Khóa luận tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hoá học là một môn khoa học thực nghiệm. Hoá học liên quan đến nhiều
hiện tượng tự nhiên trong đời sống, gắn bó chặt chẽ với các vấn đề môi trường, kinh
tế, xã hội. Hoá học là một trong những môn học then chốt ở bậc trung học và đại
học. Mục tiêu của môn Hoá học đã xác định rõ: “Ngoài những kiến thức, kĩ năng
hoá học cơ bản mà người học phải đạt được, cần chú ý nhiều hơn đến việc hình
thành các kĩ năng vận dụng kiến thức, kĩ năng tiến hành nghiên cứu khoa học như:
quan sát, phân loại, thu thập thông tin, dự đoán khoa học, đề ra giả thuyết, giải
quyết vấn đề, tiến hành thí nghiệm từ đơn giản đến phức tạp… để người học có khả
năng tự phát hiện và giải quyết một cách chủ động, sáng tạo các vấn đề thực tế có
liên quan đến Hoá học”.
Thực tế hiện nay cho thấy, việc dạy và học ở các trường phổ thông vẫn chỉ
áp dụng các phương pháp truyền thống, do vậy học sinh lĩnh hội kiến thức một cách
thụ động, thiếu sự năng động và sáng tạo. Không nằm ngoài thực tế đó, môn Hoá
học cũng đòi hỏi phải có những biện pháp mạnh mẽ, đồng bộ, khẩn trương để khắc
phục những khuyết điểm, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Hoá học nói riêng
và các môn học ở trường phổ thông nói chung.
Trong khi việc dạy và học Hoá học ở trường phổ thông đang gặp phải những
vấn đề bất cập nêu trên thì ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học bước đầu đã
đem lại những hiệu quả rõ rệt. Với tiêu chí “ Tri thức là của chung của nhân loại và tri
thức cần phải được chia sẻ” thì mỗi con người đều có cơ hội như nhau trong việc tiếp
cận các tri thức mới. Vì vậy, cần phải có một môi trường tương tác đa phương tiện, môi
trường đó có nguồn học liệu tập trung, giúp mọi người ở mọi lúc, mọi nơi có thể dễ
dàng sử dụng, trao đổi thông tin và tương trợ lẫn nhau.
Sự phát triển của công nghệ thông tin cũng kéo theo sự ra đời của nhiều phần
mềm hữu ích phục vụ cho việc dạy và học, đặc biệt có những phần mềm hỗ trợ tích
cực cho việc xây dựng và đóng gói bài giảng điện tử, giúp cho giáo viên và học sinh
đặc biệt là phần Hoá vô cơ.
Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc xây dựng trang Web.
Thu thập thông tin trên mạng Internet phục vụ cho việc thiết kế trang Web.
Xây dựng trang Web.
Chỉnh sửa và hoàn thiện trang Web.
Dương Thị Hiền Lương
2
SP2 – Khoa Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thống kê toán học
7. Cấu trúc của khoá luận
Dạy cách học, bồi dưỡng năng lực tự học, tự đánh giá.
Học không chỉ là nắm lấy kiến thức mà cả phương pháp giành lấy kiến
thức
Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực.
Sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại trong đó có ứng dụng Công
nghệ thông tin (CNTT) trong giảng dạy là phổ biến.
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, việc sử dụng CNTT trong quá trình dạy
học nhằm phát huy khả năng nhận thức tích cực của học sinh và nâng cao chất
lượng dạy học đã trở thành xu thế mạnh mẽ. Ở một số nước phát triển như Mỹ, Anh
trẻ em đến trường đều được cung cấp những kiến thức cơ bản về CNTT, mạng
Internet. Khu vực Châu Á, Thái Bình Dương đã, đang và có rất nhiều nỗ lực trong
việc xây dựng các phần mềm dạy học các môn học và đưa CNTT vào các trường
học, cấp học.
1.1.2. Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta.
Nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của hội nhập và phát triển
vì vậy xu hướng đổi mới, phương pháp dạy học ở nước ta phải phù hợp với xu
chỉ sử dụng những gì vốn có trong tự nhiên mà còn chủ động sản xuất ra những của
cải vật chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người, chủ động cải biến
môi trường tự nhiên và xã hội. Vì vậy mà hình thành và phát triển tính tích cực là
một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người
năng động thích ứng và góp phần phát triển xã hội.
Tích cực học tập: là tích cực nhận thức, biểu hiện ở khát vọng hiểu biết cố
gắng phát triển trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Trong học tập học sinh phải khám phá ra những tri thức hiểu biết mới đối với
bản thân dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên.
Tính tích cực trong hoạt động học tập liên quan trước hết đến động cơ học
tập, động cơ đúng tạo ra hứng thú, hứng thú là tiền đề của tự giác. Tính tích cực tạo
ra nếp tư duy độc lập, tư duy độc lập là mầm mống của sáng tạo.
1.2.2. Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp tích cực
Dương Thị Hiền Lương
5
SP2 – Khoa Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
Phương pháp tích cực có 4 dấu hiệu đặc trưng cơ bản để phân biệt với các
phương pháp thụ động: [7].
hình thành nhiệm vụ chung. Trong nhà trường phương pháp học tập hợp tác được tổ
chức ở cấp nhóm, tổ, lớp. Trong việc học tập hợp tác, tính cách năng lực của mỗi
thành viên được bộc lộ, tính ỷ lại được uốn nắn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ
được phát triển.
Kết hợp đánh giá của thầy cô với tự đánh giá của trò
Trong phương pháp tích cực giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh phát
triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học. Bên cạnh đó giáo viên cần tạo
Dương Thị Hiền Lương
6
SP2 – Khoa Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
điều kiện thuận lợi để học sinh tham gia đánh giá lẫn nhau. Tự đánh giá đúng và
điều chỉnh hành động kịp thời là năng lực cần cho sự thành đạt trong cuộc sống của
học sinh sau này.
Để đào tạo những con người năng động sớm thích nghi với đời sống xã hội
thì việc kiểm tra - đánh giá không chỉ dừng lại ở nhu cầu tái hiện kiến thức lặp lại
những kỹ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh óc sáng tạo trong việc
giải quyết những tình huống cụ thể.
1.2.3. Áp dụng dạy và học tích cực trong giảng dạy môn hóa học
Trong hệ thống các phương pháp dạy học truyền thống có một số phương
pháp tích cực đó là:
nắm được cả con đường chiếm lĩnh tri thức và giáo viên đóng vai trò định hướng
cho hoạt động nhận thức của học sinh
Hoá học là bộ môn gắn liền với thực nghiệm vì thế dạy hóa học không chỉ là
quá trình truyền thụ kiến thức một chiều từ thầy và trò mà là quá trình giáo viên
thiết kế tổ chức điều khiển các hoạt động của học sinh để đạt được mục tiêu cụ thể
của mỗi bài, mỗi chương mỗi phần Hoá học cụ thể.
Dương Thị Hiền Lương
7
SP2 – Khoa Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
Áp dụng dạy và học tích cực trong giảng dạy hoá học cần phải đổi mới các
phương diện sau:
Về mục tiêu dạy học:
Trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông cần thiết, đồng thời giúp
học sinh vận dụng những kiến thức đó vào đời sống hàng ngày
Về nội dung dạy học:
Chú trọng thiết kế nội dung dạy học theo nguyên tắc hoạt động để HS tự
Dương Thị Hiền Lương
8
SP2 – Khoa Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
không phải là nhồi nhét thật nhiều kiến thức vào đầu học sinh. Giáo viên là người
định hướng đạo diễn cho học sinh tự mình khám phá ra chân lý tự mình tìm ra kiến
thức.
1.3. Công nghệ mới và việc đổi mới phƣơng pháp dạy học.
1.3.1. CNTT với đổi mới phương pháp dạy học.
Công nghệ thông tin - đặc biệt là Internet, bắt đầu được sử dụng ở Hoa Kỳ
vào năm 1995 (Wiles và Bondi, 2002) và sau đó bắt đầu được phổ biến rộng rãi trên
toàn thế giới. Ngày nay, với việc dạy và học thì vai trò của CNTT là rất quan trọng
và càng quan trọng hơn khi vấn đề đổi mới phương pháp dạy học trong giáo dục
hiện nay đang là vấn đề rất cấp thiết.
Ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học là một trong những
giải pháp hữu hiệu nhằm phát huy tích tích cực, hiệu quả và sáng tạo của cả giáo
viên và học sinh; nâng cao tính tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet của
học sinh, tạo điều kiện để học sinh có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung
học phù hợp; khuyến khích giáo viên, giảng viên soạn bài trình chiếu, bài giảng
điện tử và giáo án trên máy tính; xóa bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do
khoảng cách địa lý đem lại.
Theo quan điểm của CNTT, để đổi mới phương pháp dạy học người ta tìm
những " Phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều
hơn và hiệu quả hơn”. Chính vì mục tiêu đó, CNTT đã sáng tạo ra những phương
tiện dạy học nhằm trợ giúp GV và HS có thể tự tìm tòi và phát huy kiến thức một
cách hiệu quả nhất.
Các phương tiện sẽ hỗ trợ, chuẩn hoá các bài giảng mẫu, đặc biệt đối với
những phần khó giảng, những khái niệm phức tạp.
Học sinh không bị thụ động, có nhiều thời gian nghe giảng để đào sâu suy
nghĩ... và điều quan trọng hơn là nhiều học sinh được dự và nghe giảng bài của
nhiều giáo viên giỏi. [8].
Một số hướng nghiên cứu ứng dụng CNTT:
Ứng dụng công nghệ hội tụ đa phương tiện, xây dựng trạm học tập tương
tác, xây dựng mạng trực tuyến và các trang Web học tập để học sinh có thể tự học,
tự chiếm lĩnh tri thức.
Xây dựng và thiết kế BGĐT bằng các phần mềm mô phỏng trên máy tính
nhằm hỗ trợ cho phương pháp dạy học truyền thống trong quá trình giảng dạy.
Xây dựng phần mềm dạy học trên đĩa CD-ROM phục vụ việc tự học trên
việc học. Ngày nay với nhu cầu hội nhập và phát triển, việc dạy không đơn giản là
truyền đạt kiến thức một chiều từ thầy đến trò mà là việc truyền đạt kiến thức 2
chiều. Việc dạy của thầy có tác động điều khiển việc học của trò, qua đó trò tự tìm
tòi và phát hiện ra kiến thức, từ đó phát huy cao độ được tính tự giác tích cực tự lực
của trò. Việc học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại. Trong đó chủ thể tự
thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người bằng cách thu nhập
xử lý thông tin lấy từ môi trường sống xung quanh mình. Và với sự tiếp cận CNTT
việc dạy và học đều được sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại làm cho chúng trở nên
dễ dàng và phát triển theo hướng tích cực.
1.3.3. Vì sao phải ứng dụng CNTT trong dạy học
Tác dụng của các giác quan trong việc tiếp nhận và lưu giữ tri thức là không
thể phủ nhận. Ai cũng biết rằng chúng ta dùng cả năm giác quan: thi giác, thính
giác, khứu giác, vị giác, xúc giác để học. Tuy nhiên, theo như kết quả điều tra của
các nhà nghiên cứu thì chúng ta học được 83% qua thị giác, 10% qua thính giác và
phần còn lại qua khứu giác, vị giác, xúc giác. Chính vì vậy, người dạy nên nắm chắc
thực tế này và dùng nó để tận dụng tối đa trong việc giúp người học đạt kết quả tốt
hơn bằng cách tăng cường “đa giác quan hóa” quá trình dạy học. Trực quan hóa làm
cho người học hiểu một cách cụ thể và rõ ràng, hạn chế hiểu sai.
Tích hợp CNTT trong quá trình dạy học góp phần cuốn hút người học tham
gia tích cực vào bài giảng, làm cho lớp học năng động, không buồn tẻ, hiệu quả
giảng dạy tốt hơn. CNTT giúp tối đa hóa thời gian mà việc học thật sự diễn ra, tạo
thuận lợi cho các mối quan hệ tương tác. Vấn đề sử dụng công nghệ mới vào quá
trình dạy và học có tầm quan trọng lớn. Chúng ta đang sống ở trong thời đại thông
tin, thời đại mà nhân loại đang quá độ sang nền kinh tế tri thức, mà đặc điểm của nó
là sự bùng nổ thông tin, tri thức. Trong khung cảnh đó, cũng chỉ có thể nhờ công
Dương Thị Hiền Lương
11
đã được thử nghiệm và đem lại những hiệu quả nhất định.
Hiện nay, hầu hết các trường THPT đã được trang bị cơ sở vật chất để dạy
môn tin học, ngoài ra còn có phòng học đa phương tiện, các phòng thực hành bộ
Dương Thị Hiền Lương
12
SP2 – Khoa Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
môn giúp cho giáo viên, học sinh dạy và học thuận lợi hơn. Các trường sư phạm
ũng bồi dưỡng cho sinh viên ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường những kiến
thức cơ bản về tin học, ứng dụng tin học trong dạy học, đổi mới phương pháp dạy
học. Riêng đối với những giáo viên giảng dạy lâu năm chưa tiếp cận được CNTT,
Bộ GD đã tổ chức những lớp bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ hiểu biết về tin
học. Tuy nhiên do những khó khăn về kinh tế hạn hẹp, trình độ giáo viên chưa được
đồng đều nên việc ứng dụng CNTT trong dạy học còn gặp nhiều khó khăn, chưa
được phổ biến rộng rãi và phần lớn chỉ tập trung ở một số trường đại học, trung tâm
công nghiệp và các trường Phổ thông ở các thành phố lớn.
Từ năm 2001, trong nước đã xây dựng một số phần mềm dạy học, các đĩa
CD-ROM về thí nghiệm hoá học, BGĐT ở phổ thông nhưng chất lượng chưa cao.
Năm 2008 là năm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học. Trong năm
2008-2009, Bộ GD-ĐT đã cung cấp cho toàn ngành các phần mềm quản lý quá
trình học tập và rèn luyện của học sinh, hỗ trợ xếp thời khoá biểu, hệ thống họp và
đào tạ qua mạng...giúp toàn ngành tiến nhanh, tiến mạnh về ứng dụng CNTT trên
phạm vi rộng lớn.
1.4.2. Xu hướng tích hợp CNTT đa phương tiện để nâng cao hiệu quả dạy và học
Đa phương tiện là phương pháp giới thiệu thông tin bằng máy tính, sử dụng
Nó cho phép người học học thêm ở nhà, đối với những người đã nghỉ học trong một
thời gian dài, máy tính cho phép họ tự làm quen lại với môn học một cách nhanh
chóng.
Mặc dù những tài liệu về đa phương tiện truyền thông được sử dụng rất
nhiều trong giáo dục nhưng trên thị trường lại không có nhiều các tài liệu tốt.
Những chuyên gia tốt nhất về đa phương tiện truyền thông thì lại đi vào lĩnh vực
sản xuất các sản phẩm trò chơi máy tính hoặc phim ảnh. Người học sẽ không chấp
nhận kiến thức được truyền đạt theo cách truyền thống - qua sách giáo khoa khi đã
quen học qua máy tính.
Dù là thời đại nào chăng nữa thì chúng ta không thể bỏ qua tầm quan trọng
của sách, nếu người học không đọc sách mà chỉ tập trung vào môi trường đa
phương tiện truyền thông thì khả năng tư duy và suy nghĩ của họ sẽ trở nên rất hạn
chế. Nếu các phương pháp giáo dục của chúng ta dựa hoàn toàn vào đa phương tiện
truyền thông mà không sử dụng sách thì khả năng văn chương của chúng ta sẽ yếu
đi. Chúng ta vẫn phải dựa vào ngôn ngữ để tự suy nghĩ và tư duy.
1. 5. Sự cần thiết của việc sử dụng các trang Web dạy học hiện nay
Thứ nhất: Môi trường dạy học hiện nay có tích hợp công nghệ sẽ mang một
cấu trúc mới đầy triển vọng với những đặc trưng sau:
Hệ thống tự tổ chức (có định hướng của người dạy), mang tính mở.
Dương Thị Hiền Lương
14
SP2 – Khoa Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
Môi trường bình đẳng, dân chủ, tự nguyện.
Quá trình dạy học sẽ có một sự biến đổi mạnh mẽ cả về chất và lượng.
SP2 – Khoa Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
Chuyển từ hoạt động với những người học có năng lực khá là chủ yếu
sang hoạt động với toàn thể người học (thông qua cá nhân, cặp hoặc nhóm nhỏ để
thực hiện các bài tập cụ thể với những chỉ dẫn và dữ liệu đã cho trong WEB).
Phát huy tối đa tính tích cực, chủ động của người học (mỗi người học sẽ
tự chọn cho mình cách thức, cấp độ và tốc độ giải quyết nhiệm vụ học tập).
Hoạt động đánh giá dựa trên mục tiêu cụ thể (có thể sử dụng bất cứ hình
thức nào để giải quyết nhiệm vụ miễn là đạt mục tiêu).
Tiếp cận theo hướng cạnh tranh lành mạnh sẽ chiếm ưu thế chủ đạo trong
mọi hoạt động (cạnh tranh ngay giữa các thành viên trong nhóm, giữa các nhóm,
giữa các hình thức nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập).
Chuyển từ chỗ người học chỉ chiếm lĩnh một loại kiến thức (đơn ngành)
sang việc tích hợp nhiều loại kiến thức (đa ngành, đa lĩnh vực).
Chuyển từ tư duy ngôn ngữ là chủ yếu sang tư duy tổng hợp nhờ đa giác
quan hoá trong quá trình dạy học (người học có thể thao tác được với bài giảng có
kèm theo hình ảnh, âm thanh, mô phỏng sinh động)
Dương Thị Hiền Lương
16
SP2 – Khoa Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
CHƢƠNG 2
Hãy chú ý tới trang chủ vì những người xem sẽ nhìn thấy trước tiên. Trang
chủ nên thu hút và cung cấp thông tin hữu ích. Nếu nó không đủ tiêu chuẩn như đã
đề cập thì các độc giả sẽ dễ rời bỏ.
Dương Thị Hiền Lương
17
SP2 – Khoa Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
Bạn phải nhớ rằng mục tiêu chính của các dịch vụ thiết kế web là chú trọng
vào nhu cầu khách ghé thăm. Website nên thu hút, dễ đọc và dễ điều hướng. Hãy
chú ý nhiều hơn tới những điểm quan trọng trên khi thiết kế website.
Việc kết hợp những nguyên tắc trên sẽ giúp bạn có một website hiệu quả
2.2. Quy trình xây dựng trang Web tƣ liệu hỗ trợ dạy học
Có thể tóm tắt qui trình xây dựng trang Web tư liệu hỗ trợ dạy học thành các
bước sau:
Xây dựng kịch bản cho trang Web
Lựa chọn công cụ và những phần mềm thích hợp để xây dựng trang Web tư
liệu hỗ trợ dạy học
Xây dựng và chuẩn bị học liệu
Vận hành thử và hoàn thiện trang Web
2.1.1. Xây dựng kịch bản cho trang Web
Kịch bản sư phạm
Kịch bản sư phạm có vai trò quan trọng trong việc xây dựng trang Web. Nó
cho thấy sự logic về mặt nội dung kiến thức và những ý tưởng triển khai nội dung
chọn loại phần mềm của từng giáo viên.
2.1.2. Lựa chọn công cụ và những phần mềm thích hợp để xây dựng trang Web
tư liệu hỗ trợ dạy học
Việc lựa chọn các công cụ thiết kế Web sẽ rất quan trọng, các công cụ này
phải đạt các yêu cầu cơ bản như hiện đại, dễ thiết kế và khả năng ứng dụng cao.
Hiện nay trên thị trường và trên Internet cung cấp rất nhiều phần mềm hỗ trợ xây
dựng Website, mỗi phần mềm đều có ưu và nhược điểm của nó, việc lựa chọn công
cụ tốt không những dễ sử dụng, mà còn hỗ trợ nhiều tính năng và không đòi hỏi
phải lập trình bằng các ngôn ngữ bậc cao, không yêu cầu khả năng người sử dụng
phải được đào tạo một cách chính quy về tin học.
Qua nghiên cứu chúng tôi đã lựa chọn phần mềm FronPage làm công cụ để
xây dựng trang Web tư liệu hỗ trợ dạy học này.
a. Những ưu điểm của FrontPage
Hiện đại: Nó phải là công cụ multimedia (kết hợp âm thanh, hình ảnh,
hoạt hình, video…), có vậy mới tạo ra những phần mềm có tính khoa học và tính sư
phạm cao.
Dễ thiết kế: Không đòi hỏi người viết phải là lập trình viên thành thạo với
các ngôn ngữ lập trình cao, có vậy mới đáp ứng được khả năng tin học chung của
giáo viên và học sinh
Dương Thị Hiền Lương
không phụ thuộc vào hệ điều hành, chất lượng hình ảnh cao nhưng dung lượng lớn,
thường dùng cho chụp ảnh kỹ thuật số.
PGN (Portable Network Graphics) là một định dạng ảnh gần giống
với Gif nhưng ít được sử dụng trên trang web do các trình duyệt web cũ không biên
dịch được các hình ảnh này.
Đối với hoạt hình và phim video
Có thể tạo những ảnh động bằng chính phần mềm kèm theo FrontPage
như Image Composer, Gif Animation, hoặc tạo ảnh động bằng những công cụ làm
hoạt hình khác và chèn vào FrontPage. Đối với các ảnh động, hoặc phim được tạo
ra bởi Macromedia Flash đặc biệt phù hợp cho các trình duyệt Web như Internet
Explorer, Netscape… có thể chạy trực tiếp trên các trình duyệt này nhờ sự hỗ trợ
của shockware, là một plug-in của Internet Explorer mà không cần phải mở Flash
Player. Có thể chèn các tập tin âm thanh vào FrontPage với những định dạng sau:
WAV, MIDI, RA/RAM, AIFF, AU. Việc chèn các tập tin âm thanh làm cho quá
trình multimedia hóa nội dung bài giảng phong phú.
Có thể chèn các video clip vào trang soạn thảo của FrontPage.
Dương Thị Hiền Lương
Liên kết đến các vị trí đánh dấu (Bookmark) trong một trang. Chức
năng này giúp di chuyển đến một vị trí đánh dấu nhanh chóng, dễ dàng mà không
cần sử dụng thanh cuộn.
Liên kết đến các file dữ liệu khác bằng chức năng Hyperlink. Với
chức năng này, từ nội dung chính của bản thiết kế BGĐT, ta có thể di chuyển đến
các file hỗ trợ khác như file âm thanh, hình ảnh, video, file chương trình thí nghiệm
ảo… mà không cần chèn toàn bộ lên nội dung bài giảng. Như vậy, dung lượng của
bản thiết kế BGĐT nhỏ gọn, dễ load mỗi khi mở bản thiết kế. 3
2.1.3. Xây dựng và chuẩn bị học liệu
Ta cần phải lựa chọn, phân loại, sắp xếp toàn bộ học liệu có liên quan đến
nội dung trang Web; phân loại các học liệu theo tiêu chí phục vụ cho nội dung cốt
lõi- phải biết; nội dung bổ trợ- nên biết; nội dung mở rộng- có thể biết, tham
khảo…
Để thuận tiện, trong quá trình chuẩn bị học liệu cần sắp xếp chúng thành các
thư mục riêng. Cây thư mục hợp lý sẽ tạo điều kiện tìm kiếm thông tin nhanh chóng
và giữ được các liên kết trong trang Web.
Các File dữ liệu được sắp xếp bao gồm:
Dạng văn bản bài giảng
Dương Thị Hiền Lương
21
hợp lý từ tổng quát đến cụ thể, các liên kết duy nhất là các liên kết hỗ trợ đường dẫn
tuyến tính.
A1
A2
A3
......
Cấu trúc tuyến tính
Cấu trúc lưới: Lưới là một cách hữu hiệu để tạo mối tương quan giữa các
biến số (ví dụ: một chiều là thời gian, một chiều là thông tin sắp xếp theo một
chuẩn), các trang web như cẩm nang, danh sách khoá học phù hợp nhất cho tổ chức
theo dạng lưới. Để thành công các khối đơn lẻ trong một khung lưới phải có cấu
trúc đồng bộ về chủ đề chính, các cấp chủ đề phụ, đồng thời phải làm cho độc giả
hiểu toàn bộ cấu trúc. Các chủ đề sắp xếp theo dạng lưới thường không được phân
Dương Thị Hiền Lương
22
SP2 – Khoa Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
cấp theo mức độ quan trọng. Sơ đồ tổng quan đồ họa rất hữu dụng cho các Website
dạng lưới để định hướng người sử dụng.
A2
B2
C2
Cấu trúc phân cấp
Cấu trúc mạng: Cấu trúc này phát triển các liên kết dày đặc cả trong site lẫn
site khác. Nó cho phép người sử dụng tổ chức mạng thông tin theo phong cách độc
đáo, khai thác tối đa sức mạnh của các liên kết. Tuy nhiên, cấu trúc này làm người
sử dụng khó dự đoán được các nội dung tiếp theo. Website này chỉ phù hợp với
những site có qui mô nhỏ và trong những site có mục đích giáo dục cao hoặc những
site cho người sử dụng có kinh nghiệm tìm kiếm thêm hoặc bổ sung kiến thức và
không tập trung vào một chủ đề nào.
Dương Thị Hiền Lương
23
SP2 – Khoa Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
A1
B1
A2
Giáo án phần Phi kim
Đề thi và kiểm tra
Tư liệu tham khảo
Mục Giải trí gồm có:
Ảnh vui ngộ nghĩnh
Dương Thị Hiền Lương
24
SP2 – Khoa Hóa học
Khóa luận tốt nghiệp
Truyện cười
Thơ
Lời hay ý đẹp
Đố vui
Khám phá thú vị
Hình 2.1: Giao diện của trang chủ
Diễn đàn: Đây là nơi mà mọi người có thể vào đang ký làm thành
viên và từ đó trao đổi đóng góp kinh nghiệm với nhau cùng với mục đích hoàn thiện
trang Web và cùng nhau học tập tốt hơn.
Gửi bài viết: Các bạn có thể gửi các bài viết ý kiến cũng như đưa