PGS.TS. Nguyễn Xuân Trạch
BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP I HÀ NỘI
PGS.TS. NGUYỄN XUÂN TRẠCH (Chủ biên)
PGS.TS. MAI THỊ THƠM - GVC. LÊ VĂN BAN
GIÁO TRÌNH
CHĂN NUÔI TRÂU BÒ
(Dùng cho sinh viên ñại học ngành Chăn nuôi)
Hà Nội 2007
Trường ðại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình chăn nuôi trâu bò ----------------------------------- -1
PGS.TS. Nguyễn Xuân Trạch
LỜI NÓI ðẦU
Giáo trình Chăn nuôi trâu bò này nhằm cung cấp cho sinh viên ñại học ngành chăn
nuôi những kiến thức chuyên khoa về chăn nuôi trâu và bò. Phát triển chăn nuôi trâu bò, ñặc
biệt là ở nước ta, phải biết khai thác tối ña những ưu thế sinh học ñặc thù của hai loài gia súc
nhai lại này nhằm tận dụng ñược tốt nhất những tiềm năng sẵn có tại chỗ ñể ñảm bảo tính bền
vững cao cả về mặt kinh tế và môi trường sinh thái. Chăn nuôi trâu bò một cách khoa học, có
tính hệ thống và bền vững là mục tiêu chính mà giáo trình này muốn trang bị cho sinh viên.
Giáo trình xuất bản lần này có 10 chương, trong ñó sau chương mở ñầu giới thiệu
chung về ngành chăn nuôi trâu bò là hai chương hệ thống một số kiến thức ñặc thù về giống
và dinh dưỡng trâu bò. ðặc biệt, trong lần xuất bản này một chương mới về chuồng trại trâu
bò ñược ñưa vào. Các chương tiếp theo về sau ñi cụ thể hơn về các nội dung chăn nuôi
chuyên khoa liên quan ñến từng loại trâu bò gồm trâu bò sinh sản (ñực và cái giống), bê nghé,
trâu bò sữa, trâu bò thịt và trâu bò cày kéo. Cuối mỗi chương ñều có phần câu hỏi và bài tập
nhằm ñịnh hướng cho sinh viên ôn tập cũng như mở rộng tư duy.
7
III. Tình hình chăn nuôi trâu bò ở nước ta
8
IV. Sơ lược tình hình chăn nuôi trâu bò trên Thế giới
13
Chương 2: GIỐNG VÀ CÔNG TÁC GIỐNG
17
I. Các giống trâu bò nội
17
II. Một số giống trâu bò phổ biến của Thế giới
19
III. ðánh giá và chọn lọc trâu bò làm giống
22
IV. Phương pháp nhân giống trâu bò
34
85
IV. Phối hợp khẩu phần ăn cho trâu bò
94
Chương 4: CHUỒNG TRẠI TRÂU BÒ
105
I. Những yêu cầu và nguyên tắc cơ bản về chuồng trai
105
II. Các kiểu bố trí chuồng nuôi
107
III. Nguyên tắc xây dựng các chi tiết chuồng trại
109
IV. Vệ sinh chuồng trại
114
V. Các phương thức quản lý trâu bò
115
142
II. Phát hiện ñộng dục, phối giống và khám thai
156
III. Nuôi dưỡng trâu bò cái sinh sản
159
Trường ðại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình chăn nuôi trâu bò ----------------------------------- -3
PGS.TS. Nguyễn Xuân Trạch
IV. Chăm sóc trâu bò cái sinh sản
160
V. ðánh giá khả năng sinh sản của trâu bò cái
162
VI. ðiều khiển sinh sản ở trâu bò cái
165
Chương 7: CHĂN NUÔI BÊ NGHÉ
174
197
III. Sinh lý tiết sữa
200
IV. Các nhân tố ảnh hưởng ñến sản lượng sữa
203
V. Các nhân tố ảnh hưởng ñến chất lượng sữa
205
VI. Nuôi dưỡng trâu bò cái trong thời gian cho sữa
206
VII. Vắt sữa
209
VIII. Cạn sữa và nuôi dưỡng trâu bò cạn sữa
213
IX. ðánh giá và quản lý thể trạng bò sữa
216
237
Chương 10: CHĂN NUÔI TRÂU BÒ CÀY KÉO
241
I. Cơ sở khoa học của sự co cơ
241
II. ðánh giá khả năng lao tác của trâu bò
244
III. Những nhân tố ảnh hưởng ñến sức lao tác của trâu bò
247
IV. Nuôi dưỡng trâu bò cày kéo
249
V. Chăm sóc sức khoẻ cho trâu bò cày kéo
252
VI. Chọn lọc và sử dụng trâu bò cày kéo
254
súc nhai lại có khả năng biến thức ăn rẻ tiền như cây cỏ, rơm rạ thành hàng trăm thành phần
khác nhau của thịt và sữa. Mức sống càng ñược cải thiện thì nhu cầu của con người về thịt và
sữa trâu bò càng tăng lên.
1.2. Cung cấp sức kéo
Trâu bò ñược sử dụng từ lâu ñời nay vào mục ñích cung cấp sức kéo ñể làm ñất phục vụ
trồng trọt. Ngoài việc làm ñất, trâu bò còn ñược sử dụng ñể kéo xe vận chuyển hàng hoá và
các mục ñích lao tác khác như kéo gỗ, kéo nước, kéo cối xay, v.v... Lợi thế của sức kéo trâu
bò là có thể hoạt ñộng ở bất kỳ ñịa bàn nào và sử dụng tối ña nguồn thức ăn tự nhiên tại chỗ
và các phụ phẩm nông nghiệp làm nguồn cung cấp năng lượng. Trâu bò tạo ra sức kéo nhờ
năng lượng lấy từ cỏ và các phụ phẩm cây trồng, mà năng lượng trong cây cỏ (hoá năng) lại
ñược cố ñịnh trực tiếp nguồn năng lượng vô tận của mặt trời thông qua quá trình quang hợp.
Do vậy, sử dụng sức kéo của trâu bò giúp tránh ñược các cuộc khủng hoảng gây ra bởi các
nguồn năng lượng hoá thạch ñang ñược khai thác cạn kiệt dần. Thực tế với tốc ñộ tăng giá
dầu ngày càng tăng cao như hiện nay thì sức kéo của trâu bò lại trở nên có nhiều ưu thế so
với sức kéo cơ giới và việc khai thác trâu bò cày kéo sẽ có tính bền vững cao.
1.3. Cung cấp phân bón và chất ñốt
Phân trâu bò là loại phân hữu cơ có khối lượng ñáng kể. Khoảng 1/3 khối lượng vật chất
khô trâu bò ăn vào ñược thải ra ngoài dưới dạng phân. Hàng ngày mỗi trâu trưởng thành thải
ra từ 15-20 kg phân, bò trưởng thành 10-15 kg. Phân trâu bò chứa khoảng 75-80% nước, 55,5% khoáng, 10% axit photphoric, 0,1% kali, 0,2% canxi. Mặc dù chất lượng không cao như
phân lợn, nhưng nhờ có khối lượng lớn phân trâu bò ñã ñáp ứng một phần rất lớn nhu cầu
phân hữu cơ cho nền nông nghiệp hữu cơ. Hiện nay ở nhiều vùng, nhất là những vùng trồng
cà phê phân trâu bò ñược bán với giá khá cao ñể làm phân bón. Nhiều nơi người ta nuôi trâu
bò với ñích lấy phân là chính. Ngoài việc dùng làm phân bón, trên Thế giới phân trâu bò còn
ñược dùng làm chất ñốt. Tại một số nước Tây Nam Á như Ấn ðộ, Pakistan, phân ñược trộn
với rơm băm, nắm thành bánh và phơi nắng khô, dự trữ và sử dụng làm chất ñốt quanh năm.
Trường ðại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình chăn nuôi trâu bò ----------------------------------- -5
nhưng khi cho ”vay” trâu bò thì họ lại dần dần thoát ñược nghèo nhờ số bê nghé hàng năm
ñược ñẻ ra.
Ở một trình ñộ cao hơn, nếu biết ñầu tư và tổ chức hợp lý trên cơ sở khoa học thì chăn
nuôi trâu bò sẽ giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tạo ra nhiều công ăn việc làm,
tăng thu nhập trên một ñợn vị diện tích ñất ñai, tạo ñiều kiện làm giàu bền vững cho nhiều hộ
nông dân. Tuy nhiên. ñiều ñó không có nghĩa là chăn nuôi trâu bò càng thâm canh, quy mô
chăn nuôi càng lớn và càng ”hiện ñại hoá” thì mới càng có lợi về mặt kinh tế. Ý nghĩa kinh tế
có ñược khi biết sử dụng trâu bò ñể khai thác một cách bền vững nhất những nguồn lợi sẵn
có.
ðối với nhiều vùng nông thôn và miền núi trâu bò còn ñược coi như một loại tài sản cố
ñịnh, là phương tiện tích lỹ tài chính hay một ngân hàng sống ñể ñảm bảo an ninh kinh tế cho
hộ gia ñình, có thể chuyển thành tiền mặt bất cứ lúc nào gia ñình cần cho những nhu cầu lớn
như xây nhà, ma chay, cưới xin, chữa bệnh v.v... Cũng chính vì thế mà uy tín và vị thế của
một người trong thôn bản nhiều khi phụ thuộc vào số lượng trâu bò mà họ có ñược.
Bên cạnh ý nghĩa kinh tế-xã hội như trên, trâu bò ñã từng gắn bó với ñời sống văn hoá
và tâm linh của người dân nông thôn Việt Nam cũng như nhiều nước khác. Con trâu cùng với
cây tre ñã làm nên biểu tượng của làng quê ñất Việt tự lực tự cường. Các hội thi trâu, chọi
trâu, ñâm trâu, các chợ trâu bò, v.v... là những sinh hoạt mang tính văn hoá truyền thống sâu
sắc của các dân tộc Việt Nam. Mỗi người Việt Nam càng ñi xa càng nhớ về hình ảnh làng
Trường ðại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình chăn nuôi trâu bò ----------------------------------- -6
PGS.TS. Nguyễn Xuân Trạch
quê của mình và không thể không có trong ñó hình bóng của con trâu. Chính con trâu ñã góp
phần làm cho người Việt gắn bó với nhau trên một nền văn hoá và truyền thống ñậm ñà bản
sắc dân tộc.
II. ðẶC THÙ SINH HỌC VÀ SINH THÁI CỦA TRÂU BÒ
2.1. Ưu thế sinh học và ý nghĩa sinh thái của trâu bò
quả hơn gia súc dạ dày ñơn.
b. Tốc ñộ sinh sản chậm
Trâu bò là gia súc ñơn thai và có thời gian mang thai dài (trung bình trâu 320 ngày, bò
280 ngày). Chính vì vậy mà việc nhân giống trâu bò gặp nhiều khó khăn hơn so với các loại
gia súc và gia cầm khác.
c. ðòi hỏi cao về ñồng cỏ
Nguồn thức ăn chính của trâu bò là cỏ cho nên muốn chăn nuôi trâu bò phải có ñất
trồng cỏ hay bãi chăn thả tự nhiên. Mõi hecta ñồng cot thâm canh thu cắt chỉ cho phép nuôi
ñược khoảng 10 con bò sữa, còn 1 hecta ñồng cỏ chăn thả chỉ cho phép nuôi ñược 3-4 con.
Trường ðại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình chăn nuôi trâu bò ----------------------------------- -7
PGS.TS. Nguyễn Xuân Trạch
ðây là một trở ngại lớn trong ñiều kiện của những nơi có diện tích ñất nông nghiệp thấp. Mặt
khác nếu trâu bò ñược chăn thả trên ñồng cỏ thì sự dẫm ñạp của trâu bò trong quá trình chăn
thả sẽ gây ra sự xói mòn ñất, ảnh hưởng xấu ñến môi trường.
III. TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI TRÂU BÒ Ở NƯỚC TA
3.1. Tình hình chăn nuôi trâu bò thịt
Về truyền thống chăn nuôi trâu bò thịt ở nước ta thực chất là chăn nuôi bò ñịa phương
kết hợp lấy thịt với khai thác sức kéo và phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp. Ngày nay,
trong khi ñàn trâu bò cày kéo có xu hướng giảm thì chăn nuôi trâu bò theo hướng lấy thịt
ñang ngày càng phát triển mạnh hơn ñể ñáp ứng nhu cầu về thịt ngày càng tăng của nhân dân.
Bảng 1.1 cho thấy diễn biến ñàn trâu bò qua một số năm gần ñây ở nước ta.
Bảng 1.1: Số lượng ñàn trâu bò của cả nước trong những năm qua (1000 con)
Năm
2 960
4 127
2005
2 922
5 541
2007
2 990
6 720
Nguồn: FAO Statistics (2005)
Phân bố của ñàn trâu bò theo các vùng sinh thái ñược trình bày ở bảng 1.2. Khoảng
45% tổng số ñàn bò của cả nước tập trung ở các tỉnh miền trung Việt Nam, ñây là vùng cung
cấp bò cày cho vùng ñồng bằng sông Cửu Long và vùng ñồng bằng châu thổ Sông Hồng.
Khoảng 54,5% số lượng ñàn bò ñược phân bố trên 5 vùng sinh thái khác nhau của ñất nước,
là nguồn sức kéo chủ yếu của nông nghiệp cho các vùng trên. Tây Nguyên là vùng ñất rộng
lớn, có nhiều ñất ñai và ñồng cỏ phù hợp cho chăn nuôi bò nhưng tại ñây số lượng bò chỉ
chiếm khoảng 10,7% tổng số bò của cả nước và ñàn trâu rất ít.
Bảng 1.2: Phân bố ñàn trâu bò theo vùng sinh thái (năm 2004)
Vùng sinh thái
ðàn trâu (%)
ðàn bò (%)
6. Miền ðông Nam bộ
3,9
12,2
7. ðồng bằng Sông Cửu long
1,6
8,5
Tổng số
100
100
Trường ðại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình chăn nuôi trâu bò ----------------------------------- -8
PGS.TS. Nguyễn Xuân Trạch
Nguồn: Niên giám thống kê (2005)
Từ năm 1990 ñến nay, ñàn bò của nước ta phát triển với tốc ñộ tăng ñàn hàng năm trên
4%. Miền Bắc có ðồng Bằng Sông Hồng và miền Nam có ðông Nam Bộ là hai vùng có tốc
ñộ phát triển ñàn bò nhanh nhất so với các vùng sinh thái khác với tỷ lệ tương ứng là 7,61%
và 9,85%. Tuy nhiên, khoảng gần 70-75% tổng ñàn bò của cả nước hiện nay vẫn là bò vàng
ñịa phương, sinh trưởng chậm, khối lượng thấp, trung bình con ñực là 180-200 kg và bò cái
mô lớn hàng trăm con ñến 500 con như các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Phước và
Lâm ðồng. Năm 2005, cả nước có 3404 trang trại chăn nuôi bò sinh sản và bò thịt, trong ñó
miền Bắc có 1064 trại (chiếm 31,26%) và miền Nam 2340 trại (chiếm 68,74%). Tuy vậy,
việc tổ chức ngành hàng và quản lý công tác giống bò thịt của nước ta vẫn chưa có hệ thống,
chưa ñi vào quy cũ.
Nhờ mức sống của người dân ngày càng ñược nâng cao nên nhu cầu tiêu thụ thịt trâu và
thịt bò ngày càng tăng, giá thịt trâu bò cũng như giá con giống ñang tăng lên nhanh chóng.
ðiều ñó ñang thúc ñẩy và là cơ hội ñể ngành chăn nuôi trâu bò thịt trong nước phát triển.
Trường ðại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình chăn nuôi trâu bò ----------------------------------- -9
PGS.TS. Nguyễn Xuân Trạch
3.2. Tình hình chăn nuôi trâu bò sữa
Việt Nam vốn không có ngành chăn nuôi trâu bò sữa truyền thống nên không có các
giống trâu bò sữa chuyên dụng ñặc thù nào. Chăn nuôi bò sữa xuất hiện ở Việt Nam từ những
năm ñầu của thế kỷ XX, dưới thời kỳ Pháp thuộc. Trong những năm 1920-1923 người Pháp
ñã ñưa các giống bò chịu nóng như bò Red Sindhi (thường gọi là bò Sin) và bò Ongole
(thường gọi là bò Bô) vào Tân Sơn Nhất, Sài Gòn và Hà Nội ñể nuôi thử và lấy sữa phục vụ
người Pháp ở Việt Nam. Tuy nhiên số lượng bò sữa thời ñó còn ít (khoảng 300 con) và năng
xuất sữa thấp (2-3 kg/con/ngày). Từ ñó ñến nay bò Red Sindhi ñã ñược lai tạo với bò ñịa
phương hình thành nên loại bò Lai Sin kiêm dụng ñược nuôi rộng rãi trong cả nước.
Ở miền Nam, trong những năm từ 1937-1942 ñã hình thành một số trại chăn nuôi bò
sữa ở Sài Gòn-Chợ Lớn, mỗi ngày sản xuất ñược hàng nghìn lít sữa và tổng sản lượng sữa ñạt
trên 360 tấn/năm. Có 6 giống bò sữa ñã ñược nhập vào miền Nam lúc ñó là Jersey, Ongole,
Red Sindhi, Tharpara, Sahiwal và Haryana. Các giống bò nhiệt ñới này ñã ñược nuôi ở vùng
ngoại ô của Sài Gòn và các vùng lân cận. Vào những năm 1960-1968, quy mô ñàn cao nhất
ñạt 1200 con và sản lượng sữa ñạt 2000 lít/ngày. Cũng ở miền Nam trong thời kỳ ñó, Chính
phủ Australia ñã giúp ñỡ xây dựng Trung tâm bò sữa thuần Jersey tại Bến Cát với số lượng
thời năm 1987, bò Sahiwal cũng ñã ñược nhập từ Pakistan về nuôi tại Trung tâm tinh ñông
Trường ðại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình chăn nuôi trâu bò ----------------------------------- -10
PGS.TS. Nguyễn Xuân Trạch
lạnh Moncada và Nông trường bò giống miền Trung (Ninh Hoà, Khánh Hoà). Những bò Sin
và Sahiwal này ñã ñược dùng ñể tham gia chương trình Sin hoá ñàn bò Vàng Việt Nam nhằm
tạo ra ñàn bò Lai Sin làm nền cho việc gây HF khác nhau tuỳ theo thế hệ lai: F1 (1/2 HF), F2
(3/4 HF), F3 (7/8 HF) hay F2 (5/8 HF).
Trong thời gian trên Việt Nam cũng ñã nhập tinh ñông lạnh bò Jersey và Nâu Thuỵ Sĩ
dùng ñể lai với bò cái Lai Sin (LS), bò Vàng và bò cái lai F1, F2 (HF x LS). Tuy nhiên do
năng suất sữa của con lai kém xa so với bò lai với bò Holstein, hơn nữa do màu lông không
hợp với thị hiếu của người nuôi, nên việc lai tạo với bò này không có hướng phát triển thêm.
Từ năm 1986 Việt Nam bắt ñầu phong trào ðổi mới và chỉ sau 3 năm từ một nước thiếu
lương thực nước ta ñã có lương thực xuất khẩu. Kinh tế phát triển ñã tạo ra nhu cầu dùng sữa
ngày càng tăng. Do vậy, ñàn bò sữa ở TP HCM, các tỉnh phụ cận như Bình Dương, ðồng
Nai, Long An, ngoại thành Hà Nội và các tỉnh phụ cận cũng tăng nhanh về số lượng. Từ năm
1986 ñến 1999 ñàn bò sữa tăng trưởng trung bình 11%/năm. Phong trào chăn nuôi bò sữa tư
nhân ñã hình thành và tỏ ra có hiệu quả. Trước tình hình ñó Chính phủ ñã có chủ trương ñẩy
mạnh phát triển ngành sữa của Việt Nam với việc thông qua Quyết ñịnh 167/2001/Qð/TTg
về chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa trong giai ñoạn 2001-2010. Theo chủ trương này từ
năm 2001 ñến 2004 một số ñịa phương (TP Hồ Chí Minh, An Giang, Bình Dương, Thanh
Hoá, Tuyên Quang, Sơn La, Hoà Bình, Hà Nam, …) ñã nhập một số lượng khá lớn (trên 10
nghìn con) bò HF thuần từ Australia, Mỹ, New Zealand về nuôi. Một số bò Jersey cũng ñược
nhập từ Mỹ và New Zealand trong dịp này.
Bảng 1.3: Số lượng bò sữa và sản lượng sữa ở Việt Nam kể từ năm 1990
Năm
1990
SL sữa ( 1000 tấn)
13,0
16,2
27,9
52,2
215,9
234,4
9,3
197,7
Nguồn: Cục Nông nghiệp (2005), Cục Chăn nuôi (2006)
Trong tổng ñàn bò sữa trong cả nước hiện có, trên 75% tập trung ở TP Hồ Chí Minh và
các tỉnh phụ cận như ðồng Nai, Bình Dương và Long An v.v..., khoảng 20% ở các tỉnh phía
Bắc, dưới 2% ở các tỉnh miền Trung và trên 2% ở Tây Nguyên. Hiện tại, trong cơ cấu giống
ñàn bò sữa cả nước bò HF thuần chiếm khoảng 10% và bò lai chiếm khoảng 90%. Chăn nuôi
bò sữa hiện tại chủ yếu là các hộ gia ñình (95%), ngoài ra có một số ít cơ sở chăn nuôi Nhà
nước và liên doanh.
Nhìn chung, ngành chăn nuôi bò sữa phát triển mạnh từ ñầu những năm 1990 ñến 2004,
nhất là từ sau khi có Quyết ñịnh 167 nói trên (bảng 1.3). Tuy nhiên, hiện tại tổng sản lượng
sữa tươi sản xuất trong nước mới chỉ ñáp ứng ñược khoảng 20-25% lượng sữa tiêu dùng, còn
lại phải nhập khẩu từ nước ngoài. Sau một số năm phát triển quá nóng, từ năm 2005 sự phát
Bò
1990
1 938
1 421
1995
2 065
1 632
2000
1 969
1 627
2002
1 840
1 516
Nguồn: Cục Nông nghiệp (2003)
Mặc dù có sự giảm sút nhất ñịnh gần ñây về nhu cầu ñối với trâu bò cày kéo, nhưng
chắc chắn vai trò của trâu bò cày kéo ở nước ta vẫn quan trọng về lâu về dài nhờ những lợi
trên thế giới mấy thập kỷ qua. Trâu chủ yếu tập trung ở các nước nhiệt ñới châu Á với số
lượng không ngừng tăng. Mười nước có số lượng trâu lớn nhất Thế giới gồm: Ấn ðộ
(93.772.000 con), Pakistan (22.700.000 con), Trung Quốc (22.598.620 con), Nepal
(3.500.000 con), Aicập (3.200.000 con), Philippin (3.018.000 con), Việt Nam (2.897.000
con), Indonesia (2.859.000 con), Myanmar (2.441.240 con), và Thái Lan (2.100.000 con).
Bảng 1.5: Số lượng và phân bố ñàn trâu trên Thế giới (1000 con)
Năm
1965
1975
1985
1995
2000
2005
Châu Phi
1 617
2 204
2 429
2 800
306
Bắc và Trung Mỹ
5
7
8
5
6
6
Nam Mỹ
82
267
882
1 651
1 150
1 095
ðàn bò có xu hướng ổn ñinh về số lượng ñầu con và phân bố khá ñều ở khắp Thế giới
(bảng 1.6). Những nước có số lượng bò sữa nhiều nhất (năm 2001) gồm: Ấn ðộ (35,9 triệu
con), Brazil (16,0 triệu con), Nga (12,5 triệu con), Mỹ (9,1 triệu con), Mexico (6.8 triệu con),
Ukraina (5,4 triệu con), ðức (4,6 triệu con), Pháp (4,4 triệu con), Việt Nam (4,3 triệu con),
Newzealand (3,3 triệu con), Ba lan (3,0 triệu con).
Bảng 1.6: Số lượng và phân bố bò trên Thế giới (triệu con)
Năm
1965
1975
1985
1995
2000
2005
Châu Phi
133,8
155,7
175,4
192,7
131,2
Bắc và Trung Mỹ
157,9
190,0
173,9
165,7
160,19
163,9
Nam Mỹ
158,0
211,9
250,6
294,5
297,8
342,0
4.2. Tình hình chăn nuôi trâu bò thịt chuyên dụng
Ngành chăn nuôi bò thịt chuyên dụng ñã phát triển trên thế giới từ ñầu thế kỷ thứ 18.
Hiện nay, ở các nước phát triển chăn nuôi bò thịt chủ yếu dựa vào các hệ thống thâm canh
nuôi bò non (6-30 tháng tuổi) và vỗ béo bằng các khẩu phần cao năng lượng. Trong khi ñó,
chăn nuôi bò thịt ở các nước ñang phát triển, trừ Achentina, Brazil và Mehico, chủ yếu là các
hệ thống chăn nuôi quảng canh. Bảng 1.7 cho thấy lượng thịt bò sản xuất trên thế giới trong
mấy thập kỷ gần ñây. Những nước sản xuất nhiều thịt bò nhất thế giới (năm 2002) gồm Mỹ
Trường ðại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình chăn nuôi trâu bò ----------------------------------- -13
PGS.TS. Nguyễn Xuân Trạch
(24%), khối EU (15%), Brazil (14%), Trung Quốc (12%), Australia và New Zealand (5%),
tất các nước còn lại sản xuất 30% sản lượng thịt bò của Thế giới. Các nước xuất khẩu thịt bò
chủ yếu là Mỹ (26%), Australia (21%), Brazil và Achentina (13%), Canada (9%), các nước
EU (7%), New Zealand (7%), và Ấn ðộ (4%).
Bảng 1.7: Lượng thịt bò sản xuất trên Thế giới (triệu tấn)
Năm
1965
1975
1985
1995
2000
2003
7,0
10,2
11,1
9,5
8,8
8,7
13,5
13,5
14,5
15,5
15,1
Bắc
Mỹ
và
Trung 10,7
33,0
45,2
51,3
57,0
59,8
62,1
Nguồn: FAO Statistics (2004)
Nhu cầu tiêu thụ thịt bò của thế giới tăng nhanh hơn khả năng sản xuất nên giá thịt bò
tăng lên với tốc ñộ rất cao. Thị hiếu tiêu thụ thịt bò phụ phụ thuộc vào từng nước, cho nên
người sản xuất cũng chọn giống và nuôi dưỡng ñịnh hướng theo yêu cầu về chất lượng thịt
của từng thị trường cụ thể. Người tiêu dùng châu Âu và Australia ưa thịt bò mềm, màu ñỏ
nhạt, ít mùi bò, nên thường sử dụng thịt của bò giết lúc ít tuổi (15-18 tháng) có khối lượng
khoảng 250-350kg. Trái lại, người tiêu dùng ở Nhật và một số nước châu Á lại ưa chuộng thịt
bò có mỡ giắt (có vân) và dậy mùi bò nên thường ñược giết muộn hơn (2-4 tuổi) và ở khối
lượng lớn hơn (500kg).
4.3. Tình hình chăn nuôi trâu bò sữa trên Thế giới
Trong hầu hết thiên niên kỷ thứ hai sau Công nguyên, sữa chỉ ñược sản xuất cho tiêu
thụ trong gia ñình ở các làng quê và một số bò ñược nuôi trong các thành phố ñể cung cấp
sữa tươi cho nhu cầu tiêu thụ của dân cư ñô thị. Chỉ sau khi có sự ra ñời của ngành ñường sắt
thì chăn nuôi bò sữa mới phát triển mạnh ở các vùng ñược công nghiệp hoá. Tổng sản lượng
sữa tiêu thu thụ trên toàn thế giới không ngừng tăng lên trong những thập kỷ gần ñây (bảng
1.8).
Các nước phát triển có tống lượng sữa tiêu thụ cũng như lượng sữa tiêu thụ bình quân
14,1
18,5
22,2
27,2
28,7
Châu Á
45,0
58,1
89,1
128,5
159,2
172,4
Châu Âu
136,5
156,7
22,6
27,4
40,4
44,9
46,5
Châu ðại dương
13,0
12,9
14,2
17,8
23,5
25,1
Toàn Thế giới
364,6
424,6
Nhật bản
8.548
Argentina
3.918
Mỹ
8.227
Trung quốc
3.688
Thuỵ ñiển
7.857
Nga
2.568
Hà lan
7.860
Pê ru
PGS.TS. Nguyễn Xuân Trạch
hàng triệu gia ñình mà còn ñóng góp vào các hệ thống sản xuất ñược chấp nhận cả về mặt xã
hội lẫn sinh thái. Tuy nhiên, cho ñến nay không thể thống kê chính xác số lượng trâu bò cày
kéo trên thế giới. Theo ước tính hiện có khoảng 250 triệu gia súc lao tác thuộc các loài khác
nhau, trong ñó chủ yếu là trâu bò. Trâu bò ở rất nhiều nơi trên thế giới ñược dùng kiêm dụng
kết hợp cày kéo với sinh sản, khai thác thịt hay sữa.
Bò là loại gia súc có số lượng ñược sử dụng lao tác nhiều nhất. Các nước thường sử
dụng bò cày kép phổ biến là Ấn ðộ, Băng-la-ñét, Nê-pan, các nước vùng Trung ðông, một
phần ðông Nam Á, Trung Quốc, Châu Phi và Mỹ La-tinh. Trâu ñầm lầy là loài gia súc lao
tác phổ biến thứ hai. Chúng ñược dùng nhiểu ở những vùng ẩm ướt như ðông và Nam Á
(Việt Nam, Thái Lan, Ma-lai-xia, In-ñô-nê-xia, Phi-lip-pin, Sri Lanka, Ấn ðộ, Trung Quốc).
Về mặt sinh thái, trâu không thể phát triển ñược ở những vùng bán sa mạc nhưng lại rất thích
hợp cho vùng ñồng trũng thuộc các nước nhiệt ñới.
Hiện nay, mặc dù nhiều nước ñã cơ giới hoá nền nông nghiệp, nhưng phần lớn các nước
ñang phát triển vẫn dùng sức kéo gia súc ñể làm ñất và vận chuyển hàng hoá. Ước tính có
khoảng 20% dân số thế giới dùng sức kéo gia súc ñể vận chuyển hàng hoá. Xe hai bánh và xe
quệt do súc vật kéo ñược người ta dùng cho những nơi ñường sá không thích hợp cho xe cơ
giới. Gia súc còn ñược dùng ñể kéo gỗ, kéo nước, kẹo mía, kéo cối xay, v.v.
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
1. Phân tích vai trò và ý nghĩa của ngành chăn nuôi trâu bò.
2. Nêu những ưu thế sinh học ñặc thù của trâu bò? Ý nghĩa sinh thái và kính tế của những ưu thế
ñó trong phát triển bền vững.
3. Những hạn chế của trâu bò trong việc phát triển sản xuất bền vững.
4. ðánh giá tình hình và triển vọng phát triển chăn nuôi trâu bò thịt ở nước ta.
5. ðánh giá tình hình và triển vọng phát triển chăn nuôi trâu bò sữa ở nước ta.
6. Phân tích tình hình và xu hướng chăn nuôi trâu bò cày kéo ở nước ta .
7. Phân tích những câu tục ngữ, ca dao, dân ca nói lên tầm quan trọng của trâu bò cày kéo ñối
với nhà nông.
Hình 2.1: Trâu Việt Nam
cánh cung, hướng về phía sau và hơi vểnh lên
trên. Cổ con ñực to tròn, con cái nhỏ và hẹp,
không có yếm. U vai không có. Lưng thẳng, mông xuôi, ngực nở. ðuôi dài ñến khoeo, tận
cùng có chòm lông. ða số có lông da màu ñen xám; dưới hầu và trước ức có khoang lông
màu trắng. Có một số trâu (5-10%) có lông da màu trắng (trâu bạc).
Tầm vóc trâu khá lớn: khối lượng sơ sinh 28-30kg, trưởng thành 400-450 kg ñối với
con cái, 450-500 kg ñối với con ñực. Tỉ lệ thịt xẻ 48%. Nếu giết thịt sớm chất lượng thịt trâu
non cũng gần với thịt bò. Khả năng sinh sản của trâu nói chung kém. ðộng dục biểu hiện
không rõ và mang tính mùa vụ. Thông thường trâu cái ñẻ 3 năm 2 lứa. Sức sản xuất sữa thấp,
chỉ ñủ cho con bú (500-700kg/5-7 tháng), nhưng tỷ lệ mỡ sữa rất cao (9-12%). Trâu Việt
Nam có khả năng lao tác tốt. Sức kéo trung bình khoảng 600-800 N. Có khả năng làm việc
tốt ở những chân ñất năng hay lầy thụt.
Trâu chịu ñựng kham khổ rất tốt, khả năng chống bệnh tật cao, thích nghi tốt ñược với
khí hậu nóng ẩm.
1.2. Bò Vàng Việt Nam
Bò nội ở nước ta (hình 2.2) ñược phân bố rộng và thường ñược gọi theo tên ñịa phương
như bò Thanh Hoá, bò Nghệ An, bò Lạng Sơn, bò Phú Yên, v.v. Mặc dù có sự khác nhau
nhất ñịnh về một vài ñặc ñiểm màu lông và thể vóc, nhưng chưa có cơ sở nào ñể khảng ñịnh
ñó là những giống bò khác nhau, cho nên có thể gọi chung các loại bò nội của ta là bò Vàng
Việt Nam. Bò nội thường có sắc lông màu vàng, vàng nhạt hoặc vàng cánh dán và không có
thiên hướng sản xuất rõ rệt .
Trường ðại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình chăn nuôi trâu bò ----------------------------------- -17
PGS.TS. Nguyễn Xuân Trạch
Ngoại hình bò Vàng cân xứng. ðầu con
cái ñầu thanh, sừng ngắn; con ñực ñầu to, sừng
mông dốc. Bầu vú khá phát triển. ðuôi dài, chót
ñuôi thường không có xương. Màu lông thường là
vàng hoặc sẫm, một số ít con có vá trắng.
Hình 2.3: Bò Lai Sin
Thể vóc lớn hơn bò Vàng: khối lượng sơ sinh 17-19kg, trưởng thành 250-350kg ñối với
con cái, 400-450 kg ñối với con ñực. Có thể phối giống lần ñầu lúc 18-24 tháng tuổi. Khoảng
cách lúa ñẻ khoảng 15 tháng. Năng suất sữa khoảng 1200-1400kg/240-270ngày, mỡ sữa: 55,5%. Có thể dùng làm nền ñể lai với bò sữa tạo ra các con lai cho sữa tốt. Tỉ lệ thịt xẻ 4849% (bò thiến). Có thể dùng làm nền ñể lai với bò ñực chuyên dụng thịt thành bò lai hướng
thịt. Bò này có khả năng cày kéo tốt: sức kéo trung bình 560-600N, tối ña: cái 1300-2500N,
ñực 2000-3000N.
Bò lai Sin chịu ñựng kham khổ tốt, khả năng chống bệnh tật cao, thích nghi tốt ñược
với khí hậu nóng ẩm.
Trường ðại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình chăn nuôi trâu bò ----------------------------------- -18
PGS.TS. Nguyễn Xuân Trạch
II. MỘT SỐ GIỐNG TRÂU BÒ PHỔ BIẾN CỦA THẾ GIỚI
2.1. Các giống bò kiêm dụng
a. Bò Sin (Red Sindhi)
Bò Sin (hình 2.4) là một giống bò có nguồn gốc từ vùng Sindhi (Pakistan). Vùng này có
nhiệt ñộ rất cao về mùa hè, ban ngaỳ có thể lên tới 40-50oC. Bò Sin là một giống bò kiêm
dụng sữa-thịt-lao tác, thường ñược nuôi theo phương thức chăn thả tự do.
Bò có màu lông dỏ cánh dán hay nâu
thẫm. Bò này có thân hình ngắn, chân cao,
mình lép, tai to và rũ xuống, có yếm và nếp gấp
da dưới rốn rất phát triển. ðây là một ñặc ñiểm
tốt giúp bò này thích nghi với ñiều kiện khí hậu
Sindhi nhưng bầu vú phát triển hơn. Khi trưởng thành, bò cái có khối lượng 360-380kg, bò
ñực 470-500kg. Sản lượng sữa khoảng 2100-2300kg/ chu kỳ 9 tháng. Tỷ lệ mỡ sữa 5-5,5%.
Cũng giống như bò Red Sindhi, bò Sahiwal ñược nhiều nước nhiệt ñới dùng ñể cải tạo
các giống bò ñịa phương hoặc lai với các giống bò chuyên dụng sữa ñể tạo bò sữa nhiệt ñới.
Năm 1987 Việt Nam ñã nhập 21 bò Sahiwal trong ñó có 5 bò ñực giống từ Pakistan về nuôi
tại Trung tâm tinh ñông lạnh Moncada và Nông trường bò giống miền Trung (Ninh Hoà,
Khánh Hoà) ñể tham gia cải tiến ñàn bò nội.
c. Bò nâu Thuỵ Sĩ (Brown Swiss)
Bò nâu Thuỵ Sĩ (hình 2.6) ñược tạo thành ở vùng núi Anpơ của Thuỵ Sĩ do nhân thuần
từ bò ñịa phương theo hướng kiêm dụng sữa-thịt. Giống bò này có tính bảo thủ di truyền cao
về ngoại hình và sức sản xuất sữa.
Bò nâu Thuỵ Sĩ có màu nâu, một số ít màu
sáng ñậm hay nâu xám. ðầu ngắn, trán dài và rộng,
mồm rộng, sừng ngắn, cong, gốc sừng trắng. Thân
hình dài, ngực nở, sâu, rộng, sườn bụng thon. Bốn
chân chắc chắn khoẻ mạnh, tư thế vững vàng,
móng ñen.
ðây là giống bò có tầm vóc lớn, có khả năng
tăng trọng nhanh, phẩm chất thịt ngon. Thể trọng
lúc sơ sinh khoảng 31-37kg, khối lượng trưởng
thành của bò cái 650-700kg, bò ñực 800-950. Tỷ lệ
thịt xẻ 59-60%. Năng suất sữa bình quân 35004000kg/chu kỳ, tỷ lệ mỡ sữa 3,5-4%.
Hình 2.6: Bò Nâu Thuỵ Sĩ
Bò nâu Thuỵ Sĩ có khả năng thích nghi với vùng núi cao. Năm 1972 nước ta ñã nhập
giống bò này từ Cu Ba (49 bò ñực giống) về nuôi tại Trung tâm Môncaña ñể sản xuất tinh
ñông lạnh phục vụ công tác cải tạo ñàn bò Vàng theo hướng cho sữa và cho thịt. Qua theo dõi
cho thấy bò này có sức chịu ñựng, chống ñỡ bệnh, chịu nóng khá hơn bò Holstein. Tuy nhiên
a. Bò Holstein Friesian
Bò Holstein Friesian (HF), ở nước ta thường ñược gọi là bò sữa Hà Lan (hình 2.8), là
giống bò chuyên sữa nổi tiếng thế giới ñược tạo ra từ thế kỷ thứ XIV ở tỉnh Fulixon của Hà
Lan, là nơi có khí hậu ôn hoà, mùa hè kéo dài và ñồng cỏ rất phát triển. Bò HF không ngừng
ñược cải thiện về phẩm chất, năng suất và hiện nay ñược phân bố rộng rãi trên toàn thế giới
nhờ có khả năng cho sữa cao và cải tạo các giống bò khác theo hướng sữa rất tốt. Cũng chính
vì vậy mà các nước thường dùng bò HF thuần ñể lai tạo với bò ñịa phương tạo ra giống bò
sữa lang trắng ñen của nước mình và mang những tên khác nhau
Bò HF có 3 ñạng màu lông chính là lang trắng ñen (chiếm ưu thế), lang trắng ñỏ (ít), và
toàn thân ñen riêng ñỉnh trán và chót ñuôi trắng. Các ñiểm trắng ñặc trưng là ñiểm trắng ở
trán, vai có vệt trắng kéo xuống bụng, 4 chân và chót ñuôi trắng.
Về hình dáng, bò HF có thấn dạng hình nêm ñặc trưng của bò sữa. ðầu con cái dài, nhỏ,
thanh; ñầu con ñực thô. Sừng nhỏ, ngắn, chỉa về phía trước. Trán phẳng hoặc hơi lõm. Cổ
thanh, dài vừa phải, không có yếm. Vai-lưng-hông-mông thẳng hàng. Bốn chân thẳng, ñẹp, hai
chân sau doãng. Bầu vú rất phát triển; tĩnh mạch vú ngoằn ngoèo, nổi rõ.
Tầm vóc bò HF khá lớn: khối lượng sơ sinh khoảng 35-45 kg, trưởng thành 450750kg/cái, 750-1100kg/ñực. Bò này thành thục sớm, có thể phối giống lúc 15-20 tháng tuổi.
Khoảng cách lứa ñẻ khoảng 12-13 tháng.
Năng suất sữa trung bình khoảng 5000-8000 kg/chu kỳ (10 tháng), tỷ lệ mỡ sữa thấp,
bình quân 3,3-3,6 %. Năng suất sữa biến ñộng nhiều tuỳ theo ñiều kiện nuôi dưỡng và thời
tiết khía hậu, cũng như kết quả chọn lọc của từng nước.
Bò HF chịu nóng và chịu ñựng kham khổ kém, dễ cảm nhiễm bệnh tật, ñặc biệt là các
bệnh ký sinh trùng ñường máu và bệnh sản khoa. Bò HF chỉ nuôi thuần tốt ở những nới có
khí hậu mát mẻ, nhiệt ñộ bình quân năm dưới 21oC. Nhằm phát triển ngành chăn nuôi bò sữa,
nước ta ñã nhập nhiều bò HF từ một số nước như Cu Ba, Australia, Mỹ… nhằm cả mục ñích
nhân thuần và lai tạo. kết quả chăn nuôi cho thây giống bò này có thể thích nghi ñược tại một
số vùng cao nguyên mát mẻ như Mộc Châu, Lâm ðồng.
b. Bò Jersey
Bò Jersey (hình 2.9) là giống bò sữa của
Anh, ñược tạo ra từ gần ba trăm năm trước trên
ñảo Jersey là nơi có khí hậu ôn hoà, ñồng cỏ phát
nhằm tạo ra bò lai hướng sữa thích nghi với khí hậu nhiệt ñới. Tuy nhiên, cũng như bò HF,
trong ñiều kiện nhiệt ñới năng suất sữa của bò Jersey nuôi thuần cũng bị giảm sút rõ rệt.
Việt Nam ñã nhập tinh ñông lạnh bò Jersey ñể lai với bò cái Lai Sin (LS), bò Vàng và
bò cái lai F1, F2 (HF X LS). Tuy nhiên do năng suất sữa của con lai kém so với bò lai với bò
Holstein, hơn nữa do màu lông không hợp với thị hiếu của người nuôi. Gần ñây bò Jersey
cũng ñược nhập vào ñể nuôi thuần chủng. Tuy nhiên ñến nay chưa có ñủ kết quả ñể kết luận
về khả năng nuôi thích nghi loại bò này ở Việt Nam.
2.3. Các giống bò thịt
a. Bò Brahman
Bò Brahman (hình 2.10) là giống bò thịt nhiệt ñới ñược tạo ra ở Mỹ bằng cách lai 4
giống bò Zebu với nhau. Bò Brahman có màu
lông trắng gio hoặc ñỏ. Khi trưởng thành bò ñực
nặng khoảng 680-900kg, bò cái nặng 450-630kg.
Lúc 1 năm tuổi con ñực năng khoảng 375kg, con
cái nặng 260kg. Tăng trọng của bê ñực từ 6-12
tháng tuổi khoảng 900-1000g/ngày. Tỷ lệ thịt xẻ
khoảng 52-58%.
Việt Nam ñã nhập bò Brahman từ
Australia ñể nhân thuần và cho lai với bò cái Lai
Sin ñể tạo con lai hướng thịt.
Hình 2.10: Bò Brahman
b. Bò Drought Master
Bò Drought Master (hình 2.11) là một giống
bò thịt nhiệt ñới ñược tạo ra ở Australia bằng cách
lai giữa bò Shorthorn với bò Brahman. Bò có màu
lông ñỏ. Lúc trưởng thành bò ñực nặng 820-1000kg,
bò cái nặng 550-680kg. Lúc 1 năm tuổi con ñực
Hình 2.12: Bò Hereford
Bò cái trưởng thành nặng 750-800kg, bò ñực 1000-1200kg. Nếu nuôi dưỡng tốt bê ñực
1 năm tuổi nặng 520kg, bê cái 364kg. Bê 6-12 tháng tuổi tăng trọng 1300-1500g/ngày. Tỷ lệ
thịt xẻ lúc 14-16 tháng tuổi ñạt 67-68%. Chất lượng thịt tốt, thịt ngon, mềm, thường có lớp
mỡ kẻ giữa lớp cơ bắp.
Việt Nam ñã nhập tinh ñông lạnh bò giống Hereford cho lai với bò cái Lai Sin ñể thăm
dò khả năng cho thịt của con lai.
d. Bò Charolais
Bò Charolais (hình 2.13) là giống bò chuyên
dụng thịt của Pháp, ñược hình thành ở vùng
Charolais. Bò có sắc lông màu trắng ánh kem.
Ngoại hình phát triển cân ñối. Thân rộng, mình
dày, mông không dốc. ðùi phát triển.
Khi trưởng thành bò ñực có khối lượng 10001400kg, bò cái 700-900kg. Nếu nuôi tốt, lúc 12
tháng tuổi bê ñực ñạt 450-540kg, bê cái 380kg.
Trong giai ñoạn 6-12 tháng tuổi bê có thể tăng
trọng 1450-1550g/ngày. Giết thịt lúc 14-16 tháng
tuổi, tỷ lệ thịt xẻ 65-69%.
Hình 2.13: Bò Charolais
Bò Charolais ñược nuôi ở nhiều nước, không
chỉ ñể nhân thuần mà còn ñể lai tạo với các giống bò thịt khác nhằm tăng khả năng cho thịt.
Nước ta cũng ñã nhập bò giống và tinh ñông lạnh bò Charolais ñể cho lai với bò cái Lai Sin
nhằm tạo bò lai hướng thịt.
e. Bò Lymousin
g. Bò Aberdine Angus
Bò Arberdin Angus (hình 2.16) là giống bò
chuyên dụng thịt ñược tạo ra ở vùng ñông bắc
Scotland. Bò có màu lông ñen hoặc ñỏ sẫm. Có thể
có ñốm trắng dưới bụng, bầu vú, bao tinh hoàn. Bò
không có sừng, chân thấp. Thân hình vạm vỡ, ñặc
trưng cho bò hướng thịt.
Khi trưởng thành khối lượng bò ñực 10001300kg, bò cái 650-800kg. Nuôi dưỡng tốt bề ñực
nặng trung bình 540kg, bê cái 380kg lúc 1 năm tuổi.
Bê 6-12 tháng tuổi có tăng trong 1300-1400g/ngày.
Bê ñực nuôi tốt giết thịt lúc 14-16 tháng tuổi có tỷ lệ
thịt xẻ 68-69%.
Hình 2.16: Bò Aberdine Angus
i. Bò Santa Gertrudis
Bò Santa Gertrudis (hình 2.17) là giống bò chuyên dụng thịt ñược tạo ra ở vùng Santa
Gertrudis thuộc bang Taxas của Mỹ là nơi có khí hậu khác nghiệt, nóng và khô (nhiệt ñới). Bò
ñược tạo ra do lai giữa bò Shorthorn và bò Brahman với tỷ lệ máu bò Brahman 3/8 và bò
Shorthorn 5/8.
Bò có màu lông ñỏ sẫm. Kết cấu ngoại hình
vững chắc. Ngực sâu, có yếm to, dày, nhiều nếp gấp.
Lưng thẳng, phẳng. Da mỏng, lông mịn.
Khi trưởng thành bò ñực có khối lượng 850900kg, bò cái 630-720kg. Nuôi tốt bê ñực 12 tháng
tuổi nặng 480kg, bê cái 335kg. Bê 6-12 tháng tuổi
Hình 1.17: Bò Santa Gertrudis 24
Trường ðại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò---------------------------------------------
III. ðÁNH GIÁ VÀ CHỌN LỌC TRÂU BÒ LÀM GIỐNG
3.1. Các tính trạng chọn lọc cơ bản của trâu bò
Các tính trạng của trâu bò không phải có giá trị như nhau. Tuỳ theo mục ñích chọn
giống người ta mong muốn con giống có ñược một số tính trạng ñạt ñược những yêu cầu nhất
ñịnh. Các tính trạng cơ bản của trâu bò thường ñược quan tâm là:
- ðối với trâu bò sữa: sản lượng sữa, hàm lượng mỡ, protein và vật chất khô trong sữa,
thể trọng, kích thước và hình dạng bầu vú, hệ số ổn ñịnh của chu kỳ sữa, tốc ñộ thải sữa, hiệu
quả sử dụng thức ăn, khả năng sinh sản, thời gian sử dụng, khả năng kháng bệnh, các ñặc
trưng cơ bản về ngoại hình thể chất, v.v.
- ðối với trâu bò thịt: thể trọng, tỷ lệ thịt xẻ, tăng trọng hàng ngày, khối lượng mô cơ,
các chỉ tiêu về chất lượng thịt (thành phần hoá học,nhiệt năng, tỷ lệ cơ, mỡ, xương, mô liên
kết trong thân thịt). Bên cạnh ñó các chỉ tiêu về sinh sản, tính dễ ñẻ, tập tính nuôi con và sức
sản xuất sữa cũng có ý nghĩa quan trọng.
Trong thực tế việc chọn lọc với tất cả các tính trạng như vậy không thể thực hiện ñược.
Trong ñàn gia súc khó mà tìm ñược một cá thể nào thoả mãn ñược yêu cầu của nhà chọn
giống về tất cả các tính trạng. Vì vậy số lượng các tính trạng ñưa vào chọn lọc sẽ có ảnh
hưởng lớn ñến kết quả chọn lọc. Số lượng tính trạng sử dụng khi chọn lọc càng nhiều thì hiệu
ứng chọn lọc ñối với từng tính trạng riêng biệt càng thấp. Ngược lại, chọn lọc theo một tính
trạng thì có thể thu ñược kết quả tốt về tính trạng ñó trong một thời gian ngắn. Như vậy khi số
lượng các tính trạng ñược sử dụng càng nhiều thì việc chọn lọc theo từng tính trạng riêng
càng phức tạp và khó khăn. Cho nên về lý thuyết và thực hành chọn giống trâu bò cần phải
biết ñược mức ñộ tương quan di truyền giữa các tính trạng ñể có thể xác ñịnh ñược ảnh hưởng
Trường ðại học Nông nghiệp 1 – Giáo trình Chăn nuôi Trâu Bò---------------------------------------------
25