Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
----------
TỐNG MINH TÚ
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐI ĐÔI
VỚI THỰC HÀNH TIẾT KIỆM VÀ
SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG TA
TRONG THỜI KỲ HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
HÀ NỘI – 2012
Tống Minh Tú
1
Lớp K34B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình dưới sự
hướng dẫn của cô giáo Phạm Thị Thúy Vân. Những nội dung trình bày trong
khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào
khoa học nào khác.
Nếu sai, tôi xin chụi trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 05 năm 2012
Tác giả khóa luận
Tống Minh Tú
Tống Minh Tú
3
Lớp K34B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ..................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu........................................................... 3
3.1. Mục đích: ................................................................................................. 3
3.2. Nhiệm vụ: ............................................................................................... 3
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.......................................................................... 3
5. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu ................................................................ 4
1.2.1.1 Phát triển sản xuất đi đôi với thực hành tiết kiệm
nhằm nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng Chủ Nghĩa Xă Hội ................. 10
1.2.1.2 Phát triển sản xuất đi đôi với thực hành tiết kiệm
nhằm giáo dục nhiệm vụ dân chủ cho toàn dân............................................. 12
1.2.2 Nội dung chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển
kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm ............................................................ 13
1.2.2.1 Phát triển sản xuất đi đôi với tiết kiệm là trách nhiệm
và nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân với Tổ quốc ................................ 13
1.2.2.2. Tiết kiệm phải toàn diện, tiết kiệm ở mọi nghành .............................. 15
1.2.2.3 Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và thực hành tiết kiệm ............... 20
Chƣơng 2: VẬN DỤNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ ĐI ĐÔI VỚI THỰC HÀNH TIẾT KIỆM
TRONG THỜI KỲ HIỆN NAY .................................................... 26
2.1 Thực trạng, sự cần thiết phải vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh
về phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm trong
thời kỳ hiện nay ............................................................................................ 26
2.1.1 Thực trạng của việc phát triển kinh tế đi đôi với thực hành
tiết kiệm trong thời kỳ hiện nay ..................................................................... 26
2.1.1.1 Những thành tựu cơ bản mà đất nước ta đã đạt được
trong những năm qua ..................................................................................... 26
2.1.1.2 Những mặt hạn chế, yếu kém cần khắc phục ...................................... 33
2.1.1.3. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng trên .................................. 36
2.1.2 Sự cần thiết phải vận dụng quan điểm về kinh tế của Hồ Chí Minh
đi đôi với thực hành tiết kiệm trong điều kiện hiện nay ............................. 37
2.2.Giải pháp và phƣơng hƣớng .................................................................. 39
2.2.1 Nâng cao tinh thần thi đua tích cực lao động, học tập,
Tống Minh Tú
5
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt
xuất. Suốt cả cuộc đời, Người phấn đấu hi sinh vì độc lập, tự do cho Tổ quốc,
hạnh phúc cho nhân dân. Cùng với sự nghiệp của Đảng ta, dân tộc ta, Hồ Chí
Minh đã để lại cho hậu thế một tài sản tinh thần vô giá. Trong hệ thống tư
tưởng của Người, tư tưởng kinh tế là một trong những mẫu mực của sự vận
dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và những
quy luật kinh tế khách quan vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Tuy
nhiên, theo Hồ Chí Minh đi đôi với phát triển kinh tế, cần phải thực hành tiết
kiệm chống lãng phí, những tư tưởng đó đã chỉ đạo cho Đảng ta hoạch định
đường lối chính sách, kinh tế trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của cách
mạng nhằm đảm bảo kháng chiến thắng lợi và kiến quốc thành công. Ngày
nay, điều kiện trong nước và thế giới đã có những biến đổi sâu sắc, nhưng
tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tưởng kinh tế nói riêng vẫn có ý nghĩa lớn
lao.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đã xác định:
Đường lối đổi mới, tạo cho nền kinh tế Việt Nam đạt được nhiều thành tựu
quan trọng nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà
Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng (1994) đã xác định, trong đó có
nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, ngày càng biểu hiện rõ nét. Thực tiễn đòi
hỏi chúng ta phải đi sâu nghiên cứu tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh nhằm rút ra
những bài học và vận dụng những tư tưởng đó phù hợp với bối cảnh quốc tế
mới để góp phần đắc lực vào việc phát triển nền kinh tế nói chung, thúc đẩy
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thành công nói riêng cùng
với sự phát triển kinh tế của đất nước. Hồ Chí Minh cũng đưa ra những yêu
TS. Nguyễn Khánh Bật (chủ biên) : “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
nông dân ở Việt Nam”, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội, 2001.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa văn hóa với kinh tế và
chính trị”, Vũ Đức Khiến, Tạp chí khoa học xã hội số 2, 2003.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí
và bệnh quan liêu”, tác giả Xuân Hoàng, Tạp thể kinh tế và phát triển 20, t12,
2009.
GS. Song Thành. “Hồ Chí Minh – Nhà tư tưởng lỗi lạc”, Nxb lý luận
chính trị, Hà Nội, 2005.
Tống Minh Tú
8
Lớp K34B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết của các tác giả, các nhà nghiên cứu về tư
tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực kinh tế và tiết kiệm, chống lãng phí đăng
trên các sách báo và tạp chí khác. Nhưng chưa có một đề tài nào thực sự đi
sâu vào nghiên cứu cùng một lúc cả hai vấn đề kinh tế và thực hành tiết kiệm
chống lãng phí. Vì vậy, tác giả xin góp một phần nhỏ vào việc làm sáng tỏ,
vấn đề kinh tế đi đôi với việc thực hành tiết kiệm chống lãng phí trong tư
tưởng Hồ Chí Minh. Mặc dù vậy, khóa luận cũng không thể tránh khỏi những
thiếu sót mong độc giả bổ sung để khóa luận được hoàn thiện.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích:
Đó là hệ thống các tư tưởng, chuẩn mực đạo đức của Hồ Chí Minh về
vấn đề kinh tế và thực hành tiết kiệm và những ảnh hưởng tích cực của hệ
thống tư tưởng đó trong giai đoạn hiện nay.
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu những tư tưởng, đạo đức chủ đạo về vấn đề kinh
tế và thực hành tiết kiệm có tác dụng thiết thực đến vấn đề phát triển kinh tế
đất nước và chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện nay như: tư tưởng về kinh tế
trong thời kỳ kháng chiến và sau này khi xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội, tư
tưởng về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, sự cần thiết phải vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề kinh tế và thực hành tiết kiệm trong
giai đoạn hiện nay.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo, khóa luận
có kết cấu làm 2 chương:
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế đi đôi với thực
hành tiết kiệm.
Chương 2: Sự vận dụng của Đảng về phát triển kinh tế đi đôi với thực
hành tiết kiệm của Hồ Chí Minh trong thời kỳ hiện nay.
Tống Minh Tú
10
Lớp K34B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Lớp K34B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được
sẽ góp lại và phát cho người nghèo”[4, Tr.201 – 202].
Hai mươi ngày sau đó, ngày 28-5-1945, trên tờ báo Cứu quốc số 53,
dưới tiêu đề “Sẻ cơm nhường áo”, Chủ tịch Hố Chí Minh kêu gọi: “Hỡi đồng
bào yêu quý, từ tháng giêng đến tháng bẩy năm nay, ở Bắc Bộ ta đã có hai
triệu người chết đói. Kể đó lại bị nước lụt, nạn đói càng tăng thêm, nhân dân
càng đói khổ. Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng
ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin
thực hành trước:
Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn 3 bữa. Đem gạo đó
(mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo.
Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa
lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói”[4, Tr. 201- 202].
Từ thực tế của gia đình và cuộc sống của người dân mất nước, Người
đồng cảm với nhân dân, thương dân, trọng dân. Để đùm bọc lẫn nhau, đùm
bọc trong cảnh đa số người dân không lấy làm gì sung túc, theo Người thì yếu
tố tiết kiệm trở thành điều kiện không thể thiếu được. Mỗi người chỉ cần dè
sẻn một tý, nhiều người cùng dè sẻn là có thể cưu mang, đùm bọc người khác.
Vì vậy, tinh thần tiết kiệm trở thành ý thức, tâm lý của cả cộng đồng, tiết
kiệm là thước đo của đạo đức.
Trong điều kiện của Đảng cầm quyền, nếu giáo dục và thực hành tốt
Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì mọi công việc sẽ được tiến hành khẩn trương, có
thuộc địa, bóc lột công nhân, công dân.
Những cách đó chúng ta đều không thể làm được chúng ta chỉ có cách
là một mặt tăng gia sản xuất, một mặt tiết kiệm để tích trữ thêm vốn cho công
cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của ta”[11, Tr. 485].
Như vậy, tư tưởng phát triển kinh tế đi đôi với thực hành tiết kiệm
không chỉ xuất phát từ truyền thống văn hóa dân tộc, từ tấm lòng yêu nước
thương dân mà nó còn xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Chủ tịch
Hồ Chí Minh xác định, chỉ đẩy mạnh sản xuất thực hành thiết kiệm thì đất
nước mới phát triển được, nhân dân mới có cuộc sống ấm no hạnh phúc.
1.1.1.3 Xuất phát từ mục đích giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên và toàn
thể nhân dân
Vấn đề giáo dục đạo đức cán bộ, đảng viên và nhân dân ta là vấn đề mà
Chủ tich Hồ Chí Minh luôn chú trọng. Đặc biệt trong điều kiện đất nước còn
Tống Minh Tú
13
Lớp K34B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
nhiều khó khăn, Người luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên và nhân dân phải
biết: Cần, Kiệm, Liêm, Chính để xây dựng đất nước. Người cho rằng đây là
những phẩm giá cơ bản, tốt đẹp nhất để làm người, làm cán bộ, đảng viên.
Người nói:
“ Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Trường ĐHSP Hà Nội 2
“Chúng ta muốn xây dựng một xã hội mới, một xã hội tự do bình đẳng, một
xã hội Cần, Kiệm, Liêm, Chính – cho nên chúng ta phải tẩy cho sạch hết
những thói xấu xủa xã hội củ”. “Cần, Kiệm, Liêm, Chính là nền tảng của Đời
sống mới, nền tảng của thi đua ái quốc”[4, Tr. 206].
1.1.2 Nhân tố chủ quan
Thứ nhất, sinh ra và lớn lên ở một vùng quê Nghệ An nghèo khó, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã chứng kiến nỗi thống khổ của người dân mất nước.
Người nông dân hiền lành chất phác, cần cù lao động, nhưng bị một cổ hai
tròng áp bức, sưu cao, thuế nặng, làm quần quật mà vẫn cơm không đủ ăn, áo
không đủ mặc. Với tấm lòng yêu nước, thương dân, Người đã ra đi tìm đường
cứu nước, giải phóng cho quê hương đất nước khỏi cảnh nô lệ lầm than. Một
tâm hồn, một ý chí của nhà yêu nước, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành với
trái tim yêu nước thương dân, sẵn sàng hi sinh gian khổ vì độc lập của Tổ
quốc vì hạnh phúc của nhân dân, đó là phẩm chất đáng có của một nhà lãnh tụ
vĩ đại.
Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh với đầu óc tư duy độc lập tự chủ, sáng
tạo cùng với đầu óc phê phán tinh tường, sáng suốt trong việc nghiên cứu, tìm
hiểu và vận dụng tinh hoa văn hóa nhân loại, Người đi qua nhiều nước tiếp
thu nhiều nền văn hóa khác nhau, đặc biệt là văn hóa của các nước đế quốc và
thuộc địa. Từ đó Người tiếp thu vận dụng một cách sáng tạo vào công cuộc
giải phóng dân tộc và phát triển đất nước, trong từng thời kỳ và từng giai đoạn
khác nhau của cuộc kháng chiến, đặc biệt là mô hình kinh tế ở Liên Xô và các
nước Tư Bản phát triển.
Thứ ba, đó là sự khổ công học tập, rèn luyện và tích lũy kinh nghiệm
trong hoạt động thực tiễn qua các phong trào đấu tranh cách mạng của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động quốc tế, cụ thể như khi Người tham ra và
hoạt động tại Đảng Cộng Sản Pháp và Quốc tế Cộng sản tại Nga. Người đã
Tống Minh Tú
quan trọng bậc nhất của chúng ta hiện nay là phát triển sản xuất, để nâng cao
đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Sản xuất là một mặt trận chính để
nâng cao đời sống của nhân dân và xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội.
Trong các bài nói chuyện với cán bộ và nhân dân địa phương, Người
tiếp tục khẳng định tính tất yếu của việc đẩy mạnh sản xuất. Người coi đẩy
mạnh sản xuất là vấn đề trọng tâm, gốc rễ của mọi vấn đề kinh tế. Vì vậy, tất
cả mọi chủ trương, đường lối, chính sách kinh tế của Đảng ta đều nhằm không
Tống Minh Tú
16
Lớp K34B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
ngừng đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm để nâng cao đời sống vật chất,
văn hóa của nhân dân. Hồ Chí Minh căn dặn: “Chủ và thợ đều phải nhớ rằng:
tăng gia sản xuất chẳng những có lợi riêng cho chủ và thợ, mà còn có lợi
chung cho nền kinh tế của Tổ quốc, lợi chung cho toàn thể đồng bào”[9, Tr.
2105].
Ngay khi vừa giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến
việc vận động nhân dân ta tăng gia sản xuất để đẩy lùi nạn đói và ổn định đời
sống. Thực hiện lời kêu gọi đó của Người, nhân dân cả nước đã đoàn kết và
tích cực thi đua sản xuất với khẩu hiệu “tấc đất, tấc vàng” nhờ đó, nông
nghiệp được khôi phục và phát triển, nạn đói được đẩy lùi, đời sống của nhân
dân được nâng lên một bước
Bước vào thời kỳ quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội, Người xác định: “Hiện
nhiệm vụ dân chủ cho toàn dân
Ngoài mục tiêu kinh tế, kế hoạch đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết
kiệm còn nhằm mục tiêu giáo dục chính trị sâu sắc cho toàn dân. Người căn
dặn: “… Nó giáo dục cán bộ và nhân dân về quyền hạn và nhiệm vụ dân chủ.
Nó thắt chặt thêm mối đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân. Nó nâng cao trình
độ chính trị của cán bộ, của chiến sĩ và nhân dân. Nó gắn liền lòng yêu nước
với tinh thần quốc tế”[4, Tr. 211].
Phát triển kinh tế, thực hành tiết kiệm không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế
mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn: nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho
nhân dân, xây dựng thành công Chủ Nghĩa Xã Hội và giáo dục nhiệm vụ cách
mạng cho cán bộ, nhân dân. Bởi vì theo Người, chính trị là sự tham gia vào
công việc kinh tế, là việc định hướng đi cho kinh tế, xác định những tri thức,
nhiệm vụ nội dung hoạt động của nền kinh tế.
Thực tiễn lịch sử cách mạng dân tộc cho thấy, sự kết hợp đẩy mạnh sản
xuất và thực hành tiết kiệm có vai trò ảnh hưởng lớn vì có nội dung cụ thể
nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị, mục tiêu cách mạng của từng chặng
đường, từng thời kỳ. Chính nhiệm vụ chính trị, mục tiêu cách mạng đã định
hướng đúng đắn cho cả dân tộc, mọi tổ chức, đơn vị, cá nhân có ý thức về
trách nhiệm của mình và tạo nên tính cách mạng và sức sống của phong trào
đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, như Người đã nói: “Kế hoạch sản
xuất và tiết kiệm là một kế hoạch dân chủ, nghĩa là từ trên xuống dưới, từ
dưới lên trên, nghĩa là Chính phủ trung ương có kế hoạch cho toàn quốc, địa
phương căn cứ theo kế hoạch toàn quốc mà đặt ra kế hoạch thích hợp với với
Tống Minh Tú
18
Lớp K34B - GDCD
Tống Minh Tú
19
Lớp K34B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
phủ bỏ ra 10-15 triệu để mở nhà máy, làm thế này thế khác, phải đem hết sức
dân, tài dân, của dân… làm cho dân”[5].
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng người lao động, coi người lao động
là vốn quý nhất và Người đòi hỏi phải tận dụng lao động sao cho vừa tiết
kiệm vừa đạt hiệu quả cao. Mỗi người chúng ta phải nhận rõ: “Lao động – lao
động chân tay và lao động trí óc – đều là vẻ vang, đáng quý. Chúng ta phải
chống tư tưởng xem khinh lao động.
Các xí nghiệp, các cơ quan, các trường học, các đoàn thể… cần phải
tăng cường kỉ luật lao động, nâng cao tinh thần trách nhiệm, chống mọi hành
động tự do chủ nghĩa và dân chủ quá trớn”[12, Tr. 79].
Như vậy, quan điểm phát triển sản xuất đi đôi với thực hành tiết kiệm
của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bằng mọi cách sử dụng có hiệu quả sức người,
sức của cho công cuộc xây dựng kinh tế. Sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm,
nếu sản xuất mà không biết tiết kiệm thì khác nào như gió vào nhà trống, tiết
kiệm là nghĩa vụ của tất cả mọi người.
Tuy nhiên, Người cho rằng kiệm là không xa xỉ, không hoang phí,
không bừa bãi, nhưng: “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, không phải là “xem
đồng tiền to băng cái nống”, gặp việc đáng làm cũng phải làm, đáng tiêu cũng
Người nói: “Chúng ta phải tìm cách tổ chức sắp đặt sao cho hợp lý để mọi
người có thể làm việc bằng hai, một đồng có thể dùng bằng hai đồng”[11, Tr.
9 – 10]. Việc gì trước kia dùng nhiều người thì nay phải tổ chức sắp xếp sao
cho phải nâng cao được năng suất lao động của từng người, để nhờ đó mà
giảm bớt số người làm mà vẫn đạt được hiệu quả cao.
Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn ác liệt của cuộc
kháng chiến, Người cho rằng ngoài việc lấy binh ra ngoài mặt trận thì cũng
phải tuyển và trưng mộ thêm người vào các nghành sản xuất, phải có đội ngũ
chuyên môn dự bị hay đội quân lao động, dân binh để hỗ trợ vào việc khẩn
cấp. Phải biết tận dụng sức người một cách hợp lý khoa học, cần thiết phải lấy
tuổi thợ trẻ, ít tuổi, thợ đàn bà thay cho trai tráng ra trận. “Lợi dụng sức lao
động thế nào cho khỏi phí một giọt mồ hôi, một giọt máu, mà tăng thêm được
lực lượng kháng chiến”[9, Tr. 1015 – 1017].
Đất nước ta đang trong thời kì khó khăn vì vậy sức người, sức của phải
được tận dụng một cách tối đa, nhưng không phải vì thế mà hoang phí. Vừa
tận dụng nhưng phải tận dụng đúng cách, khoa học không lãng phí vô ích. Có
như thế kháng chiến mới thành công, đất nước mới phát triển. Người cũng
Tống Minh Tú
21
Lớp K34B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
nhắc nhở chính quyền và đoàn thể. Đã là người chủ thì phải biết tự mình lo
toan, gánh việc, không ỷ lại, không ngồi chờ. Mỗi người phải ra sức góp
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
bù, mất thì giờ, hại sức khỏe mà không đạt được kết quả thiết thực, lãng phí
của cải thời gian của đất nước.
*Tiết kiệm tiền của
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiết kiệm tiền của nghĩa là không phung
phí nguyên liệu, vật liệu và tiền của trong quá trình sản xuất và tiêu dùng.
Người cho rằng, phương châm để tiết kiệm phải cho tất cả các cấp, các
nghành, từng cá nhân tự giác thi hành và tìm cách tổ chức, sắp đặt cho hợp lý.
Người thường xuyên nhắc nhở: “Chúng ta phải tiết kiệm tiền của. Việc gì
trước phải dùng nhiều người, nhiều thời giờ, phải tốn hai vạn đồng. Nay vì
tiết kiệm được sức người và thời giờ, nguyên liệu, cho nên chỉ tốn một vạn là
đủ”[11, Tr. 484 – 502]. Nói tóm lại, chúng ta phải tìm cách tổ chức sắp đặt
cho hợp lí, để 1 người có thể làm việc như hai người, một ngày có thể làm
việc của hai ngày, một đồng có thể dùng bằng hai đồng. Một trong những
hình thức tiết kiệm tiền của mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm trong
hoàn cảnh đất nước nghèo mà ít vốn như nước ta, đó là quay vòng vốn. Chỉ có
tận dụng vốn, quay vòng vốn thì mới làm được nhiều lần và sản xuất được
nhiều.
Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào cả nước thực hành tiết
kiệm, tất cả mọi người từ trên xuống dưới, từ thành thị đến nông thôn đều tiết
kiệm và phong trào ấy nhất định phải lan rộng, ăn sâu, nhất định sẽ thành
công tốt đẹp. Theo người, ai cũng có thể và cũng nên tiết kiệm, tiết kiệm có
thể thực hiện ở nhiều lĩnh vực và hình thức khác nhau. Người cũng lấy những
lời dạy, căn rặn của các lãnh tụ ở các nước Xã Hội Chủ Nghĩa để khuyên răn
đồng bào. Đồng chí Xtalin dạy chúng ta: “Phải tiết kiệm tiền bạc, lại phải chi
căn bệnh lãng phí đó một cách tích cực và hiệu quả, tránh để diễn ra nhiều lần
và tha hóa. Người cho rằng “… Đã có quyền hạn làm chủ thì phải làm tròn
nghĩa vụ của người chủ. Nghĩa vụ đó là: cần kiệm xây dựng nước nhà, xây
dựng chủ nghĩa xã hội nhằm mục đích không ngừng nâng cao đời sống vật
chất và văn hóa của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”[13, Tr. 290].
- Đối với nghành giáo dục, thầy và trò trong trường học phải biết tận
dụng thời gian truyền đạt và tiếp thu tri thức có kết quả tốt nhất, đồng thời tiết
kiệm giấy bút, biết giữ kỷ luật.
- Với nghành kinh tế nông nghiệp, nông dân phải tận dụng từng tấc đất,
không bỏ hoang tận dụng một cách có hiệu quả trong sản xuất ra của cải vật
chất, chỉ có như thế mới có thể tồn tại và nghĩ đến việc khác. Như Ph.Ănggen
Tống Minh Tú
24
Lớp K34B - GDCD
Khóa luận tốt nghiệp
Trường ĐHSP Hà Nội 2
đã từng khẳng định: “Trước hết con người cần phải có ăn, uống, ở, mặc, trước
khi nghĩ đến truyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật và tôn giáo”[16, Tr.
264]. Đúng vậy, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người về sản
phẩm thiết yếu, được sản xuất ra từ nông nghiệp ngày càng tăng và đa dạng,
phong phú. Vì vậy phải đặc biệt quan tâm phát triển sản xuất nông nghiệp,
nông nghiệp là một mặt trận hàng đầu.
Thật vậy, trong giai đoạn vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Sau Cánh
mạng tháng Tám, chính quyền Cách mạng non trẻ đứng trước muôn vàn khó