khá đột ngột mà nhà
văn biểu lộ ở đây. Một chút giỡn đùa với chính văn mình hay niềm xúc động tận
đáy tâm can cứ bật ra không nén được? Trả lời quyết hẳn theo bề nào cũng khó,
nhưng điều có thể khẳng định chắc chắn là: Nguyễn Khải thật sự yêu quý Hà
10
Nội, có những suy nghĩ thâm trầm về "đất kinh kì" và tha thiết được thấy một Hà
Nội hiện đại, đẹp, sang, xứng với bề dày văn hoá truyền thống của nó.
Hình tượng bà Hiền được xây dựng lên như để chứng minh có một tinh
thần Hà Nội, một linh hồn Hà Nội thực sự đã và đang tồn tại, để lại dấu ấn đậm
hoá thân của ông - thì ý thức về điều này quá sâu sắc. Nhân vật "tôi" cũng khó
lòng quên lời bà Hiền răn lũ con của anh : "Chúng mày là người Hà Nội thì cách
đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng". Hoá
ra vậy, làm người Hà Nội vừa là một vinh dự, vừa là một trách nhiệm. Bà Hiền
hẳn là luôn đau đáu về vấn đề này, chẳng thế mà dù đã ngoài bảy mươi, bà vẫn
để lộ tâm sự đó của mình khi hỏi người cháu ("tôi") vừa mới từ thành phố Hồ
Chí Minh ra thăm "Anh ra Hà Nội lần này thấy phố xá thế nào, dân tình thế
12
nào?" Ngỡ đó chỉ là một câu hỏi xã giao thông thường mà thực chất lại gửi gắm
bao nỗi niềm, bao phấp phỏng và hi vọng về tương lai của Hà Nội.
4. Thiết kế bài giảng
Đọc văn
Tiết: 90
MỘT NGƯỜI HÀ NỘI
(Nguyễn Khải)
I. Yêu cầu cần đạt:
- Về kiến thức:
+ Giúp học sinh cảm nhận được vẻ đẹp và chiều sâu văn hoá của người Hà
Nội qua hình tượng nhân vật bà Hiền.
+ HS nắm được một số nét cơ bản trong nghệ thuật văn xuôi của Nguyễn
Khải: cách kể chuyện, giọng văn, chất triết lí…
- Về kĩ năng: rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản văn học sau năm 1975.
- Về tư tưởng: Bồi dưỡng tình cảm yêu mến các giá trị văn hoá và tình yêu quê
hương đất nước.
II. Phương tiện thực hiện:
- Sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năng, tuyển tập truyện ngắn
Nguyễn Khải.
13
III. Phương thức tiến hành:
- Giáo viên tổ chức giờ học theo hướng kết hợp các phương pháp đàm thoại, phát
I. Tìm hiểu chung
1. Tác giả:
a. Cuộc đời:
- Nguyễn Khải (1930-2008) tên khai sinh là
Nguyễn Mạnh Khải, quê ở Hà Nội .
- Xuất thân trong một gia đình công chức. Thủa
nhỏ sống ở nhiều nơi, sau chuyển vào sinh sống
và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh.
b. Sự nghiệp:
- Nguyễn Khải viết văn từ năm 1950, bắt đầu
được chú ý từ tiểu thuyết Xung đột. Ông tự chia
sáng tác của mình thành hai giai đoạn:
+ Trước cách mạng, sáng tác của Nguyễn Khải
chủ yếu quan tâm đến những vấn đề mang tính
thời sự chính trị, con người được đánh giá chủ
yếu qua tiêu chí đạo đức và tiêu chí chính trị.
Văn ông lúc này dồi dào nhiệt huyết chính luận.
Mùa lạc(1960), Một chặng đường (1962), Tầm
nhìn xa (1963), Chủ tịch huyện (1972) Ra đảo
15
GV gợi dẫn: chú ý các giai
đoạn sáng tác, tác phẩm
chính.
GV: Nêu vài nét về tác
phẩm?
HS: Xác định hoàn cảnh ra
đời của tác phẩm.
GV: Hãy trình bày suy nghĩ
của mình về nhan đề tác
(1970), Chiến sĩ (1973)
nghệ thuật của nhà văn.
c. Hướng tiếp cận tác phẩm:
Căn cứ vào hình tượng các nhận vật để làm nổi
bật giá trị của tác phẩm
Hoạt động 2: Hướng dẫn
đọc - hiểu văn bản
1. GV tổ chức cho HS tìm
hiểu các giá trị của văn bản.
GV: Vẻ đẹp phẩm chất nhân
vật cô Hiền được khác họa
như thế nào trong tác phẩm?
II. Đọc - hiểu văn bản:
1. Hình tượng nhân vật cô Hiền:
a. Tính cách, phẩm chất:
- Nhân vật trung tâm của truyện ngắn là cô Hiền
cũng như những người Hà Nội khác, cô đã cùng
Hà Nội, cùng đất nước trải qua nhiều biến động
thăng trầm nhưng vẫn giữ được cái cốt cách
người Hà Nội. Cô sống thẳng thắn, chân thành,
không giấu giếm quan điểm, thái độ của mình
với mọi hiện tượng xung quanh.
- Suy nghĩ và cách ứng xử của cô trong từng thời
đoạn của đất nước.
+ Hoà bình lập lại ở miền Bắc, cô Hiền nói về
17
HS: suy nghĩ, thảo luận, phát
biểu nhận xét, bổ sung để
hoàn chỉnh các vấn đề.
GV: Định hướng cho HS tập
trung vào các phương diện:
nhóm và xác định.
GV mở rộng
b. Cô Hiền- "một hạt bụi vàng của Hà Nội":
- Nói đến hạt bụi, người ta nghĩ đến vật nhỏ bé,
tầm thường. Có điều là hạt bụi vàng thì dù nhỏ
bé nhưng có giá trị quí báu.
- Cô Hiền là một người Hà Nội bình thường
nhưng ở cô thấm sâu những cái tinh hoa trong
bản chất người Hà Nội. Bao nhiêu hạt bụi vàng,
bao nhiêu người như cô Hiền sẽ hợp lại thành
những “áng vàng” chói sáng. áng vàng ấy là
phẩm giá người Hà Nội, là cái truyền thống cốt
cách người Hà Nội.
=> Một so sánh độc đáo nằm trong mạch trữ tình
ngoại đề của người kể chuyện. Bản sắc Hà Nội,
văn hoá Hà Nội là chất vàng 10 là mỏ vàng trầm
tích được bồi đắp, tính tụ từ biết bao hạt bụi vàng
như là Hiền
2. GV tổ chức các nhóm học
tập, giao việc cho mỗi nhóm
2. Các nhân vật khác trong truyện:
a. Nhân vật "tôi":
- Thấp thoáng sau những dòng chữ là hình ảnh
19
tìm hiểu về một nhân vật
trong tác phẩm:
- Nhân vật “tôi”.
- Nhân vật Dũng- con trai cô
Hiền.
- Những thanh niên Hà Nội
nghệ thuật của tác giả là gì?
HS: Tổng hợp và xác định.
thắm thêm cốt cách tinh thần người Hà Nội,
phẩm giá cao đẹp của con người Việt Nam.
c. Một vài nhân vật khác:
Bên cạnh sự thật về những người Hà Nội có
phẩm cách cao đẹp, còn có những người tạo nên
“nhận xét không mấy vui vẻ” của nhân vật “tôi”
về Hà Nội. Đó là “ông bạn trẻ đạp xe như gió”
đã làm xe người ta suýt đổ lại còn phóng xe vượt
qua rồi quay mặt lại chửi “Tiên sư cái anh già” ,
là những người mà nhân vật tôi quên đường phải
hỏi thăm Đó là những “hạt sạn của Hà Nội”,
làm mờ đi nét đẹp tế nhị, thanh lịch của người
Tràng An. Cuộc sống của người Hà Nội nay cần
phải làm rất nhiều điểm để giữ gìn và phát huy
cái đẹp trong tính cách người Hà Nội.
3. GV tổ chức cho HS thảo
luận về chuyện cây si cổ thụ
ở đền Ngọc Sơn bị bão đánh
bật rễ rồi lại hồi sinh.
3. Ý nghĩa của câu chuyện "cây si cổ thụ":
- Hình ảnh nói lên qui luật bất diệt của sự
sống. Quy luật này được khẳng định bằng niềm
tin của con người thành phố đã kiên trì cứu sống
được cây si.
- Cây si cũng là một biểu tượng nghệ thuật, một
21
HS: Suy nghĩ, thảo luận và
trình bày.
các nhân vật khác.
+ Ngôn ngữ nhân vật góp phần khắc hoạ tính
22
cách (ngôn ngữ nhân vật “tôi” đậm vẻ suy tư,
chiêm nghiệm, lại pha chút hài hước, tự trào;
ngôn ngữ của cô Hiền ngắn gọn, rõ ràng, dứt
khoát ).
Hoạt động 3: Tổ chức tổng
kết
GV: Từ quá trình tìm hiểu
van bản em hãy đánh giá
những thành công nỗi bật của
Nguyễn Khải trong tác phẩm
Một người Hà Nội.
HS: Thảo luận và trình bày.
GV: Khái quát lại vấn đề.
III. Tổng kết:
- Trong Một người Hà Nội, Nguyễn Khải đã có
những khám phá sâu sắc về bản chất của nhân
vật trên dòng lưu chuyển của hiện thực lịch sử:
- Là một con người, bà Hiền luôn giữ gìn phẩm
giá người;Là một công dân, bà Hiền chỉ làm
những gì có lợi cho đất nước; Là một người Hà
Nội, bà đã góp phần làm rạng rỡ thêm cái cốt
cách, cái truyền thống của một Hà Nội anh hùng
và hào hoa - tôn thêm vẻ đẹp thanh lịch quyến rũ
của “người Tràng An”.
=>Chất nhân văn sâu sắc của ngòi bút Nguyễn
Khải chính là ở đó.
“Muốn hiểu con người thời đại với tất cả những
2. Kết quả thực nghiệm:
Bằng thực tiễn giảng dạy ở lớp 12 tôi đã tiến hành thực nghiệm ở hai lớp
cơ bản (12CA4 và 12CA5 với đối tượng học sinh tương đương), một theo
phương pháp truyền thống, một theo hướng đi sâu vào tìm hiểu các nhân vật rồi
tổng hợp khái quát lên giá trị của tác phẩm. Kết quả thông qua kiểm tra như sau:
TT Lớp
Sĩ
số
Phương pháp
Chất lượng
Ghi
chú
Giỏi Khá TB Yếu
1 12CA4 50
Dạy học theo phương
pháp truyền thống
3% 26% 55% 16%
2 12CA5 50
Dạy học theo phương
pháp mới
14% 37% 46% 3%
25