Lời nói đầu
Lĩnh vực Đầu t xây dựng cơ bản đã và đang khẳng định vai trò quan
trọng, có tính quyết định đối với quá trình Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá đất n-
ớc thông qua quá trình tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế-xã hội.
Chúng ta quản lý hoạt động này thông qua việc hình thành và liên tục hoàn thiện
một cơ chế quản lý- cơ chế quản lý đầu t và xây dựng.
Là lĩnh vực hoạt động đòi hỏi phải hy sinh một lợng rất lớn nguồn lực và
chi phí xã hội, đồng thời do ảnh hởng và tầm quan hệ rộng lớn cũng nh tính chất
phức tạp trong quản lý, cho nên không phảI lúc nào việc hy sinh những nguồn
lực, những chi phí này cũng đem lại hiệu quả tích cực cho nền kinh tế-xã hội.
Thực tế đang đặt ra bàI toán phảI giảI quyết, đó là bàI toán về hiệu quả sử dụng
vốn đầu t XDCB.
Nói cách khác, cơ chế quản lý đầu t và xây dựng của chúng ta đang đặt ra
yêu cầu phảI hoàn thiện. Và việc hoàn thiện này là một quá trình liên tục. Mỗi
cơ chế quản lý đợc hoàn thiện, nhng ngay sau đó việc áp dụng vào thực tế lại
phát sinh những mâu thuẫn mới. GiảI quyết những mâu thuẫn này sẽ đa cơ chế
hoàn thiện thêm một bớc nữa, cứ nh vậy, cơ chế luôn vận động, đổi mới, góp
phần thúc đẩy xã hội phát triển. Trong lĩnh vực đầu t XDCB, hiệu quả sử dụng
vốn đầu t XDCB chính là mục tiêu mà cơ chế quản lý đầu t xây dựng hớng tới,
cũng nh là tiêu thức quan trọng đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế này.
Hai vấn đề này có quan hệ mật thiết với nhau. Việc giả quyết vấn đề này
là hết sức quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế-xã hội. Với lý do nh
vậy, em đã chọn đề tài: Đổi mới cơ chế quản lý đầu t và xây dựng, nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn đầu t XDCB . Trong quá trình thực tập, em đã đợc sự
giúp đỡ tận tình của cô giáo Phạm thị Thêu, Giảng viên Bộ môn Kinh tế Đầu t,
Đại học Kinh tế Quốc dân cũng nh các cán bộ Vụ Đầu T-Bộ tàI Chính. Em xin
chân thành cám ơn.
Do gặp nhiều khó khăn về khả năng, tàI liệu và việc bố trí thời gian, đề
tàI chắc chắn còn nhiều thiếu sót, em rất mong có sự chỉ bảo thêm của các thầy
cô giáo để hoàn thiện thêm đề tàI này.
Sinh viên: Lê Lơng Tú, Lớp Kinh tế Đầu t 41C.
kết quả đó, và do đó là cách thức tiến hành hoạt động đầu t đáp ứng đợc các mục tiêu của
chủ thể đầu t và xã hội đến đâu là tiêu chí quan trọng đánh giá tính hiệu quả, hợp lý và đúng
đắn của quyết định đầu t và quá trình đầu t.
Đầu t là một hoạt động kinh tế quan trọng ở cấp độ vi mô các cá nhân, tổ chức và
doanh nghiệp cũng nh ở cấp độ vĩ mô, ở phạm vi nền kinh tế-xã hội.
Đối với một doanh nghiệp, hoạt động đầu t là công việc khởi đầu quan trọng nhất và
cũng là khó khăn nhất của quá trình sản xuất, kinh doanh. Những quyết định của ngày hôm
nay về lĩnh vực, quy mô, hình thức, thời điểm đầu t sẽ chi phối quá trình hoạt động và phát
triển của doanh nghiệp trong tơng lai. Do đó, chất lợng của các quyết định đầu t sẽ quyết
định sự thịnh vợng hay xuống dốc của doanh nghiệp.
Đối với nền kinh tế nói chung, toàn bộ việc đầu t đợc tiến hành ở một thời kỳ nhất
định là nhân tố cơ bản duy trì và phát triển cơ sở vật chất-kỹ thuật của nền kinh tế, tạo ra sản
phẩm, dịch vụ, giải quyết công ăn việc làm, đáp ứng các nhu cầu của nền kinh tế-xã hội thời
kỳ tiếp theo. Xét về lâu dài, khối lợng đầu t của ngày hôm nay sẽ quyết định dung lợng sản
xuất, tốc độ và chất lợng của tăng trởng và phát triển kinh tế-xã hội cũng nh mức độ cải
thiện đời sống trong tơng lai. Vai trò này của đầu t hay mối quan hệ giữa đầu t và tăng trởng
có thể đợc biểu hiện qua mô hình tăng trởng nền kinh tế đơn giản sau đây (mô hình Harrod-
Domar):
I
ICOR=
GDP
(1)
Trong đó: ICOR là tỉ lệ giữa vốn đầu t và tăng trởng kinh tế;
I là vốn đầu t;
GDP là mức tăng tổng sản phẩm quốc gia.
Từ (1) có thể viết:
I=ICORìGDP (2)
nhiều yếu tố bất định theo thời gian và của điều kiện không gian tự nhiên, kinh tế-xã hội.
Các thành quả của hoạt động đầu t phát triển là các công trình xây dựng sẽ hoạt
động ở ngay nơi mà chúng đợc tạo dựng nên do đó các điều kiện về địa lý, địa hình sẽ ảnh
hởng không chỉ tới quá trình thực hiện đầu t mà còn ảnh hởng tới sự hoạt động và phát huy
tác dụng của các kết quả đầu t sau này.
Đầu t phát triển, do bản chất của nó, là hoạt động chịu tác động của nhiều yếu
tố rủi ro: do đó cần có các biện pháp để hạn chế cũng nh ngăn ngừa rủi ro, nh nhận diện các
yếu tố của rủi ro có thể ảnh hởng tới dự án, phân tán rủi ro đó bằng các hình thức nh bảo
hiểm,... và quản lý chặt chẽ các rủi ro, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất.
2.3/. Vai trò của đầu t phát triển:
2.3.1/ Đối với nền kinh tế.
Đầu t vừa tác dụng đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu của nền kinh tế:
Về mặt cầu: Đầu t là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh
tế (thờng chiếm khoảng từ 24 - 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nớc trên thế giới-số
liệu của WB). Đối với tổng cầu, tác động của đầu t là ngắn hạn, khi tổng cung cha kịp thay
đổi, sự tăng lên của đầu t làm cho tổng cầu tăng, kéo theo sản lợng cân bằng tăng theo và
dẫn đến giá và các đầu vào của đầu t cũng tăng theo. Điểm cân bằng cung-cầu dịch chuyển
đi lên.
Về mặt cung: Khi thành quả của đầu t phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào
hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên, kéo theo sản lợng tiềm năng
tăng và do đó giá cả sản phẩm giảm. Sản lợng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng.
Tăng tiêu dùng đến lợt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là
nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho ngời lao
động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
Đầu t tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế:
Sự tác động không đông thời về mặt thời gian của đầu t đối với tổng cầu và đối với
tổng cung của nền kinh tế làm cho mỗi sự thay đổi của đầu t, dù là tăng hay giảm đều cùng
một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế của
mọi quốc gia.
Chẳng hạn, khi đầu t tăng sẽ tăng công ăn việc làm dẫn đến giảm thất nghiệp, nâng
năng khoa học và công nghệ của lực lợng sản xuất xã hội, của đất nớc.
2.3.2/ Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ:
Đầu t quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Đầu t, trớc hết có vai
trò tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào-vị lợi hay vô vị lợi.
Trong quá trình hoạt động các cơ sở vật chất-kỹ thuật này bị hao mòn, h hỏng và phải đổi
mới để duy trì sự tồn tại và hoạt động bình thờng, đồng thời phải luôn đổi mới cho thích ứng
với sự tiến bộ của khoa học-kỹ thuật, chống lại những hao mòn vô hình, đáp ứng lại những
nhu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội. Câu trả lời là tiến hành đầu t.
Đầu t trong các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ là một công cụ cạnh tranh và hơn
thế nữa quyết định sự thành bại của cơ sở. Đầu t làm tăng hiệu quả sản xuất, hạ giá thành
sản phẩm, mở rộng thị trờng, tăng lợi nhuận cho đơn vị.
Đối với các cơ sở vô vị lợi (hoạt động công ích, không vì mục tiêu lợi nhuận), việc
tiến hành đầu t là tất yếu để duy trì và tăng cờng các cơ sở vật chất-kỹ thuật phục vụ cho
mục tiêu hoạt động bình thờng của mình.
II. đầu t xây dựng cơ bản:
1. Khái niệm và vai trò của đầu t xây dựng cơ bản:
1.1/ Khái niệm:
Đầu t xây dựng cơ bản ( XDCB ) là hoạt động sử dụng vốn đầu t để tiến hành thực
hiện tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế thông
qua các hình thức: xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá và khôi phục các tài sản cố
định.
Đầu t XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu t nói chung, đầu t phát triển nói
riêng. Đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản (từ việc khảo sát, quy
hoạch đầu t, thiết kế và xây dựng cho đến khi lắp đặt thiết bị để hoàn thiện việc tạo ra cơ sở
vật chất-kỹ thuật) nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định
cho nền kinh tế.
Nh vậy, đầu t XDCB không phải là hoạt động sản xuất vật chất mà là phạm trù kinh
tế tài chính xuất hiện trong quá trình tái sản xuất các tài sản cố định. Nhng, XDCB là một
nghành sản xuất vật chất, tạo ra cơ sở vật chất-kỹ thuật cho xã hội, nó quyết định đến sự
phát triển đất nớc và quy mô sản xuất của các nghành có liên quan.
Trên cơ sở quy hoạch tổng thể sử dụng lãnh thổ, Nhà nớc tiến hành quy hoạch
tổng thể về mặt xây dựng các công trình trên toàn lãnh thổ, bao gồm các khu công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ, các cụm đô thị và nông thôn, các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế và
văn hoá-xã hội
Dựa trên chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch tổng thể sử dụng lãnh
thổ, quy hoạch tổng thể về mặt xây dựng, nhu cầu thị trờng và khả năng, thực lực của Nhà
nớc, của các doanh nghiệp cũng nh của các tầng lớp dân c sẽ hình thành nên các dự án đầu
t xây dựng của Nhà nớc, của các doanh nghiệp và dân c.
Nh vậy, theo nghĩa rộng, quá trình hình thành công trình xây dựng có thể đợc mô tả
nh sau:
Sơ đồ: Quá trình hình thành công trình xây dựng theo nghĩa rộng.
2.2/ Quá trình hình thành công trình xây dựng theo nghĩa hẹp:
Theo nghĩa hẹp, quá trình hình thành công trình xây dựng bắt đầu từ giai đoạn chuẩn
bị đầu t đến giai đoạn thực hiện đầu t xây dựng và đa công trình vào vận hành, sử dụng.
Theo Quy chế quản lý đầu t và xây dựng hiện hành thì quá trình đầu t xây dựng gồm các
giai đoạn sau: ( trình tự, thủ tục đầu t và xây dựng)
2.2.1/ Giai đoạn chuẩn bị đầu t, các nhiệm vụ phải thực hiện nh sau:
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu t và quy mô đầu t.
- Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trờng trong nớc hoặc ngoài nớc để tìm nguồn cung
ứng vật t, thiết bị, nơi tiêu thụ sản phẩm, khả năng cạnh tranh, xem xét các khả năng có thể
huy động các nguồn vốn đầu t và lựa chọn hình thức đầu t.
- Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng.
- Lập dự án đầu t.
- Thẩm đinh dự án để quyết định đầu t.
- Gửi hồ sơ dự án đến nơi quy định.
2.2.2/ Giai đoạn thực hiện đầu t, bao gồm các nhiệm vụ:
- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nớc (đối với các dự án có sử
dụng đất).
- Xin giấy phép xây dựng (nếu cần phải có giấy phép xây dựng) và giấy phép khai
thác tàI nguyên (nếu có).
hành sản phẩm.
2.2.3/ Giai đoạn kết thúc xây dựng và đa dự án vào khai thác, sử dụng:
- Nghiệm thu, bàn giao công trình.
- Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình.
- Vận hành công trình và hớng dẫn sử dụng công trình.
- Bảo hành công trình.
- Quyết toán vốn đầu t.
- Phê duyệt quyết toán. Đối với dự án xây dựng các khu tập trung, dự án BOT, BT,
BTO, ngoàI các bớc trên thì chủ đầu t còn phảI làm thủ tục `chuyển giao sau khi kết thúc
xây dựng hoặc sau khi hết thời gian khai thác sử dụng theo hợp đồng kinh doanh.
2.3/ Các lực lợng tham gia vào quá trình hình thành công trình
xây dựng:
Có các lực lợng sau đây tham gia vào quá trình hình thành công trình xây dựng:
- Chủ đầu t (đóng vai trò chính).
- Các doanh nghiệp t vấn.
- Các doanh nghiệp xây lắp.
- Các doanh nghiệp cung ứng thiết bị và vật t cho dự án.
- Các tổ chức tài trợ, ngân hàng.
- Các cơ quan quản lý Nhà nớc về đầu t và xây dựng.
- Các tổ chức khác...
3. Phân biệt một số kháI niệm về các lĩnh vực và các nghành có liên
quan đến đầu t và xây dựng:
Để thuận tiện cho việc nghiên cứu các vấn đề kinh tế và quản lý xây dựng cơ bản,
cần phảI phân biệt một số kháI niệm về các lĩnh vực và các nghành có liên quan đến đầu t
và xây dựng sau đây:
3.1/ Lĩnh vực đầu t và xây dựng:
Lĩnh vực đầu t xây dựng là một lĩnh vực hoạt động liên nghành, bao gồm tất cả các
bộ phận có liên quan đến việc lập và thực hiện các dự án đầu t xây dựng, trong đó bao gồm
các lực lợng tham gia chủ yếu nh: chủ đầu t, các tổ chức t vấn đầu t xây dựng, các nhà thầu
xây dựng, các tổ chức cung ứng vật t, thiết bị cho dự án, các tổ chức ngân hàng và tài trợ
gia tạo thành sản phẩm chủ yếu: chủ đầu t; các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp; các doanh
nghiệp t vấn đầu t xây dựng; các doanh nghiệp sản xuất các yếu tố đầu vào cho dự án nh
thiết bị công nghệ, vật t thiết bị xây dựng; các tổ chức tổ chức dịch vụ ngân hàng và tàI
chính; các cơ quan quản lý Nhà nớc có liên quan.
4.1.2/ Sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng:
Sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng chỉ bao gồm phần kiến tạo các
kết cấu xây dựng làm chức năng bao che, nâng đỡ và phần lắp đặt các thiết bị, máy móc cần
thiết của công trình để đa chúng vào hoạt động.
Trong khi đơn vị đo của sản phẩm đầu t xây dựng là tổng vốn đầu t thực hiện (nếu
tính theo giá trị) hoặc là công suất sản xuất hay năng lực dịch vụ hoặc phục vụ đã đa vào sử
dụng (nếu tính theo hiện vật), thì đơn vị đo của sản phẩm xây dựng của doanh nghiệp xây
dựng là giá trị dự toán xây lắp đã hoàn thành bàn giao (nếu tính theo giá trị) hoặc là số
2
m
hay
3
m
khối tích xây dựng (nếu tính theo hiện vật) đã hoàn thành và bàn giao.
Vì các công trình xây dựng thờng rất lớn và phảI xây dựng trong nhiều năm, nên để
phù hợp với công việc thanh, quyết toán và cấp vốn ngời ta phân ra sản phẩm xây dựng
trung gian và sản phẩm xây dựng cuối cùng. Sản phẩm xây dựng trung gian có thể là các gói
công việc xây dựng, các giai đoạn hay đợt xây dựng đã hoàn thành, đã bàn giao thanh toán.
Sản phẩm xây dựng cuối cùng là các công trình xây dựng hay hạng mục công trình xây
dựng đã hoàn thành và có thể bàn giao đa vào sử dụng.
Để phản ánh thực chất và nỗ lực đóng góp của bản thân các doanh nghiệp xây dựng,
sản phẩm xây dựng của các doanh nghiệp xây dựng còn đợc tính theo chỉ tiêu giá trị sản
phẩm thuần tuý của các doanh nghiệp này, tức là đem giá trị dự toán xây lắp trừ đI chi phí
vật liệu, năng lợng và khấu hao ở tất cả các khoản mục của giá trị dự toán xây lắp.
4.1.3/ Công trình xây dựng:
Sản xuất xây dựng thiếu tính ổn định, có tính lu động cao theo vùng lãnh thổ: vì
trong xây dựng, khác với nhiều nghành khác, con ngời và công cụ lao động luôn phảI di
chuyển theo các công trờng, còn sản phẩm xây dựng thì cố định một nơi.
Vì sản phẩm xây dựng có tính đa dạng, cá biệt cao, có chi phí lớn, nên sản xuất
xây dựng phảI tiến hành theo đơn đặt hàng của chủ đầu t thông qua đấu thầu hoặc chỉ định
thầu cho từng công trình một.
Chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thờng dài.
Quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp đòi hỏi phảI có nhiều lực lợng hợp tác
tham gia thực hiện. Khác với nhiều nghành khác, trong nghành xây dựng, các đơn vị tham
gia xây dựng công trình phảI cùng nhau đến công trờng với một diện tích làm việc thờng là
bị hạn chế để thực hiện phần việc của mình theo một trình tự nhất định về thời gian và
không gian.
Sản xuất xây dựng phảI tiến hành ngoàI trời và chịu nhiều ảnh hởng của thời tiết
và các điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội nơI diễn ra quá trình thi công xây dựng.
Sản xuất xây dựng chịu ảnh hởng của lợi nhuận chênh lệch do địa điểm xây dựng
đem lại. Cùng một công trình xây dựng nhng nếu tiến hành xây dựng ở những nơI có sẵn
nguồn vật liệu xây dựng, nhân công và các cơ sở cho thuê may xây dựng thì nhà thầu trong
trờng hợp này có cơ hội cao hơn để thu đợc lợi nhuận so với các địa điểm xây dựng khác.
Công nghệ xây lắp chủ yếu là quá trình áp dụng các quá trình cơ học để giảI quyết
vấn đề vận chuyển ngang và vận chuyển lên cao, hoặc để xâm nhạp vào trong lòng đất. Việc
áp dụng tự động hoá qúa trình xây lắp phát triển chậm, tỷ lệ lao động thủ công chiếm cao.
Những đặc điểm của sản xuất xây dựng trong điều kiện tự nhiên và xã hội của
Việt Nam:
- Về điều kiện tự nhiên: Sản xuất xây dựng ở Việt Nam đợc tiến hành trong điều
kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, điều kiện địa chất, thuỷ văn phức tạp, đất nớc dàI, hẹp và còn
nhiều nơI cha đợc khai phá, có một số nguồn vật liệu xây dựng phong phú. Do đó, các giảI
pháp xây dựng ở Việt Nam chịu ảnh hởng mạnh của các yếu tố này.
- Về điều kiện kinh tế: Sản xuất xây dựng ở Việt Nam đợc tiến hành trong điều
kiện của một nền kinh tế đang phát triển, còn nhiều mặt yếu kém so với các nớc trên thế
giới. Trong bối cảnh hợp tác quốc tế hiện nay, nghành xây dựng của Việt Nam đang đứng
thuộc vào nhịp độ tăng tuyệt đối khối lợng thu nhập quốc dân. Trong những điều kiện nh
nhau, mức tích luỹ sản xuất phụ thuộc không chỉ vào khối lợng thu nhập quốc dân, mà còn
phụ thuộc vào sự phân phối thu nhập quốc dân thành tích và tiêu dùng.
Quá trình tích luỹ có tác dụng to lớn đến việc hình thành cơ sở vật chất-kỹ thuật của
nền kinh tế. Để nâng cao không ngừng mức tiêu dùng của nhân dân, xã hội cần phải thờng
xuyên mở rộng sản xuất và do đó cần phải tăng tích luỹ. Tích luỹ không chỉ kéo theo những
sự thay đổi về số lợng trong các yếu tố vật chất của lực luợng sản xuất, mà còn có tác động
đến tất cả moi lĩnh vực hoạt động của con ngời, tạo điều kiện để giảm nhẹ lao động, nâng
cao nhận thức và trình độ nghề nghiệp của mọi ngời lao động.
Tích luỹ trớc hết đợc thực hiện thông qua đầu t XDCB. Theo nội dụng kinh tế, đầu
t XDCB là sử dụng một phần tổng sản phẩm xã hội, mà trớc hết là quỹ tích luỹ để tái sản
xuất tài sản xuất tài sản cố định. Vốn đầu t đầu t XDCB nh đã nói ở trên là toàn bộ chi phí
để đạt đợc mục đích đầu t, bao gồm: Chi phí cho việc khảo sát, qui hoạch xây dựng, chi phí
chuẩn bị đầu t, chi phí cho thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm và lắp đặt máy móc, thiết
bị và các chi phí khác đợc ghi trong tổng dự toán. Vốn đầu t đầu t XDCB và vốn cố định là
những khía niệm không giống nhau cả về nội dung kinh tế lẫn trong sự biểu hiện giá trị. Sự
khác nhau cơ bản giữa chúng thể hiện ở chỗ, vốn đầu t đầu t XDCB là vốn cố định dới dạng
tiềm tàng, còn vốn cố định là vốn đầu t XDCB đã đợc khai thác, sử dụng. Biểu hiện vật chất
của vốn cố định là nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phơng tiện vận tải, dụng cụ
điều chỉnh, đo lờng, dụng cụ sản xuất và kinh doanh có giá trị và thời gian sử dụng ở mức
quy định.
Nh vậy, ngoài phần vốn đầu t XDCB huy động từ nớc ngoài, thì vốn đầu t XDCB ở
nớc ta đợc hình thành từ việc phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân. Phần
lớn thu nhập quốc dân đợc sử dụng để tích luỹ, điều đó làm tăng khả năng đầu t XDCB vào
nền kinh tế và tăng năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế. ở Việt Nam cơ sở vật chất-kỹ
thuật đã đợc xây dựng ngay từ những năm kháng chiến chống Pháp, Mĩ. Trong khu vực sản
xuất vật chất, chúng ta đã tập trung đầu t XDCB và hình thành nên cơ sở vật chất-kỹ thuật
của 2 nghành là nông nghiệp và công nghiệp, trong khu vực phi sản xuất vật chất, vốn đầu t
đợc tập trung nhiều vào các nghành giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, khoa học. Những cơ sở
công nghiệp quan trọng nh điện, than, cơ khí, luyện kim, hoá chất, dệt, may mặc, các công
mức hao mòn đó đợc chuyển vào giá trị sản phẩm sản xuất ra. Khi sản phẩm đợc tiêu thụ,
phần giá trị tài sản cố định hao mòn đó lại trở về hình thái tiền tệ, gọi là vốn khấu hao tài
sản cố định. Vốn khấu hao đợc tích luỹ theo thời gian sử dụng của tài sản cố định hình
thành quỹ khâu hao. Quỹ khấu hao đợc chia ra hai phần: Quỹ khâu hao cơ bản và quỹ khấu
hao sửa chữa lớn. Quỹ khấu hao sửa chữa lớn tài sản cố định đợc dùng sửa chữa lớn nhằm
phục hồi và duy trì tính năng, công dụng của tài sản cố định. Quỹ khấu hao cơ bản đợc dùng
để tái tạo lại toàn bộ giá trị của tài sản cố định qua con đờng đầu t XDCB, có nghĩa là tái
sản xuất giản đơn tài sản cố định. Quỹ khấu hao TSCĐ chỉ ngang bằng giá trị TSCĐ khi nào
TSCĐ đó hết thời hạn sử dụng. Trong điều kiện tập trung quỹ khấu hao của nhiều TSCĐ,
cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học-kỹ thuật và năng suất lao động xã hội ngày
càng đợc nâng cao thì quỹ khấu hao cơ bản không những đợc dùng tái sản xuất giản đơn mà
còn có thể đợc dùng để tái sản xuất mở rộng TSCĐ.
Nguồn vốn đầu t XDCB hình thành từ quỹ khấu hao TSCĐ có các tính chất sau:
Hình thành dần dần, tơng đối ổn định và đợc tích luỹ theo mức độ hao mòn
TSCĐ.
Nguồn vốn này có giới hạn bởi giá trị ban đầu của TSCĐ.
Chủ yếu đợc dùng để tái sản xuất giản đơn TSCĐ.
Tống sản phẩm xã hội sau khi bù đắp các t liệu sản xuất đã tiêu hao đợc gọi là thu
nhập quốc dân. Thu nhập quốc dân đợc chia ra thành quỹ tích luỹ và quỹ tiêu dùng. Quỹ
tích luỹ là nguồn vốn để tái sản xuất mở rộng, trong đó chủ yếu là tái sản xuất mở rộng
TSCĐ. ở các đơn vị, xí nghiệp thu nhập quốc đợc tạo ra dới hình thức quỹ tiền lơng và thu
nhập thuần tuý. Một phần thu nhập thuần tuý đợc để lại xí nghiệp, một phần đợc tập trung
vào ngân sách Nhà nớc dới hình thức thuế. Một phần thu nhập thuần tuý của xí nghiệp và
một phần trong số chi của ngân sách Nhà nớc đợc dùng làm nguồn vốn đầu t đầu t XDCB,
để tạo ra TSCĐ trong nền kinh tế quốc dân. Giữa TSCĐ và thu nhập quốc dân có mối quan
hệ biện chứng phụ thuộc lẫn nhau: Tăng TSCĐ sản xuất sẽ dẫn tới tăng thu nhâp quốc dân.
Tăng thu nhập quốc dân sẽ có điều kiện để tái sản xuất mơ rộng TSCĐ. TSCĐ tăng thêm
trên cơ sở tăng thêm vốn đầu t XDCB. Khối lợng vốn đầu t XDCB tăng lên khi thu nhập
quốc dân tăng lên và tăng phần tích luỹ trong thu nhập quốc dân.
Nguồn vốn đầu t XDCB đợc hình thành từ quỹ tích luỹ có các tính chất cơ bản sau:
cấu công nghệ vốn đầu t sẽ ảnh hởng tích cực đến cải tiến cơ cấu kỹ thuật của TSCĐ , bằng
việc tăng phần máy móc, thiết bị. Hiệu quả sản xuất phụ thuộc vào số lợng, chất lợng và
trình độ sử dụng các máy móc thiết bị, cho nên nâng cao tỷ trọng chi phí thiết bị, tăng bộ
phận tích cực của TSCĐ là một trong những phơng hớng quan trọng của hoàn thiện cơ cấu
vốn đầu t.
3.4/ Vốn đầu t XDCB phân theo hình thức tái sản xuất: Có bốn hình thức tái sản
xuất TSCĐ: Xây dựng mới, mở rộng, cải tạo, trang bị lại kỹ thuật các cơ sở hiện có.
Trong những giai đoạn nhất định của sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, việc
xác định tỷ lệ tối u giữa các hình thức tái sản xuất TSCĐ có ý nghĩa quan trọng. Xây dựng
mới cho phép áp dụng dễ dàng kỹ thuật mới và thay đổi sự phân bố các nghành bằng cách
bố trí các công trình xây dựng mới tại những nơi hợp lý, bảo đảm khai thác đầy đủ hơn các
tài nguyên thiên nhiên. Khi nhấn mạnh các u điểm trên, từ góc độ hiệu quả toàn bộ nền sản
xuất xã hội, xây dựng mới có những nhợc điểm nhất định: Đòi hỏi vốn đầu t lớn, phần đáng
kể vốn đầu t đợc hớng vào xây dựng nhà xởng và các công trình phục vụ, xây dựng mới là
yếu tố phát triển sản xuất theo chiều rộng, còn cải tạo, trang bị lại kỹ thuật các xí nghiệp
hiện có là yếu tố phát triển sản xuất theo chiều sâu.
Có thể đạt đợc hiệu quả đáng kể nhờ cải tạo và trang bị lại các xí nghiệp hiện có.
Điều đó gắn liền với hàng loạt các yếu tố, trớc hết là nhờ sử dụng các TSCĐ sẵn có, đặc biệt
là bộ phận nhà xởng, vật kiến trúc. Những mối liên hệ sản xuất đã đợc xác lập, với cán bộ
chuyên môn đã có và kinh nghiệm của họ sẽ góp phần tăng sản xuất sản phẩm với chi phí
vốn đầu t tơng đối ít và trong một thời gian ngắn hơn so với xây dựng các xí nghiệp mới.
Nâng cao năng lực sản xuất bằng cách cải tạo và trang bị lại các xí nghiệp hiện có, áp dụng
thiết bị kỹ thuật hiện đại hơn sẽ dẫn đến nâng cao tỷ trọng bộ phận tích cực của TSCĐ (nâng
tỷ trọng máy móc, thiết bị) và giảm thời hạn thu hồi vốn đầu t. Cải tạo và trang bị lại kỹ
thuật các xí nghiệp không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội, có tác dụng giảm
nhẹ điều kiện lao động và nâng cao trình độ công nhân.
Đối với vấn đề cơ cấu công nghệ của vốn đầu t XDCB, cùng với việc xét chọn chặt
chẽ các công trình xây dựng mới, đầu t chiều sâu và đồng bộ hoá phải đợc coi là một vấn đề
rất quan trọng trong việc hoàn thiện cơ cấu đầu t, trớc hết nhằm vào những vào những khâu
mấu chốt đem lại hiệu quả cao, tăng nhanh sản lợng và nâng cao chất lợng sản phẩm. Đồng
hoặc bằng công lao động cho các dự án đầu t, chủ yếu sử dụng vào việc xây các công trình
phúc lợi công cộng phục vụ trực tiếp cho ngời góp vốn theo điều kiện cam kết khi huy động
vốn.
Vốn đầu t của các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh: là vốn đầu t của các chủ
đầu t là các đơn vị tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế ngoài quốc doanh nh doanh
nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn công ty cổ phần dùng vào đầu t xây dựng cơ
bản, vốn này có thể là vốn tự có hoặc vốn vay.
Những nguồn vốn khác: ngoài những nguồn vốn nói trên, còn có vốn đầu t của
các cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế và các cơ quan nớc ngoài khác đợc phép xây dựng
trên nớc ta.
IV. Kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu t XDCB :
1. Kết quả của hoạt động đầu t XDCB:
Kết quả hoạt động đầu t thể hiện ở khối lợng vốn đầu t đã đợc
thực hiện, ở các tài sản cố định đợc huy động hoặc năng lực sản xuất
kinh doanh phục vụ tăng thêm.
1.1/ Khối lợng vốn đầu t thực hiện:
Khối lợng vốn đầu t thực hiện là tổng số tiền đã chi để tiến hành các hoạt động của
các công cuộc đầu t bao gồm các chi phí cho công tác chuẩn bị đầu t, xây dựng nhà cửa và
cấu trúc hạ tầng, mua sắm thiết bị máy móc, để tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và
chi phí khác theo qui định của thiết kế dự toán và đợc ghi trong dự án đầu t đợc duyệt.
1.2/ Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng
thêm:
Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối tợng xây dựng
có khả năng phát huy tác dụng độc lập (làm ra sản phẩm, hàng hoá hoặc tiến hành hoạt
động dịch vụ cho xã hội đã đợc ghi trong dự án đầu t) đã kết thúc quá trình xây dựng, mua
sắm đã làm xong thủ tục nghiệm thu sử dụng, có thể đa vào hoạt động đợc ngay.
Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất phục vụ
của các tài sản cố định đã đợc huy động vào sử dụng để sản xuất ra sản phẩm hoặc tiến hành
các hoạt động dịch vụ theo qui định đợc ghi trong dự án đầu t.
2. Hiệu quả của hoạt động đầu t XDCB:
chỉ tiêu: Hệ số hoàn vốn hay tỷ suất lợi nhuận vốn đầu t: Chỉ tiêu này nói lên
mức độ thu hồi vốn đầu t ban đầu từ lợi nhuận thuần thu đợc hàng năm.
Chỉ tiêu: Tỷ số lợi ích trên chi phí: Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ tơng đối
giữa lợi ích thu đợc và chi phí bỏ ra.
Chỉ tiêu: Thời hạn thu hồi vốn đầu t: Chỉ tiêu này thể hiện số thời gian cần thiết
để mà dự án phảI hoạt động để thu hồi đủ số vốn đầu t đã bỏ ra.
Chỉ tiêu: Hệ số hoàn vốn nội bộ-còn gọi là suất thu lợi nội tại, tỷ suất nội hoàn
vốn đầu t: Hệ số hoàn vốn nội bộ chính là mức lãI suất nếu dùng nó làm hệ số chiết khấu để
tính chuyển các khoản thu, chi của dự án về mặt bằng thời gian hiện tại thì tổng thu cân
băng tổng chi. Chỉ tiêu này là một chỉ tiêu cơ bản trong phân tích hiệu quả tàI chính dự án.
Nó cho biết mức lãI suất mà dự án có thể đạt đợc.
NgoàI ra, ở phạm vi này, việc đánh giá hiệu quả vốn đầu t còn đợc thực hiện qua
nhiều công cụ, chỉ tiêu khác nữa, ví dụ nh: Chỉ tiêu điểm hoà vốn, chỉ tiêu đánh giá độ an
toàn của dự án
ở phạm vi nền kinh tế, hiệu quả vốn đầu t XDCB đợc đánh giá thông qua các tiêu
chí cơ bản sau đây:
Nâng cao mức sông nhân dân: Đợc thể hiện gián tiếp thông qua các số liệu cụ
thể về mức gia tăng sản phẩm quốc gia, mức gia tăng thu nhập, tốc độ tăng trởng và phát
triển kinh tế.
Phân phối thu nhập và công bằng xã hội: Thể hiện qua sự đóng gốp của công
cuộc đầu t và việc phát triển các vùng kinh tế kém phát triển và đẩy mạnh công băng xã hội.
Gia tăng số lao động có việc làm: Đây là một trong những mục tiêu chủ yếu của
chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội của các nớc thừa lao động, thiếu việc làm.
Tăng thu và tiết kiệm ngoại tệ: Những nớc đang phát triển không chỉ nghèo mà
còn là nớc nhập siêu. Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu qua việc đầu t đúng h-
ớng, hợp lý là những mục tiêu quan trọng nhằm tích luỹ và tiết kiệm ngoại tệ cho quốc gia.
Một số chỉ tiêu khác phản ánh hiệu quả kinh tế-xã hội vốn đầu t XDCB: Nh tạo
điều kiện khai thác tàI nguyên hợp lý, nâng cao năng suất lao động, nâng cao trình độ lao
động, chuyển giao công nghệ tiên tiến cho công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nớc, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế-xã hội các địa phơng nghèo, các vùng mà điều kiện
nghành xây dựng và liên nghành. Đồng thời cũng thờng xuyên sửa đổi, bổ xung và hoàn
thiện hệ thống chính sách, chế độ này cho ngày càng thêm hiệu quả và phù hợp. Và thực tế,
ở một mức độ nhất định, trong lĩnh vực quản lý đầu t XDCB thời gian qua đã hình thành
một cơ chế quản lý có hệ thống. Và quá trình hoàn thiện cơ chế quản lý này không ngoàI
mục đích là ngày càng tác động một cách tích cực, hiệu quả lên hoạt động đầu t XDCB
nhằm đảm bảo cho lĩnh vực hoạt động này thực hiện đợc tốt nhất chức năng quan trọng của
mình đối với quá trình xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế-xã hội. Song xuất
phát từ đặc điểm, vai trò của lĩnh vực này, thì thực chất cơ chế quản lý đầu t xây dựng đợc
hình thành và hoàn thiện chính là nhằm vào mục đích ngày càng nâng cao hiệu quả quá
trình sử dụng vốn đầu t XDCB. Vì rằng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu t XDCB cũng
chính là cách để tạo ra và hoàn thiện cơ sở vật chất-kỹ thuật cho nền kinh tế-xã hội.
Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam
khoá VII đã ghi rõ: Đổi mới cơ chế quản lý đầu t XDCB để ngăn chặn tiêu cực, lãng phí,
thất thoát vốn đầu t nhất là các khâu thiết kế, xác định đơn giá xây dựng, nghiệm thu công
trình, sử dụng dịch vụ thẩm định chất lợng, giá cả thiết bị vật t nhập khẩu và kiểm toán của
các công ty trong và ngoàI nớc có uy tín trong lĩnh vực này. Mỗi công trình đều phảI có ng-
ời làm cụ thể; nếu là công trình phảI thu hồi vốn thì phảI thu hồi đủ và đúng hạn cho Nhà n-
ớc. Khai thác mọi khả năng tiết kiệm và tự đầu t phát triển của nhân dân, của các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế bằng mọi hình thức sao cho mọi tiềm năng đều đợc
huy động, mọi đông vốn đều đợc sinh lời . Qua đó ta có thể thấy tính chất phức tạp của
hoạt động này, tính đa nghành, tính đa diện trong quản lý cũng nh vấn đề hiệu quả vốn đầu
t XDCB luôn có tính chất thời sự. Điều này cũng thể hiện vai trò tác động quan trọng của cơ
chế quản lý đối với việc nâng cao hiệu quả vốn đầu t XDCB.
Nh vậy, cơ chế quản lý đầu t xây dựng hoạt động và đóng vai trò nh một lực tác
động tổng hợp lên quá trình đầu t XDCB, đảm bảo cho việc thực hiện đầu t xây dựng diễn ra
thuận lợi, nói cách khác một cơ chế quản lý phù hợp sẽ là tác nhân hết sức quan trọng đối
với quá trình thực hiện và vật chất hoá vốn đầu t XDCB để trở thành cơ sở vật chất-kỹ thuật
cho nền kinh tế, tức là đảm bảo hiệu quả vốn đầu t XDCB.
Chơng II:
Qúa trình chuyển biến cơ chế quản lý đầu t xây