Những vấn đề đặt ra cho nhà nước và các cơ quan có liên quan cũng như các doanh nghiệp trong nước - Pdf 31

PHẦN MỞ ĐẦU:
Với việc coi khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) là một
bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP, sau
20 năm thu hút đầu tư (1988-2007), VN đã gặt hái được những thành công
ngoài mong đợi.
Một trong những yếu tố cơ bản làm nên sức hút về ĐTNN trong 20 năm
qua, là chủ trương nhất quán của Chính phủ VN trong việc coi ĐTNN là một
bộ phận hữu quan của nền kinh tế. Đặc biệt, Luật Đầu tư nước ngoài được
ban hành từ năm 1987 và Luật Đầu tư chung hợp nhất Luật ĐTNN và Luật
Khuyến khích đầu tư trong nước năm 2005 đã tạo ra sự thống nhất trong hệ
thống pháp luật về đầu tư, tạo sân chơi bình đẳng, không phân biệt đối xử
giữa các nhà đầu tư.
Cùng với Luật Đầu tư, Chính phủ đã ban hành một loạt các văn bản pháp
luật tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, trở ngại trong hoạt động của ĐTNN,
tuỳ từng hoàn cảnh cụ thể, Chính phủ đã có những biện pháp hỗ trợ DN trong
xây dựng hạ tầng cơ sở, như đường giao thông, hệ thống cấp/thoát nước, hoàn
chi phí ứng trước xây dựng đường điện tới chân hàng rào, giảm giá, phí tiến
tới quy định một giá điện, nước, cước viễn thông, vận tải... cho DN FDI nhằm
giảm chi phí đầu vào, giúp tăng năng lực cạnh tranh.
Mặc dù đạt được những kết quả khả quan, song ĐTNN thời gian qua
cũng bộc lộ những điểm cần hoàn thiện để đạt mục tiêu thu hút mạnh mẽ hơn
nguồn vốn này. Một trong những điểm mấu chốt là cần hoàn thiện tư duy kinh
tế.
Những vấn đề đặt ra cho nhà nước và các cơ quan có liên quan cũng như
các doanh nghiệp trong nước về thực trạng và những giải pháp cho tình hình
hiện nay đang được dư luận quan tâm. Vì vậy em chọn đề tài này để nghiên
cứu với mục đích muốn hiểu rõ hơn được phần nào về đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam.
1
Đây là một vấn đề rộng cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn, dù rất cố
gắng tìm kiếm tài liệu và nghiên cứu nhưng với kiến thức còn hạn chế nên bài

hơn.
Những biện pháp cải cách trên đã trở thành một trong những yếu tố quan
trọng góp phần khôi phục và tăng nhanh nguồn vốn FDI đầu tư vào Việt Nam
3
trong năm 2005. FDI tăng nhanh trở lại còn do các nguyên nhân quan trọng
khác như sự ổn định về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng; nền kinh tế
tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao; công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ chế thị
trường tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh; mức sống của người dân được nâng
cao góp phần làm tăng mức cầu nội địa; tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
được đẩy mạnh, uy tín và thương hiệu của các loại hàng hóa sản xuất tại Việt
Nam trên các thị trường thế giới ngày càng được nâng cao.
2.Nổi bật hiệu quả cuả đầu tư nước ngoài:
Tính đến thời điểm này năm ngoái cả nước thu hút hơn 15 tỷ USD
vốn đầy tư trực tiếp nước ngoài và dự kiến năm nay sẽ thu hút trên 16 tỷ USD
gấp rưỡi so với lượng vốn trên 10 tỷ USD của năm 2006. Điểm nổi bật trong
thu hút đầu tư nước ngoài năm nay là có nhiều tập đoàn, công ty xuyên quốc
gia có thương hiệu mạnh trên thế giới đầu tư vào nước ta với số vốn lớn hơn;
các dự án thuộc lĩnh vực công nghệ cao như: điện tử, luyện kim, các ngành
dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm…sau 1 năm gia nhập WTO, thu hút
ĐTNN của Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc với 20,3 tỉ USD
vốn đăng ký. Đây là một kết quả thực sự nổi bật.
FDI vào Việt Nam đã đóng góp cho nền kinh tế rất lớn. Hiện có trên 8.590 dự án của
81 nước và vùng lãnh thổ đang hoạt động có tổng vốn đầu tư trên 83,1 tỉ USD, trong đó vốn
thực hiện đạt 29,2 tỷ USD. Vốn FDI chiếm tỷ trọng 18% tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp
16,2% GDP, chiếm 19,78% kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu thô) và 37% giá trị sản xuất
công nghiệp của cả nước.
Tác động cụ thể của dòng vốn FDI là đã tạo ra các khu công nghiệp tập
trung. Hiện nay cả nước có trên 150 khu công nghiệp - khu chế xuất, dự kiến
đến năm 2015 sẽ thành lập mới thêm 115 khu công nghiệp và mở rộng 27 khu
công nghiệp.

là lĩnh vực dịch vụ, nông-lâm-ngư nghiệp.
Những thành phố lớn ở các vùng kinh tế trọng điểm vẫn là những địa
phương dẫn đầu về thu hút đầu tư nước ngoài. Cụ thể, TP.Hồ Chí Minh chiếm
gần 30,2% số dự án và 23,4% tổng vốn đăng ký; Hà Nội chiếm 11,11% số dự
5
án, 16,74% tổng vốn đăng ký; Đồng Nai chiếm 11,45% số dự án và 15% tổng
vốn đăng ký; Bình Dương chiếm 18,44% số dự án, gần 10% tổng vốn đăng
ký. Hình thức đầu tư chủ yếu các các dự án đầu tư vào Việt Nam là 100% vốn
nước ngoài, chiếm trên 76%; các dự án liên doanh chiếm 20,6%, số còn lại
được thực hiện theo hình thức hợp doanh, Công ty cổ phần và Công ty quản
lý vốn.
3.2 Kết quả của năm 2006-2007
Năm 2006 ghi nhận một con số kỷ lục. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký
vào Việt Nam đạt 10 tỷ USD – cao nhất trong suốt gần 2 thập kỷ qua, kể từ
khi thực hiện Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987. FDI thu hút
năm 2006 tăng hơn 49,1% so với năm 2005, và vượt 57% kế hoạch đầu năm
đề ra. Kết quả này là con số cao nhất từ trước đến nay, vì kỷ lục cũ là năm
1996 khi FDI vào Việt Nam đạt mức 8,6 tỷ USD. Hơn cả mong đợi, đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam năm 2006 không chỉ là sự hồi phục mạnh mẽ mà
thực sự đã có bước đột phá ngoạn mục.
Trong số vốn thu hút, vốn cấp mới đạt 7,839 tỷ USD với 833 dự án được
phép; vốn tăng thêm 2,632 tỷ USD. Bên cạnh đó, mức vốn đưa vào thực hiện
đạt 4,1 tỷ USD, tăng 18,7%. Quy mô các dự án mới có mức vốn bình quân đạt
9,4 triệu USD tăng cao hơn so với năm 2005 là 4,6 triệu USD/dự án. Bà Rịa-
Vũng Tàu là địa phương dẫn đầu về số vốn cấp mới với 1,69 tỷ USD chiếm
22,39% số vốn đầu tư cả nước, trong đó chỉ riêng dự án thép Posco đã có mức
vốn 1,12 tỷ USD. TP.Hồ Chí Minh đứng thứ 2 với số vốn đăng ký 1,3 tỷ
USD. Đặc biệt, Hà Tây từ vị trí 34 năm ngoái vươn lên chiếm vị trí thứ 3 của
Bình Dương với 17 dự án và 805 triệu USD. Bình Dương đứng thứ 4 và
Quảng Ngãi đứng thứ 5. Phân theo nguồn đầu tư, Hàn Quốc dẫn đầu chiếm

năm 2005 và tạo việc làm cho trên 1,12 triệu lao động trực tiếp, chưa kể đến
số lao động gián tiếp.
Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO, thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài là rất tốt.
7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status