Khóa luận tốt nghiệp
Trường đại học sư phạm hà nội 2
Khoa hoá học
Trần thị hằng
Nghiên cứu tổng hợp và biến tính xúc tác
quang hoá nano TiO2 ứng dụng trong
xử lý môi trường
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Công nghệ môi trường
Hướng dẫn khoa học
Ts. Vũ anh tuấn
Hà Nội, năm 2009
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
1
Khóa luận tốt nghiệp
Mục lục
Trang
Phần một: Mở đầu
1
6
1.3. Tính chất xúc tác quang hóa của TiO2……………………………
9
1.3.1. Khái niệm xúc tác quang hóa………………………………….
9
1.3.2. Cơ chế của quá trình xúc tác quang hóa………………………
9
1.3.3. Tính chất xúc tác quang hóa của TiO2…………………………
13
1.4. ứng dụng các tính chất quang hóa xúc tác của TiO2…………….
16
1.4.1. ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau ………………………
16
1.4.2. ứng dụng trong xử lí môi trường ……………………………..
17
25
2.1.2.2. Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM)…………………….
24
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
2
Khóa luận tốt nghiệp
2.1.2.3. Phương pháp phổ kích thích electron (Ultra violet -visible:
UV -Vis)..................................................................................................
24
2.1.2.4. Biến tính nano TiO2 bằng phương pháp Doping với các kim
loại chuyển tiếp hoặc á kim…………………………………………….
26
Chương 3: Kết quả thực hiện…………………………………………..
27
3.1. Quy trình tổng hợp nano TiO2…………………………………….
3.3. Đánh giá hoạt tính xúc tác...............................................................
32
3.3.1. Phản ứng quang hóa khử Crom.....................................................
32
3.3.2. Phản ứng oxy hóa phenol đỏ và thuốc nhuộm hoạt
tính................
33
3.4. Tổng hợp và đánh giá hoạt tính xúc tác của nano-tio2 biến
tính.......
37
3.4.1 tổng hợp nano TiO2 biến tính........................................................
37
3.4.2. Hoạt tính xúc tác quang hóa..........................................................
40
Phần 3: Kết luận….................................................................................... 42
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
4
Khóa luận tốt nghiệp
đang rất quan tâm đến việc tổng hợp TiO2 có kích thước nano bằng các
phương pháp khác nhau như:
+ Phương pháp sol-gel.
+ Phương pháp đồng kết tủa.
+ Phương pháp vi nhũ.
+ Phương pháp thuỷ nhiệt.
+ Phương pháp lắng đọng từ pha khí.
Trong các phương pháp trên thì sol-gel là phương pháp được áp dụng
nhiều nhất. Tuy nhiên phương pháp này tổng hợp nano TiO2 đi từ nguồn
nguyên liệu là các alkoxides titanium là nguyên liệu đắt tiền dẫn tới giá thành
sản phẩm rất cao. Do đó để đáp ứng yêu cầu về mặt kinh tế thì tổng hợp nano
TiO2 theo phương pháp thuỷ nhiệt đi từ nguồn nguyên liệu Titan oxit (giá 20 –
30 nghìn VNĐ/ kg) là phương pháp cho hiệu quả tối ưu và kinh tế nhất.
Thành công trong việc tổng hợp nano TiO2 giá thành rẻ có ý nghĩa rất
lớn trong việc ứng dụng rộng rãi và phổ biến của vật liệu phục vụ cho việc xử
lí ô nhiễm môi trường, nhằm góp phần cải thiện và bảo vệ môi trường đồng
thời ứng dụng trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ khác.
Thật vậy, do đặc tính của nano TiO2 ngoài việc sử dụng làm chất xúc
tác quang hoá ứng dụng trong xử lí các chất thải công nghiệp thì nano TiO 2
còn có rất nhiều ứng dụng lí tưởng và triển vọng khác như sử dụng trong việc
làm sạch không khí dùng trong máy điều hòa nhiệt độ, trong sơn cao cấp có
tác dụng diệt khuẩn, chống mốc, trong vật liệu tự làm sạch... Đối với môi
nguyên liệu giá rẻ TiO2 bằng phương pháp thuỷ nhiệt tạo sản phẩm nano TiO 2
có kích thước nanomet (20-30nm), thành phần pha Anatase (100%).
So sánh hoạt tính xúc tác của sản phẩm với xúc tác TiO2 thương mại
P25 Degussa bằng phản ứng oxy hoá quang hoá thuốc nhuộm hoạt tính PR,
LGY và khử quang hoá Cr6+ -> Cr3+.
Biến tính nano TiO2
bằng phương pháp doping với các kim loại
chuyển tiếp và phi kim như Cr, V, Ce, N...bằng phương pháp hoá học để có
thể sử dụng ánh sáng khả kiến thay thế tia UV.
4. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
6
Khóa luận tốt nghiệp
Tổng hợp được nano TiO2 bằng phương pháp sol-gel và đặc biệt là
bằng phương pháp thuỷ nhiệt đi từ nguồn nguyên liệu TiO2 giá rẻ, có kích
thước nanomet, thành phần Anatase 100%.
ứng dụng xúc tác tổng hợp được trong xử lí thuốc nhuộm hoạt tính có
trong nước thải của các nhà máy dệt, nhuộm....
Doping nano TiO2 với Cr, V, N, Ce... có khả năng phân huỷ thuốc
nhuộm hoạt tính dùng ánh sáng mặt trời thay thế tia UV.
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
7
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
8
Khóa luận tốt nghiệp
Do vậy, các hạt nano sẽ có diện tích bề mặt trên đơn vị khối lớn hơn so
với các hạt ở kích thước lớn hơn. Vì các phản ứng hoá học xúc tác diễn ra trên
bề mặt nên điều này có nghĩa là với cùng kích thước thì một khối vật liệu
dạng nano sẽ phản ứng nhạy hơn so với cùng khối vật liệu đó có cấu tạo từ
các hạt lớn hơn.
+ Song song với các hiệu ứng diện tích bề mặt thì các hiệu ứng lượng
tử cũng bắt đầu chi phối đến những tính chất của vật liệu khi kích thước giảm
xuống cỡ nanomet. Chúng có thể tác động tới các phản ứng điện, từ tính và
quang học của vật liệu đặc biệt là khi cấu trúc của cỡ hạt tịnh tiến tới mức
kích cỡ nhỏ nhất trong bảng kích thước nanomet. Hiện nay có rất nhiều vật
liệu nano mới chỉ đang ở giai đoạn nghiên cứu sản xuất trong phòng thí
nghiệm, nhưng một số ít đã bắt đầu được thương mại hoá [6,7].
1.2. Cấu trúc của TiO2
TiO2 là loại vật liệu phổ biến trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta.
Chúng được sử dụng nhiều trong việc pha chế tạo màu sơn, màu men, mỹ
phẩm và cả trong thực phẩm. Ngày nay lượng TiO2 được tiêu thụ hàng năm
lên tới trên 3 triệu tấn và hiện tại thì nano TiO 2 đang được biết đến với vai trò
của chất xúc tác quang hoá [7].
Tinh thể TiO2 có nhiều dạng thù hình trong đó có 2 dạng tồn tại chính
là Rutile và Anatase. Cấu trúc tinh thể của hai dạng như sau:
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
Bảng dưới đây cho ta thông số vật lí của 2 dạng thù hình này
Tính chất
Anatase
Rutile
Hệ tinh thể
Tetragonal
Tetragonal
Thông số mạng a
3,78A
4,58A
Thông số mạng e
9,49A
2,95A
Đơn vị TiO2
4
2
Rutile
Bảng 1.1. Các thông số vật lí của hai dạng thù hình Anatase và Rutile [7]
Khi so sánh cấu trúc và các thông số của 2 dạng tinh thể này chúng ta
có thể thấy rằng cả Rutile và Anatase được cấu tạo bởi cấu trúc bát diện
nhưng Rutile gồm 2 đơn vị TiO2 tạo thành còn Anatase gồm 4 đơn vị TiO2 tạo
thành.
Tại khoảng nhiệt độ 9150 C thì Anatase bắt đầu chuyển sang pha
Rutile. Vì vậy, dạng Rutile là phổ biến nhất trong hai dạng thù hình trên của
TiO2, dạng Anatase rất hiếm gặp trong tự nhiên. Tinh thể Anatase thường có
màu nâu sẫm, đôi khi có thể có màu vàng hoặc xanh, có độ sáng bóng như
tinh thể kim loại, tuy nhiên lại rất dễ bị rỗ bề mặt, các vết xước có màu trắng.
TiO2 không tồn tại riêng biệt, Anatase được tìm thấy trong các khoáng cùng
với Rutile, Brookite, Apatite, Hematite, Chlorite, Calcite… [7].
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
11
Khóa luận tốt nghiệp
Trong cả 2 dạng thù hình trên của TiO2 thì Anatase thể hiện tính hoạt
động nhất dưới sự có mặt của ánh sáng mặt trời. Nguyên nhân là do sự khác
biệt về cấu trúc vùng năng lượng của Anatase so với Rutile dẫn đến một số
tính chất đặc biệt của Anatase.
1.3. Tính chất xúc tác quang hoá của TiO2
1.3.1. Khái niệm xúc tác quang hoá
Năm 1930, khái niệm xúc tác quang hoá ra đời. Trong hoá học nó dùng
để nói đến những phản ứng xảy ra dưới tác dụng đồng thời của chất xúc tác và
ánh sáng, hay nói cách khác ánh sáng chính là nhân tố kích hoạt chất xúc tác,
lỏng. Cũng giống như các quá trình xúc tác dị thể khác, quá trình xúc tác
quang dị thể được chia thành 6 giai đoạn như sau [7] :
- Khuyếch tán các chất tham gia phản ứng từ pha lỏng hoặc khí đến bề
mặt xúc tác.
- Hấp phụ các chất tham gia phản ứng lên bề mặt chất xúc tác.
- Hấp thụ photon ánh sáng, phân tử chuyển từ trạng thái cơ bản sang
trạng thái kích thích electron.
- Phản ứng quang hoá, được chia làm hai giai đoạn nhỏ :
Phản ứng quang hoá sơ cấp, trong đó các phân tử bị kích thích
(các phân tử chất bán dẫn) tham gia trực tiếp vào phản ứng với
các chất bị hấp phụ.
Phản ứng quang hoá thứ cấp, còn gọi là giai đoạn phản ứng "tối"
hay phản ứng nhiệt, đó là giai đoạn phản ứng của các sản phẩm
thuộc giai đoạn sơ cấp.
- Nhả hấp phụ các sản phẩm
- Khuyếch tán các sản phẩm vào pha khí hoặc lỏng.
Tại giai đoạn 3, phản ứng xúc tác quang hoá khác phản ứng xúc tác
truyền thống ở cách hoạt hoá xúc tác. Trong phản ứng xúc tác truyền thống,
xúc tác được hoạt hoá bởi nhiệt còn trong phản ứng xúc tác quang hoá, xúc
tác được hoạt hoá bởi sự hấp thụ ánh sáng.
Cơ chế hoạt động của xúc tác quang hoá nói chung được trình bày như
hình 1.3.
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
13
Khóa luận tốt nghiệp
e-: electron ở trạng thái kích
Cụ thể: Khi hấp thụ phôtôn ánh sáng h các điện tử trong lớp vỏ hoá trị
của chất bán dẫn sẽ bị kích thích và dịch chuyển từ vùng hoá trị lên vùng dẫn
có mức năng lượng cao hơn. Khi đó các hạt xúc tác sẽ mất điện tử và đồng
thời để lại ở vùng hoá trị những lỗ trống tích điện dương (h +) từ đó dẫn đến bề
mặt của chất xúc tác sẽ bị tích điện và có nhu cầu trao đổi điện tử từ các chất
đang tiếp xúc trên bền mặt của chất xúc tác như O 2 hoặc H2O với chất xúc tác
đó. Tiếp theo đó sẽ xảy ra quá trình OXH hoặc khử trên bề mặt của chất xúc
tác. Các lỗ trống sẽ khuyếch tán ra bề mặt nơi có các phân tử có khả năng cho
e và thực hiện phản ứng OXH, còn các điện tử ở vùng dẫn sẽ chuyển đến nơi
có các phân tử có khả năng nhận e và thực hiện phản ứng khử. Dưới đây là
bảng thế OXH của các tác nhân oxi hóa và thế oxi hóa khử tiêu chuẩn của
một số phản ứng.
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
14
Khóa luận tốt nghiệp
Tác nhân oxi hóa
Thế oxi hóa( V)
Flo
3,03
Lỗ trống vùng hóa trị của Anatase và
Rutile
Electron vùng dẫn của Anatase
-0,15
Bảng 1.2. Thế oxi hóa của một số tác nhân oxi hóa [5].
-1.0
Electron vựng dẫn
+
0.0
2-
(Cr(III)/CrO4 )
2+
(Cu/Cu )
3.2eV, ở
oxi hóa khử tiêu chuẩn của một số phản ứng
[5].
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
15
Khóa luận tốt nghiệp
Kết quả của hai quá trình này sẽ tạo ra những tác nhân OXH ở dạng
gốc tự do cực mạnh như H2O2, O2-, OH- các gốc tự do này có hoạt tính mạnh
gấp hàng trăm lần so với các chất oxi hóa thông thường (như Cl 2, O3...). Nhờ
khả năng oxi hóa cực mạnh này mà xúc tác quang hoá có thể phân huỷ được
hầu hết các chất độc hại trong pha khí (xử lí NOx, CO..., các dung môi hữu cơ
dễ bay hơi và độc hại như Toluen, Xylen... trong các nhà máy sản xuất sơn và
sử dụng sơn), trong pha lỏng (xử lí các hợp chất hữu cơ độc hại trong nước
thải công nghiệp dệt, nhuộm, giấy, mạ in...) và trong pha rắn (phân huỷ các
chất bảo vệ thực vật, chất diệt sâu bọ khó phân huỷ trong đất như DDT...) và
các loại vi khuẩn rêu mốc bám trên bề mặt vật liệu thành CO2 và H2O [4, 5].
Điều kiện để một chất có khả năng xúc tác quang là:
- Có hoạt tính quang hoá.
- Có năng lượng vùng cấm thích hợp để hấp thụ ánh sáng cực tím hoặc
ánh sáng nhìn thấy.
1.3.3. Tính chất xúc tác quang hoá của TiO2
Với xúc tác quang hóa nano TiO2 quá trình cũng tuân theo cơ chế như
đã trình bày ở trên và được giải thích rõ hơn như sau.
Khi TiO2 ở dạng tinh thể Anatase được hoạt hoá bởi ánh sáng có bước
sóng () thích hợp thì xảy ra sự chuyển điện tử từ vùng hoá trị lên vùng dẫn
HO + HO + TiO2
*
H2O2 + O2
O 2 + HO + OH
Khi hạt nano TiO2 xúc tác quang hoá tiếp nhận năng lượng của quang
tử sẽ xảy ra quá trình thay đổi điện tích và tạo nên các gốc OXH mạnh như
OH- và O 2 như đã trình bày ở trên. Với hạt nano TiO2 thì hàng rào năng
lượng mà điện tử có thể vượt qua ở mức thấp Eg= 3,2 eV. Như vậy chỉ cần
một bức xạ có mức năng lượng > 3,2 eV (tương đương bước sóng = 388nm,
trong vùng ánh sáng tử ngoại) là có thể kích hoạt vật liệu nano TiO2 trở thành
xúc tác quang hoá.
Trong số các chất có khả năng xúc tác quang hoá thì TiO2 được sử
dụng rộng rãi nhất vì các lí do như sau:
- Có khả năng phát huy tác dụng xúc tác quang hoá nhanh ở điều kiện
gần với điều kiện bình thường (như nhiệt độ phòng, áp suất khí quyển)
- Có khả năng oxi hoá được nhiều loại tạp chất hữu cơ (trong dải rộng)
thành CO2 và H2O.
- Không sinh ra các sản phẩm phụ độc hại trong quá trình xúc tác quang
hoá (thân thiện với môi trường).
- Có giá thành rẻ.
Tại rất nhiều nước có trình độ khoa học phát triển như Mỹ, Nhật và Tây
Âu hiện nay đang dẫn đầu về số lượng các nghiên cứu cũng như các bằng
sáng chế về vật liệu nano xúc tác quang hoá TiO2. Thị trường các sản phẩm
xúc tác quang hoá hiện nay trên thế giới đang phát triển rất mạnh. Nếu như
năm 2000 doanh số của sản phẩm xúc tác quang hoá chưa đáng kể thì đến
năm 2003 doanh số bán ra đã đạt 1 tỉ USD. Tại các nước châu á như Nhật
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
(Đức)
A+ R
(70) (30)
99,5
TPK
TPK
AMT
– 101
– 103
– 100
Tayca Tayca
Tayca
(Nhật
(Nhật
(Nhật
Bản)
92,8
90
97
Al2O3 0,3
SiO2 0,2
83.6
90,3
92,8
WO3 10ppm
K2O 100ppm
SO4 2ppm
SO4 2
Na2O 100ppm Na2O 100ppm
Fe2O3
thập kỉ trước. Một trong những khía cạnh hết sức độc đáo và đầy triển vọng là
chế tạo các vật liệu tự làm sạch ứng dụng cả hai tính chất của TiO 2 là tính
chất xúc tác quang hoá và siêu thấm ướt. ý tưởng này bắt nguồn từ khi những
vật liệu cũ như gạch lát nền, cửa kính các toà nhà cao ốc, sơn tường thường bị
mốc, bẩn sau một thời gian sử dụng. Có những nơi dễ lau chùi như gạch lát,
sơn tường trong nhà nhưng có những nơi việc lau chùi hay thay thế quả là
không dễ dàng như cửa kính của các toà nhà cao ốc, mái vòm của các công
trình công cộng kiểu như nhà hát Opera ở Sydney hay mái che của các sân
vận động hiện đại ngày nay. Nếu như các cửa kính này được tráng một lớp
TiO2 siêu mỏng chỉ dày cỡ micro vẫn cho phép ánh sáng thường đi qua nhưng
lại hấp thụ tia tử ngoại để phân huỷ các hạt bụi nhỏ, các vết dầu mỡ do các
phương tiện giao thông thải ra. Các vết bẩn này cũng dễ dàng bị loại bỏ nhờ
nước mưa, đó là do ái lực lớn của bề mặt với nước sẽ tạo một lớp nước mỏng
trên bề mặt và đẩy chất bẩn đi.
+ Tiêu diệt các tế bào ung thư.
Ung thư ngày nay vẫn là căn bệnh gây tử vong nhiều nhất. Việc điều trị
bằng các phương pháp nhiễu xạ, truyền hoá chất, phẫu thuật thường tốn kém
mà thu được hiệu quả không cao. Hiện nay TiO2 đang được xem xét như là
một hướng đi khả thi cho việc điều trị căn bệnh này.
+ Diệt vi khuẩn, vi rút, nấm.
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
19
Khóa luận tốt nghiệp
Xúc tác quang hoá TiO2 với sự có mặt của ánh sáng tử ngoại có khả
năng phân huỷ các hợp chất hữu cơ, bao gồm cả nấm, vi khuẩn, vi rút. TiO2
Khóa luận tốt nghiệp
bẩn sẽ bị giữ lại và phân huỷ nhờ ánh sáng thường, ngoài ra nó còn tác dụng
tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh trong không khí và chúng ta sẽ có một bầu không
khí lí tưởng.
Tóm lại, vật liệu nano TiO2 có phạm vi ứng dụng rất rộng rãi trong
công nghiệp và khoa học kĩ thuật. Ngoài những ứng dụng ở trên đây nó còn
có nhiều ứng dụng khác như tính chất siêu thấm ướt, chế tạo vật liệu tự làm
sạch, các vật liệu khô siêu nhanh trong điều kiện ẩm ướt, đưa TiO 2 vào các
sản phẩm trong nhà bếp, phòng tắm…
Những ý tưởng ứng dụng vật liệu TiO2 đều rất khả thi và nếu thành
công nó hứa hẹn sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho cuộc sống của chúng ta.
Dưới đây là một số hình ảnh ứng dụng của vật liệu nano TiO2.
Nano-TiO2 ứng dụng trong xử lý khí thải NOx, CO, VOC…
Sản phẩm thương mại Nano-TiO2 ứng dụng trong
xử lý môi trường
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
21
Khóa luận tốt nghiệp
Nano-TiO2 được tráng trên gạch men dùng diệt
khuẩn trong bệnh viện
Chương 2
các phương pháp nghiên cứu
hiện nay đều đi từ phương pháp này. Phương pháp từ dưới lên có thể là phương
pháp vật lí, phương pháp hoá học hoặc kết hợp cả 2 phương pháp hoá - lý.
Phương pháp vật lí tạo ra vật liệu nano từ nguyên tử hoặc quá trình
chuyển pha. Nguyên tử để hình thành vật liệu nano được tạo ra từ quá trình
vật lí như: Bốc hay nhiệt (đốt, phóng xạ, phóng điện hồ quang...), quá trình
chuyển pha: vật liệu được nung nóng rồi cho nguội với tốc độ nhanh để thu
được trạng thái vô định hình, xử lý nhiệt để xảy ra chuyển pha vô định hình
thành tinh thể (kết tinh) có kích thước nano. Phương pháp vật lý thường để
tạo ra các hạt nano, màng nano…
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
23
Khóa luận tốt nghiệp
Phương pháp hoá học là phương pháp tạo vật liệu nano từ các nguyên
tử hoặc ion. Phương pháp này rất đa dạng, tuỳ thuộc vào vật liệu cụ thể mà
người ta thay đổi kĩ thuật chế tạo vật liệu cho phù hợp. Trong phương pháp
này có thể hình thành vật liệu từ pha lỏng (kết tủa, sol- gel) và từ pha khí
(nhiệt phân) phương pháp này cũng có thể tạo ra các hạt nano, dây nano,
màng nano,....
Phương pháp kết hợp là phương pháp chế tạo vật liệu nano dựa trên các
nguyên tắc vật lí và hoá học như điện phân, ngưng tụ từ pha khí.
2.1.1.2. Chế tạo vật liệu nano TiO2 bằng phương pháp Sol-gel
Như đã trình bày ở trên có nhiều phương pháp chế tạo vật liệu nano
TiO2 trong đó phương pháp Sol-gel được dùng phổ biến nhất hiện nay. Trong
phương pháp này các chất nguyên liệu của phản ứng được phân tán trong môi
trường Sol-gel với một mức độ đồng nhất cao sẽ tạo ra sản phẩm có các thông
số rất thích hợp cho việc tạo thành màng mỏng sau này, đặc biệt khi áp dụng
các muối vô cơ như TiCl4 hoặc Ti(OSO4 ). Đây là nguồn nguyên liệu tương
đối rẻ tiền do đó giá thành sản phẩm sẽ rẻ hơn sẽ làm tăng khả năng ứng dụng
của sản phẩm. Ví dụ, bột nano xúc tác quang hoá của Trung Quốc có giá từ
20-30 USD trong khi đó giá sản phẩm cùng loại của Degussa (Đức) đắt gấp
đôi (khoảng từ 60-70 USD). Hiện nay bột nano TiO2-P25 (kích thước trung
bình 25mm) đang là sản phẩm thông dụng nhất trên thị trường.
2.1.2. Các phương pháp đặc trưng vật liệu
2.1.2.1. Phương pháp nhiễu xạ tia X (X – raydifraction: XRD)
XRD là một trong những phương pháp được ứng dụng trong đặc trưng
xúc tác. Tia X có bước sóng trong khoảng 10-8 – 10-6A0 nên năng lượng của
nó đủ để xuyên qua được chất rắn. Do đó tia X được sử dụng để nhận dạng
pha tinh thể và đánh giá kích thước hạt [1].
Theo lí thuyết cấu tạo tinh thể, mạng tinh thể được cấu tạo từ các
nguyên tử hay ion được phân bố đều đặn trong không gian theo một qui tắc
xác định. Khoảng cách giữa nguyên tử hay ion khoảng vài Angstron. Trong
mạng tinh thể các nguyên tử hay ion có thể phân bố trên các mặt song song,
Trần Thị Hằng – K31B - Hóa
25